Posts Tagged ‘Nhân Văn Giai Phẩm’

Cung Trầm Tưởng

Từ nhiều năm nay, ở hải ngoại người ta đã viết khá nhiều về sự kiện Nhân Văn Giai Phẩm và nhân vật Nguyễn Ái Quốc.

Công chúng nhờ đó có được một sự hiểu biết phong phú, đa nguyên, bổ ích. Tuy nhiên, theo chúng tôi, đó mới chỉ là một cái nhìn cục bộ, tản mạn, rời rạc, không được hệ thống hóa, thiếu chuyên sâu và tính nhất lãm. Tầm nhìn bị hạn chế trong khuôn khổ những bài viết có những khảo hướng khác nhau, nên thiếu bề dầy, tính keo sơn và sự thống nhất tư tưởng của một quyển sách viết nên bởi một tác giả.

Sự khiếm khuyết này của tri thức, và học thuật, nay được bổ sung với sự ra đời của cuốn biên khảo Nhân Văn Giai Phẩm Và Vấn Đề Nguyễn Ái Quốc của nhà nữ phê bình văn học tên tuổi Thụy Khuê.
(more…)

Lê Hoài Nguyên


Trương Tửu (1913 – 1999)

Cuối 1954, hòa bình được lập lại sau chín năm chiến tranh. Trương Tửu cùng các đồng nghiệp trở về Hà Nội tiếp quản Đại học Hà Nội. Trước thời điểm này, năm 1953 ông đã được bổ nhiệm làm Giáo sư ở Trường Dự bị đại học tại Thanh Hóa. Năm 1956, Ông được phong hàm Giáo sư cấp II giảng dạy về Lý luận văn học và Lịch sử văn học Việt Nam hiện đại ở Đại học Văn Khoa và sau là Đại học Tổng hợp và Đại học Sư phạm Hà Nội.

Bối cảnh lịch sử Việt Nam 1954-1955 hết sức phức tạp. Hai chế độ cùng tồn tại trên hai miền lãnh thổ nhưng còn đan xen vào nhau. Về hình thức thì hòa hoãn, hợp tác việc thi hành Hiệp định Giơ ne vơ, chuyển giao quản lý lãnh thổ, tập kết người từ Nam ra Bắc, di cư người từ Bắc vào Nam theo điều khoản tự nguyện cư trú của hiệp định dưới sự giám sát của Ủy ban quốc tế. Tại miền Bắc, chế độ xã hội mới được thiết lập nhưng tại Hà Nội và các đô thị buổi đầu cuộc sống vẫn giữ hình thái sinh hoạt theo Hiến pháp nước VNDCCH 1946, tự do tư tưởng ít nhiều được bảo đảm đối với trí thức và các hoạt động truyền thông, xuất bản, văn nghệ… Tuy nhiên sự áp dụng mô hình quản lý của chế độ mới như đăng ký hộ khẩu, cải tạo tư sản, mậu dịch và sự thiếu thốn hàng hóa, lương thực, thực phẩm đã gây ra tâm lý căng thẳng trong dân chúng, cả cán bộ, bộ đội… Trong cán bộ, bộ đội mà sau này một bộ phận đáng kể bị tác động bởi luồng gió cải cách dân chủ từ Liên Xô, Trung Quốc đang tìm cách thoát khỏi bế tắc tư tưởng do áp lực của chủ nghĩa Mao đang tăng dần lên từ giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến. Hết chỉnh huấn thì cuộc Cải cách ruộng đất đợt 5 lại được triển khai làm cho tâm lý người dân và xã hội càng căng thẳng. Trong những chuyển biến xã hội đáng chú ý nhất là bộ phận trí thức, văn nghệ sĩ nhạy cảm đang hy vọng có sự đổi mới cho việc xây dựng một hình thái xã hội (dân chủ cộng hòa trong thời bình) cởi mở thoải mái hơn về tư tưởng, về sáng tạo văn nghệ…
(more…)

Tưởng Năng Tiến

Trong một xã hội đã kéo dài hơn nửa thế kỷ về sự mê muội dân trí, về sự độc tài về chính trị, sự lừa dối, sự đầu độc để có sự đồng thuận về vụ NVGP và các nhân vật của nó thật khó như đáy bể mò kim… Nhưng trong đêm tối không phải không có những người đã nhìn thấy ánh sáng của chân lý.” (Lê Hoài Nguyên)
(more…)

Thụy Khuê


Nguyễn Mạnh Tường (1909-1997)

Trong phần hai của tiểu thuyết Une voix dans la nuit (Tiếng vọng trong đêm), Nguyễn Mạnh Tường dùng hình thức đối thoại để mô tả cuộc chiến một mất một còn giữa người cộng sản và người trí thức, qua các cuộc nói chuyện tay đôi giữa Năng và Tổng Bí Thư; giữa Hiên và Đắc; giữa luật sư Mạn và bác sĩ Xuân. Người đọc tinh ý sẽ nhận ra Hiên và Mạn là hình ảnh Nguyễn Mạnh Tường, Đắc là Nguyễn Hữu Đang, người đến mời Nguyễn Mạnh Tường tham gia phong trào NVGP, và Xuân chính là bác sĩ Nguyễn Xuân Nguyên, người được chánh án Châu (Đặng Châu Tuệ) mời vào đảng Xã Hội cùng một lúc với Nguyễn Mạnh Tường. Tổng Bí Thư xuất hiện hai lần trong tiểu thuyết, lần đầu sau khi hoàn tất chiến dịch Cải cách ruộng đất [trên thực tế, trước tháng 10/1956, Trường Chinh làm Tổng Bí Thư, từ tháng 10/1956 đến tháng 9/1960, Hồ Chí Minh làm Chủ Tịch kiêm Tổng Bí Thư] và lần thứ nhì, khi Đảng quyết định làm đám ma cho hai đảng Xã hội và Dân chủ [1] lúc đó Nguyễn Văn Linh làm Tổng Bí Thư.
(more…)

Thụy Khuê


Nguyễn Mạnh Tường (1909-1997)

Trong buổi nói chuyện trên RFI tháng 9/1995, trả lời câu hỏi: Từ sự đoàn kết dân tộc thời toàn quốc kháng chiến 1946, đến thời kỳ phân hoá chia rẽ dân tộc chỉ có 10 năm. Tại sao? Nguyễn Hữu Đang giải thích:

“Có thể hiểu việc đó như thế này: Ngay trong cương lĩnh của đảng Cộng sản Đông Dương cũng ghi rõ là làm Cách mạng để tiến tới Cách mạng xã hội chủ nghĩa. Cho nên 10 năm sau, nhất định nước Việt Nam phải tiến lên Chủ nghĩa xã hội và muốn tiến lên Chủ nghĩa xã hội thì phải tiến hành Đấu tranh giai cấp, phải xóa bỏ địa vị, quyền lợi của hai giai cấp bóc lột là giai cấp địa chủ và giai cấp tư sản. Trước kia đoàn kết Mặt trận giải phóng dân tộc, giờ đây phải Đấu tranh giai cấp để tiến tới Chủ nghĩa xã hội. Trong Đấu tranh giai cấp như thế thì quyết liệt lắm, có ảnh hưởng chủ nghĩa Stalin và chủ nghĩa Mao Trạch Đông là quá tả, rất ác liệt, (…) Chúng tôi chống, là chống cái chủ nghĩa Staline và chống chủ nghĩa Mao Trạch Ðông. Sự thâm nhập của chủ nghĩa Staline và chủ nghĩa Mao Trạch Đông đưa đến nhiều hiện tượng -nói là chuyên chính thì chưa đủ- phải nói là cực quyền toàn trị, nó gay gắt ghê lắm. Nó gay gắt ghê lắm! Ðảng Cộng Sản đã phạm sai lầm trong Cải cách ruộng đất, rồi thì Chỉnh huấn, Chấn chỉnh tổ chức, Ðăng ký hộ khẩu v.v… Tất cả những cái đó đều do những cái quá tả, từ phương Bắc nó xâm nhập vào, chứ không phải chờ đến bây giờ nó mới đem cái tả khuynh hữu trí vào nước Việt Nam. Cái thời mà cụ Hồ chưa về nước và ông Trần Phú làm Tổng bí thư, thì làm cái cuộc gọi là Xô Viết Nghệ Tĩnh, đưa ra cái khẩu hiện rất quái gở tức là “Trí, phú, địa, hào đánh tận gốc, trốc tận rễ”. Nó quá tả như thế thì còn làm sao giành được độc lập! Như thế là chia rẽ dân tộc”.
(more…)

Thụy Khuê


Nguyễn Mạnh Tường (1909-1997)

Dự các hội nghị quốc tế

Mặc dù đã từ chối vào Đảng và luôn giữ khoảng cách với chính quyền, nhưng Đảng vẫn phải nhờ Nguyễn Mạnh Tường trong việc đối ngoại, bởi khó tìm được người có đủ khả năng thay thế: Ông được cử đi dự ba Hội nghị quốc tế vì tài hùng biện.

Về Hội nghị Bắc Kinh, 1952, hiện không có tài liệu.

Về Hội nghị Vienne, cuối 1952, đầu 1953, Boudarel phân tích khá kỹ:

“Năm 1952, vì vì nhu cầu tuyên truyền và viễn ảnh những thương lượng mới về Đông Dương đi đôi với vấn đề Triều Tiên đang thảo luận, người ta đã lôi Tường trong nhà tù bóng tối ra ánh sáng. Ông được gọi đi Vienne dự Hội nghị các dân tộc, do Phong trào hoà bình thế giới ảnh hưởng Liên Xô, tổ chức. Một lần nữa, ông lại làm phát ngôn viên khôn khéo và hùng biện cho chính phủ Hồ Chí Minh, dù ông không chia sẻ mọi quan điểm, nhưng đối với ông, chính phủ này, trước hết, bảo đảm nền độc lập.
(more…)

Thụy Khuê


Nguyễn Mạnh Tường (1909-1997)

Ngày 30/10/1956, Nguyễn Mạnh Tường diễn thuyết 6 tiếng trước Mặt Trận Tổ Quốc tại Hà Nội (3 giờ buổi sáng, 3 giờ buổi chiều) về những sai lầm trong cải cách ruộng đất. Trường Chinh, Xuân Thủy và Dương Bạch Mai yêu cầu ông viết lại nội dung cuộc nói chuyện ứng khẩu thành văn bản. Ông viết lại với tựa đề: “Qua những sai lầm trong cải cách ruộng đất, xây dựng quan điểm lãnh đạo”, đánh máy làm hai bản, trao cho Trường Chinh và Xuân Thuỷ, chỉ giữ lại bản nháp viết tay.
(more…)

Thụy Khuê

Tuy không chính thức có vụ án Nam Phong, nhưng sau khi Phạm Quỳnh và Nguyễn Bá Trác bị xử tử năm 1945, tại miền Bắc, Nam Phong được coi là tờ báo của thực dân do “trùm mật thám” Louis Marty điều khiển với hai “tay sai đắc lực” Phạm Quỳnh và Nguyễn Bá Trác.
(more…)

Thụy Khuê


Phan Khôi (1887-1959)

Ảnh hưởng Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Quỳnh.

Người đầu tiên Phan Khôi chịu ảnh hưởng trong nghề báo là Nguyễn Văn Vĩnh. Bởi lối viết vừa đàm vừa luận của Nguyễn Văn Vĩnh trên Đăng Cổ Tùng Báo (1908) sau này sống lại trong lối hài đàm của Phan Khôi. Hai nhân vật mà Phan Khôi đặc biệt kính trọng trong địa hạt văn học và thương mại là Nguyễn Văn Vĩnh và Bạch Thái Bưởi.
(more…)

Thụy Khuê


Phan Khôi (1887-1959)

Ngày nay một phần tác phẩm Phan Khôi đã được in lại, nhưng cuộc đời thực của ông vẫn chưa được soi tỏ. Hệ thống xuyên tạc và bôi nhọ Phan Khôi trong hơn nửa thế kỷ đã tạo cho quần chúng sự e ngại khi nhắc đến tên ông, nỗi hoài nghi về con đường tranh đấu của ông.

Chúng tôi cố gắng tìm lại cuộc đời đích thực của Phan Khôi, ưu tiên qua những điều do chính ông viết ra, lượm lặt trong các truyện ký, truyện ngắn như: Lịch sử tóc ngắn, Chuyện bà cố tôi, Bạch Thái công ty thơ ký viên, Đi học đi thi, Ông Bình Vôi, Ông Năm Chuột và bài trả lời phỏng vấn, do bà Phan Thị Nga (vợ Hoài Thanh) viết lại, năm 1936. Những tài liệu của gia đình như Phan Khôi niên biểu của Phan Cừ, Phan An (Chương Dân thi thoại, Đà Nẵng, 1996) và Nhớ cha tôi (Đà Nẵng, 2001) của Phan Thị Mỹ Khanh, về niên biểu, cũng phỏng chừng, nhiều sự kiện trước sau lẫn lộn, có chỗ viết sai. Những bài đánh Phan Khôi của Nguyễn Công Hoan, Đào Vũ… dù rất nhơ bẩn, nhưng có vài chi tiết dùng được, bởi những người này đã có dịp gần Phan Khôi trong 9 năm kháng chiến, nghe ông kể nhiều chuyện rồi xuyên tạc đi, để buộc ông tội phản quốc.
(more…)

Thụy Khuê


Phan Khôi (1887-1959)

Sau Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Trần Trọng Kim, Phan Khôi tiếp tục xây dựng những nền móng mới cho Việt học, bằng phương pháp độc đáo: phân tích, phê bình và phản biện, mà những người trước và sau ông cho tới nay chưa mấy ai đạt được: Phải viết lịch sử cho đúng, kể cả các chi tiết nhỏ. Phải viết tiếng Việt cho đúng từng câu, từng chữ, từng chữ cái, từng chấm, phẩy. Phải dùng từ Việt và từ Hán Việt cho thích hợp. Phải hiểu Khổng học cho đúng. Sự tìm hiểu nguồn gốc ngôn ngữ và triết học Tây phương đi từ Thánh Kinh. Nữ quyền bắt đầu với Võ Tắc Thiên. Phan Khôi luôn luôn tìm đến nguồn cội để giải thích vấn đề. Là một nhà báo, nhưng không phải nhà báo bình thường. Là một học giả, nhưng không phải học giả cổ điển chỉ biết nghiên cứu. Phan Khôi là khuôn mặt học giả phản biện duy nhất của Việt Nam trong thế kỷ XX.
(more…)

Thụy Khuê


Phan Châu Trinh (1872-1926)

Năm 1922 là năm bản lề, đánh dấu ngõ quặt của nhóm Ngũ Long: Bắt đầu về nước tranh đấu. Người đầu tiên là Nguyễn An Ninh.

Về bối cảnh chung, 1922 có một số sự kiện xẩy ra:

Hội chợ đấu xảo Marseille mở cửa ngày 16/4/1922.

Đầu năm1922, Phan Châu Trinh xuống Marseille để làm việc tại hội chợ.

Pháp cử 7 phái viên Bắc Kỳ đi dự đấu xảo. Đại diện quan trường: Tuần phủ Cao Bằng Vi Văn Định và ông huyện Phong Doanh Trần Lưu Vị; đại diện Tư vấn nghị viện: Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Duy Tốn; đại diện thương mại: Hoàng Kim Bảng; đại diện canh nông: Nguyễn Hữu Tiệp, và dại diện Khai Trí Tiến Đức: Phạm Quỳnh. (Phạm Quỳnh, Hành trình nhật ký, Ý Việt, Paris, 1997, trang 208).

Tháng 2/1922, Phan Châu Trinh gửi thư ngỏ cho Nguyễn Ái Quốc.

Tháng 5/ 1922, Phan Châu Trinh gặp gỡ các nhà trí thức sang Pháp dự hội chợ.

Tháng 6/1922, Vua Khải Định tới Pháp. Một phong trào bài kích nhà vua nổi lên với Thất điều thư của Phan Châu Trinh (kể bảy tội của vua Khải Định) với các bài báo và vở kịch Dragon de bambou (Rồng Tre) ký tên Nguyễn Ái Quốc. Nhóm Ngũ Long đả kích vua Khải Định là lẽ tất nhiên, tuy lời lẽ có hơi quá đáng vì sự thực thì nhà vua cũng không còn quyền hành gì cả. Nhưng có hai sự kiện đáng chú ý hơn là việc:

1- Phan Châu Trinh viết bức thư ngỏ gửi Nguyễn Ái Quốc đề ngày 18/2/1922.

2- Phan Châu Trinh gặp gỡ Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Quỳnh.
(more…)

Thụy Khuê


Hồ Chí Minh (1890-1969)

Bộ sách Hồ Chí Minh toàn tập, 12 cuốn (nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2000), 8410 trang, gồm:

- 80% diễn văn, công văn chính thức, do các bí thư viết, văn phong thay đổi tùy theo sách lược chính trị mỗi thời và bút pháp từng người.

- 5% chú thích.

- 15% còn lại là văn bản (gần 1000 trang), có thể chia làm hai phần: Phần dịch từ tiếng Pháp những bài ký tên Nguyễn Ái Quốc và phần tiếng Việt gồm những bài ký bút hiệu khác.
(more…)

Thụy Khuê


Hồ Chí Minh (1890-1969)

Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh

Khác hẳn với các nhà cách mạng như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng… Tiểu sử Hồ Chí Minh là một bí mật. Chỗ nào ông muốn viết (hoặc sai người viết), chỗ nào giấu đi hoặc thêm thắt vào, đều có chủ đích rõ ràng. Chủ đích đó không phục vụ sự thật, như Phan Bội Châu trong Ngục Trung Thư hay Tự Phán: những sai lầm của mình cũng viết, ý kiến nào do Nguyễn Thành hay Lương Khải Siêu nghĩ ra cũng nói rõ.
(more…)

Thụy Khuê


Phan Khôi (1887-1959)

Phan Châu Trinh, lãnh đạo tinh thần phong trào Duy Tân. Phan Khôi, lãnh đạo tinh thần phong trào Nhân Văn Giai Phẩm. Đông Kinh Nghiã Thục (gắn bó với Duy Tân và Đông Du) chỉ tồn tại một năm. Nhân Văn Giai Phẩm tồn tại năm tháng. Nhưng cả phong trào hai đều có công lớn trong việc đổi mới văn học và đòi hỏi dân chủ cho đất nước. Lịch sử Phan Châu Trinh đã rõ ràng tường tận. Lịch sử Phan Khôi, hoặc bị nhục mạ như một người bán nước, hoặc không ai biết đến.

Việc tìm lại chân dung đích thực của Phan Khôi, đưa chúng ta trở lại tìm hiểu lịch sử chống Pháp đầu thế kỷ XX, môi trường phát xuất một con người. Để:

1) Xác định vị trí Phan Khôi trong văn học và trong lịch sử phức tạp của cuộc kháng chiến chống Pháp.

2) Hiểu thái độ Phan Khôi, đôi khi coi thường, đôi khi miệt thị Hồ Chí Minh, khác hẳn với toàn bộ thành viên của phong trào Nhân Văn Giai Phẩm.

3) Hiểu sự thanh trừng và hạ nhục Phan Khôi sau Nhân Văn Giai Phẩm.
(more…)

Thụy Khuê


Phùng Cung (1928-1998)

I. Tại sao Phùng Cung bị bắt, bị tù biệt giam 11 năm không có án?

Tư tưởng của Phùng Cung độc đáo và ngược hướng với những người cùng thời, kể cả các thành viên NVGP và thế hệ ngày nay, trên nhiều địa hạt: Bảo tồn văn hoá, lòng ái quốc, cách mạng mùa thu, kháng chiến chống Pháp, chiến tranh Nam-Bắc, tình nước và tình người. Chưa một nhà thơ, nhà văn nào dám đi xa như thế, viết những lời đả phá mãnh liệt như thế về quốc ca, quốc thiều, về cách mạng mùa thu, về chính sách văn hoá của Đảng Cộng Sản, về những tín điều đã mê hoặc người Việt Nam trong suốt thế kỷ qua. Và đó là lý do chính khiến Phùng Cung bị 12 năm tù, không có án. Tìm hiểu Phùng Cung là tìm hiểu nguồn tư tưởng yêu nước đối lập với quan niệm chính thống và đi ngược lại niềm tự hào dân tộc cố hữu, nhưng sẽ là kim chỉ nam cho một con đường dân tộc mới: con đường chuyển giáo dục chiến tranhgiáo dục hận thù thành giáo dục hoà bìnhgiáo dục văn hoá.
(more…)

Thụy Khuê


Văn Cao (1923-1995)

Cuộc đời Văn Cao gắn bó với toàn bộ sinh hoạt văn nghệ Việt Nam trước kháng chiến, trong kháng chiến và sau kháng chiến. Văn Cao ở trong cả ba bộ môn: thơ, nhạc, họa, cho nên được giới nghệ thuật ba ngành kính phục. Là tác giả quốc ca, nhưng Văn Cao suốt đời bị chính quyền nghi ngờ, tác phẩm bị trù dập, phân biệt đối xử.

Tìm hiểu cuộc đời của Văn Cao cũng là tìm hiểu giai đoạn lịch sử 45-46, mà các văn nghệ sĩ xuất thân từ nhiều ngành nghệ thuật khác nhau, nhiều thành phần chính trị và phi chính trị khác nhau đã theo Việt Minh để tranh đấu cho một lý tưởng: chống Pháp. Những Văn Cao, Phạm Duy, Tạ Tỵ, Bùi Xuân Phái, Nguyễn Sáng, Nguyễn Đình Thi, Lưu Hữu Phước,… đã có một thời hoạt động chung vai sát cánh, nhưng rồi chính trị sẽ phân lìa mỗi người một con đường, một chiến tuyến.
(more…)

Thụy Khuê


Hoàng Cầm (1922-2010)

Muốn tìm hiểu một giai đoạn nào của Lịch Sử lớn, không thể không tìm hiểu lịch sử nhỏ của những người đã đóng góp tích cực vào sự tiến hoá hay thoái hoá của giai đoạn này. Trong thời kỳ Nhân Văn Giai Phẩm, tiểu sử những người có công tiêu diệt phong trào NVGP được phóng đại tô màu, vinh thăng ca ngợi. Còn lịch sử những người có công đầu trong kháng chiến chống Pháp, nhưng sau này trở thành những thành viên NVGP, đã bị xoá, tẩy, bội nhọ, tác phẩm bị loại trừ. Hoàng Cầm là một khuôn mặt điển hình.
(more…)

Thụy Khuê


Trần Dần (1926-1997)

Trong 40 năm sau Nhân Văn, Trần Dần đã chỉ thấy những hòm bản thảo của mình: 2/3 bị tiêu tán, mục nát, 1/3 còn lại bị kết án chung thân trong trạng thái nằm. Vậy mà vẫn viết. Viết đều. Bởi ông cho rằng viết hay ghi là phương pháp duy nhất nói chuyện với mình khi không thể nói được với ai. Từ 1958, “ghi trở nên một hình phạt”, người thanh niên 32 tuổi ấy đã bị “đòn ngấm quá cuống tim rồi”. Tác phẩm chịu chung số phận với người: gần 30 tập thơ, 3 cuốn tiểu thuyết, và không biết bao nhiêu bản thảo đã bị mối mọt.
(more…)

Thụy Khuê


Lê Đạt (1929-2008)

Trong ba người bạn thân cùng hoạt động NVGP, Trần Dần viết nhật ký, Hoàng Cầm thuật lại dĩ vãng trong các bài ký, hồi ký. Duy có Lê Đạt là không có tiểu sử rõ ràng. Tại sao? Một phần, dường như ông không coi tiểu sử nhà văn là vấn đề quan trọng, nhưng có lẽ còn một lý do nữa, vì tiểu sử của ông, nếu viết rõ ra, chỉ “có hại” cho gia đình. Ông không muốn các con biết về hoạt động của cha để đỡ bị liên lụy. Đào Phương Liên, con gái ông, hỏi: Bố là ai? Các con không biết cha đã từng làm thơ, vì trong nhà “không có một quyển truyện một quyển thơ nào”.
(more…)

Thụy Khuê


Nguyễn Hữu Đang (1913-2007)

Nguyễn Hữu Đang là một trong những khuôn mặt trí thức dấn thân tranh đấu cho tự do dân chủ can trường nhất trong thế kỷ XX. Là cột trụ của phong trào Nhân Văn Giai Phẩm, Nguyễn Hữu Đang đã bị bắt, bị cầm tù, bị quản thúc và mất quyền tự do phát biểu trong 59 năm, từ tháng 4/ 1958 đến tháng 2/2007, khi ông mất.

Nhiều sự kiện về cuộc đời Nguyễn Hữu Đang đã sáng tỏ hơn, sau khi ông qua đời, một số tư liệu về con người ông đã được phơi bày ra ánh sáng và do đó chúng ta có thể tạm dựng một tiểu sử đầy đủ hơn về người lãnh đạo phong trào Nhân Văn Giai Phẩm.
(more…)

Thụy Khuê


Thụy An (1916-1989)

Thụy An là khuôn mặt nổi trội, bị kết án nặng nề nhất. Trường hợp của bà giống như một bi kịch Hy Lạp, và cho đến nay, chưa mấy ai hiểu được những khúc mắc ở bên trong.

Thụy An là ai?

Là phụ nữ duy nhất, không viết bài cho NVGP, nhưng tên bà bị nêu lên hàng đầu trong “hàng ngũ phản động”, bà bị quy kết là “gián điệp quốc tế”, lãnh án 15 năm tù cùng với Nguyễn Hữu Đang. Những lời thoá mạ nhơ bẩn nhất dành cho bà “Con phù thủy xảo quyệt” cùng những lời lẽ độc địa nhất: “Như vắt ngửi thấy máu, Thụy An như rắn bò tới các câu lạc bộ Hội Nhà văn phun nọc độc mạt sát chế độ ta bần cùng hoá nhân dân” (Bàng Sĩ Nguyên, BNVGPTTADL, trang 120).

Tại sao lại có sự căm thù ghê gớm đối với nhà thơ, nhà văn, nhà báo phụ nữ tiên phong của Việt Nam? Người đầu tiên thực hiện nữ quyền bằng ngòi bút và hành động. Người chủ trương giải phóng phụ nữ không bằng lý thuyết mà bằng việc làm. Người xác định vị trí phụ nữ như một công dân tự do, thấm nhuần tinh thần dân chủ.
(more…)

Thụy Khuê

Tình hình từ tháng 12/1956 đến tháng 2/1958

Nhân Văn Giai Phẩm hoạt động từ tháng 8/1956 đến tháng 12/1956. Cuối tháng 12/1956, các tờ Nhân Văn, Giai Phẩm, Đất Mới… bị đình bản. Từ 20 đến 28/2/1957, Đại hội văn nghệ lần thứ hai họp tại Hà Nội, với gần 500 đại biểu, Trường Chinh kêu gọi đấu tranh “đập nát” phong trào NVGP.

Tuy nhiên Trung Quốc vẫn tiếp tục phong trào “Trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng”, cho nên Đảng Lao Động chưa có chính sách dứt khoát đối với trí thức văn nghệ sĩ: đến đầu tháng 4/1957, Hội Nhà Văn (trước đây là Hội Văn Nghệ) được chính thức thành lập, với Tô Hoài làm Tổng thư ký kiêm giám đốc nhà xuất bản Hội Nhà Văn, và một số thành viên cũ của NVGP như Hoàng Cầm, Hoàng Tích Linh vẫn còn được bầu vào ban chấp hành.
(more…)

Thụy Khuê

Những bài viết chủ yếu trong Nhân Văn Giai Phẩm gồm hai loại:

Loạt bài chính luận trực tiếp định hướng tư tưởng của các nhà trí thức và loạt bài sáng tác dấn thân nói lên khát vọng tự do của các văn nghệ sĩ. Hai thể loại này đan cài và bổ sung cho nhau, tạo nên làn sóng đấu tranh toàn diện cho tự do dân chủtự do tư tưởng.
(more…)

Thụy Khuê

Trong vòng 4 tháng, từ cuối tháng 8 đến cuối tháng 12/56, phong trào đòi hỏi dân chủ và tự do tư tưởng bùng lên với hai tờ báo chính: Nhân VănGiai Phẩm do nhà xuất bản Minh Đức (Trần Thiếu Bảo) in hoặc giúp đỡ in ấn. Phần lớn những người viết cho Nhân Văn đều có mặt trên Giai Phẩm và ngược lại.

Nhân Văn Giai Phẩm do hai nhóm bạn song song hợp tác điều hành:

- Nguyễn Hữu Đang, Trương Tửu, Trần Thiếu Bảo là ba người bạn, trong kháng chiến, đã từng chủ trương việc xuất bản lại các tác phẩm có giá trị thời tiền chiến (nhưng bị loại trừ sau cách mạng) như Tiêu Sơn tráng sĩ của Khái Hưng, Số đỏ của Vũ Trọng Phụng, v.v…

- Hoàng Cầm, Lê Đạt, hai người bạn thân đã tranh đấu đòi tự do sáng tác từ những ngày đầu trong quân đội cùng với Trần Dần, Tử Phác, năm 1955, và làm tờ Giai Phẩm mùa xuân.

Năm người này là những viên gạch nền móng, bằng những cố gắng xây dựng của họ, từ tháng 8 đến tháng 12 năm 1956, đã quy tụ được một số đông văn nghệ sĩ trí thức, họp thành phong trào NVGP.
(more…)

Thụy Khuê

Từ mùa xuân 1956 sang mùa thu 1956

Phong trào Nhân Văn Giai Phẩm chia làm hai giai đoạn: Giai đoạn I gắn bó với Giai phẩm mùa xuân giai đoạn II gồm toàn bộ những tờ báo phát hành từ tháng 8/1956 đến tháng 12/56.

Giai đoạn I có thể tóm tắt như sau:

Giai phẩm mùa xuân ra đời cuối tháng 1/1956. Hơn một tuần sau, nhiều sự kiện quan trọng liên tiếp xẩy ra:

- 28 Tết Nguyên đán: Tố Hữu sai người tìm gọi Lê Đạt lên Tuyên huấn.

- 4 Tết: Trần Dần và Tử Phác bị bắt tại Yên Viên, nơi đang học tập cải cách ruộng đất.

- 5 Tết: Lê Đạt ăn Tết xong mới lên trình diện Tố Hữu. Bị giữ lại kiểm thảo 15 ngày.

- Trần Dần, sau ba ngày bị giam dưới một căn hầm, dùng dao cạo cứa cổ, được đưa đến bệnh viện. Tại đây, ngày 21/2/56 Trần Dần viết một lá thư dài cho đại tướng Nguyễn Chí Thanh. Tướng Thanh can thiệp, Trần Dần, Tử Phác được tha ngày 5/5/56.

Trong tháng 2/56, một “hội nghị lớn” luận tội Trần Dần (vắng mặt) được tổ chức. Chiến dịch đánh Trần Dần bắt đầu ngày 7/3/1956 với bài viết của Hoài Thanh trên báo Văn Nghệ số 110.
(more…)

Thụy Khuê

Tổ chức Giai phẩm mùa xuân

Giai phẩm mùa xuân do Hoàng Cầm và Lê Đạt chủ trương. Trần Dần có tham dự vào việc tổ chức ra báo và bài vở không?

Hoàng Cầm trong bài Con người Trần Dần, in trên Nhân văn số 1 (8/1956) và cả đến sau này, trong bài phỏng vấn trên RFI, đều xác định là Trần Dần không biết gì về việc in bài thơ Nhất định thắng vì lúc đó đang tham gia Cải cách ruộng đất ở xa. Có lẽ là để gỡ tội cho Trần Dần.

Nhưng sự thực thì Trần Dần có tham gia vào việc ra Giai Phẩm mùa xuân  : Sau khi bị bắt lần thứ nhất, bị cấm trại 3 tháng cùng với Tử Phác [vì “phạm kỷ luật quân đội” nhưng trên thực tế vì tổ chức phê bình thơ Tố Hữu và viết bản dự thảo đòi tự do sáng tác], Trần Dần, Tử Phác được gửi đi tham quan Cải cách ruộng đất.
(more…)

Thụy Khuê

Với những tư liệu và nhân chứng hiện hành, chúng ta có thể tóm tắt lịch trình hoạt động của phong trào NVGP, theo thứ tự ngày tháng, như sau :

Tháng 3/1955: Trong quân đội, Trần Dần, Tử Phác, với sự cộng tác của Hoàng Cầm, Lê Đạt, chủ trương việc phê bình tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu.

Tháng 4/1955: Nhóm Trần Dần, Tử Phác ký “Dự thảo đề nghị cho một chính sách văn hoá”, chủ yếu đòi quyền tự do sáng tác. Bác bỏ chế độ chính trị viên trong văn nghệ quân đội.

Từ 13/6/55 đến 14/9/55: Trần Dần, Tử Phác bị bắt, bị phạt cấm trại trong trại 3 tháng vì lý do phạm quân kỷ, sau đó được đưa đi cải tạo ở Yên Viên (tham gia Cải cách ruộng đất đợt 5).

Tháng1/1956Giai phẩm mùa xuân ra đời do Lê Đạt, Hoàng Cầm chủ trương (có bàn  với Trần Dần) với những bài chính: Nhất định thắng của Trần Dần, Anh có nghe thấy không của Văn Cao, Làm thơ và Mới của Lê Đạt, …

Tháng 2/56 (Tết Nguyên đán): Lê Đạt bị gọi lên Tuyên huấn để kiểm thảo. Trần Dần, Tử Phác bị bắt lần thứ nhì. Giai phẩm mùa thu bị tịch thu. Trần Dần dùng dao cạo cứa cổ. Chiến dịch đánh Trần Dần bắt đầu với bài của Hoài Thanh “Vạch trần tính chất phản động trong bài thơ Nhất định thắng của Trần Dần” trên báo Văn Nghệ số 110, ra ngày 7/3/56.

Ngày 24/2/1956: Khrouchtchev tường trình tội ác của Staline tại đại hội XX của đảng Cộng sản Liên xô. Ngày 26/5/1956: Mao Trạch Đông phát động phong trào “Trăm hoa đua nở trăm nhà đua tiếng”. Ngày 28/6/1956: Ba Lan nổi dậy.
(more…)

Thụy Khuê

Nhân Văn Giai Phẩm là phong trào tranh đấu cho tự do dân chủ của văn nghệ sĩ và trí thức miền Bắc có tầm vóc lớn lao, khởi xướng đầu năm 1955 và bị chính thức dập tắt tháng 6 năm 1958.

Hai nguồn tư liệu sớm nhất về Nhân Văn Giai Phẩm (NVGP) là Trăm hoa đua nở trên đất Bắc (THĐNTĐB) của Hoàng Văn Chí do Mặt Trận Tự Do Văn Hoá in ở Sài Gòn năm 1959, và Bọn Nhân Văn Giai Phẩm trước toà án dư luận(BNVGPTTADL) do nhà xuất bản Sự Thật Hà Nội in năm  1959. Ngoài hai tập tư liệu này còn có những tập tư liệu khác, ra đời hơn 30 năm sau.
(more…)