Họa Phẩm Trong Thơ Khánh Trường

Posted: 01/04/2011 in Biên Khảo / Phê Bình, Hà Khánh Quân
Thẻ:

Hà Khánh Quân


Khánh Trường

Một số ít tác giả Việt Nam đã đến với khu vườn văn học bằng bước chân thơ. Sau chừng mươi sáng tác được các tạp chí văn học giới thiệu, họ yên tâm mở thêm hướng sáng tác mới, chủ yếu là truyện ngắn. Nếu tiếp tục có kết quả khả quan, họ tạm lơi tay thơ, chú tâm vào việc viết văn. Một sinh hoạt có nhiều ưu điểm: nhuận bút khá, tác phẩm ấn hành dễ bán chạy. Và một khi viết văn đã thuần tay ít có người quay trở lại với thơ. Một thực tế nhiều người công nhận, trước khi dính líu đến văn xuôi, thơ của họ không thiếu những tiêu chuẩn cần có của thi ca. Nhưng sau khi tạm dẹp thơ qua một bên, có dịp cần viết lại đôi bài, hình như họ gặp ít nhiều khó khăn và thơ cũng hao hụt chất lượng.

Con đường tham dự cuộc sáng tạo thơ văn của Khánh Trường có phần khác biệt. Nếu kể bài viết được lên báo hẳn hoi, phải nhắc đến bài tùy bút anh viết sau cuộc hành quân Lam Sơn 719. Ông chủ bút Viên Linh của Khởi Hành đã cho “đi” bài này. Bài viết được xem là bài đầu tiên và cũng là bài cuối cùng của Khánh Trường, trước 1975. Một thời gian khá lâu sau, tại hải ngoại, Khánh Trưòng sinh hoạt lại, và thành danh trong ba lãnh vực Văn Học, Hội Họa và Báo Chí.

Ở hội họa, Khánh Trường nhập cuộc với tư cách “nghiệp dư”, không xuất thân từ trường dạy nghệ thuật nào. Nhờ yêu tranh và hết lòng với nghệt thuật, anh thành công qua những ý tưởng mới, thích vẽ gì, tùy nghi “chế” ra “cách sáng tạo” lẫn “họa phái” để vẽ. Anh được đặc biệt đánh giá thành công, trong loạt tranh thiếu nữ khỏa thân táo bạo, lộng lẫy. Trong phần đời còn lại, vừa dưỡng bệnh, anh vừa thực hiện một số họa phẩm nghiêng về trừu tượng. Phòng sinh hoạt của nhật báo Người Việt tại quận Cam Hoa Kỳ, đã cho trưng bày tranh Khánh Trường vào ngày 04-02-006. Nhân dịp này, Khánh Trường giải thích:

“… Loạt tranh lần này khác hẳn những lần trước, từ màu sắc đến phong cách. Về phong cách, tôi chọn lĩnh vực trừu tượng. Tranh trừu tượng không đòi hỏi chi tiết, sự chuẩn xác tuyệt đối, cho nên những vệt màu, đường cọ sai trật, có khi lại hay. Về tư tưởng, đây là lãnh vực mênh mông nhất, giúp tôi đi sâu được vào những vùng chìm khuất dưới bề mặt ý thức, đó là lãnh địa của tiềm thức, nơi ẩn tàng, cất dấu, ngụy trang tâm trạng, bản chất, cá tính một con người. Về màu sắc, tôi sử dụng thực nhẹ các gam màu, cũng như cố tình để ngỏ nhiều khoảng trống nhằm tạo ra những không gian mở, giúp khách thưởng ngoạn có được cảm giác nhẹ nhàng, bình yên khi xem tranh.”
(trích trong bài viết của Nguyễn Huy / báo NV)

Ở báo chí, Khánh Trường là sáng lập viên, là chủ bút tạp chí Họp Lưu. Một tạp chí trí thức, được bạn đọc tại hải ngoại cũng như trong nước, đặt nhiều niềm tin. Bước khởi đầu của tạp chí, gặp nhiều khó khăn, chống đối. Nhưng Khánh Trường và một số bằng hữu đã vượt qua. Khi tờ báo đã đứng vững, cũng là lúc anh gặp nhiều rắc rối về sức khỏe, nên hiện nay, nhà thơ Đặng Hiền thay anh trong công việc điều hành.

Ở văn học, Ngoài những công trình văn hóa soạn chung như: Tác Phẩm Tác Giả, 20 Năm Văn Học Việt Nam Hải Ngoại. Khánh Trường đã phát hành ba tập truyện ngắn, gây được tiếng vang: Có Yêu Em Không (Tân Thư xb 1990, tb 1997), Chỗ Tiếp Giáp Với Cánh Đồng (Tân Thư xb 1991), Chung Cuộc (Tân Thư xb 1997). Tuy nhiên tác phẩm chính thức, trước bạ với làng văn Việt Nam của Khánh Trường, là một tập thơ. Tập Đoản Thi Khánh Trường, được chính anh chăm sóc in ấn, trình bày bìa, phụ bản. Phát hành năm 1988 tại California Hoa Kỳ.

Trong bài viết dành cho chủ đề theo gót thơ, tôi xin giới thiệu những sáng tác trong Đoản Thi Khánh Trường. Một tập thơ có mặt rất hy hữu, theo như lời kể của tác giả:

“… Khánh Trường có cái gì muốn in không ? Chỉ tốn hơn trăm bạc giấy, lên khuôn, ‘run’, cho đỡ chứng !In ?. Cái gì nhỉ ? Ngồi vào bàn, nhớ lại những bài thơ ngắn vỏ vẽ từ mấy mươi năm trước, chép ra, được vài chục bài, ít quá, làm thêm mươi mười lăm bài nữa (như…máy!)Nhẩm tính, cũng gần trăm trang. Bèn đánh máy, lay-out, đặt tên, vẽ bìa, phụ bản, và in. Vậy đấy”
(trả lời phỏng vấn Nguyễn Mạnh Trinh)

Tuy thực hiện theo yêu cầu của ông chủ nhà in, một cách vội vã, Nhưng Đoản Thi Khánh Trường, vẫn nghiêm chỉnh là một thi phẩm. Tập thơ dày 108 trang gồm 83 bài, đủ thể loại, nhiều nhất là lục bát. Nhà thơ Du Tử Lê góp mặt qua một bài tựa dài 4 trang, chân tình và văn hoa như thường lệ.

Trước khi đọc thơ, tưởng cần tìm hiểu quan niệm về thi ca của Khánh Trường. Xin được trích những câu trả lời, anh dành cho nhà thơ kiêm nhận định văn học Nguyễn Mạnh Trinh, trong loạt bài phỏng vấn nhiều tác giả:

“Tôi cho rằng cốt lõi của thơ chính là chất ‘thơ’ trong một bài thơ, chứ không phải cách thế biểu đạt. Vần, không vần, tự do, niêm luật, siêu thực, hiện thực…chỉ là phụ, là phương tiện… Thơ hôm nay bị vướng phải nhược điểm: hình như các thi sĩ quá dụng công vào việc tìm kiếm chữ nghĩa, cố gắng phá vỡ ‘nhạc tính’cũ trong vần điệu, cấu trúc xưa trên hình thức, mà quên đi phần hồn của chữ, chức năng của chữ, ma lực của chữ…tất cả cốt tủy của thơ ca. Chính vì thế thơ không đọng lại trong ta, thơ tuột khỏi ta, và nguy hiểm nhất: thơ đồng dáng, đồng phục,cliché, thơ giống nhau như những đứa trẻ song sinh…

… cốt lõi của thơ chính là chất thơ trong một bài thơ, chứ không phải cách thế biểu đạt. Vần, không vần, tư do, niêm luật, siêu thực, hiện thực… chỉ là phụ, là phương tiện…

…‘thơ ngắn’, ‘thơ dài’ không phải là tiêu chuẩn để thẩm định giá trị của một bài thơ… ‘Mới’ chưa chắc hay, và ‘cũ’, không hẳn dở. Hay dở hoàn toàn không liên quan đến chuyện mới cũ…”
(Nguyễn Mạnh Trinh, Khánh Trường)

Quan niệm của Khánh Trường, cũng là ý kiến của nhiều người làm thơ trước 1975, hiện nay còn tiếp tục cuộc chơi. Những bày tỏ trên của Khánh Trường, cũng giúp chúng ta biết lý do tập Đoản Thi gồm toàn những bài có vần điệu.

Theo nhận xét riêng của tôi, Khánh Trường đã dành nhiều đam mê nhất cho hội họa. Nên đến với thơ anh, tôi tự xem mình như kẻ, đang đi tìm những họa phẩm, anh thực hiện bằng thơ. Dùng thơ để vẽ lên cái tình, là điều không thể chạy đâu được với Khánh Trường.

Bức tranh thứ nhất, chỉ là những phác họa, bằng nét lục bát. Chúng ta gặp được nhiều hình ảnh món ăn, thức uống. Đồng thời cũng có những tâm trạng, những giải thích, những thông điệp gởi người đọc thơ:

thơ ta ngọt vị mía đường
chua cay dấm ớt đắng dường ổi qua
thơ ta có lúc thật thà
có khi hư thực yêu ma tội tình
thơ ta thanh thoát lời kinh
nghe ra chợt thấy phận mình phù hư
thơ ta có lúc mệt đừ
như con chó ốm lừ nhừ miếng ăn
thơ ta lạnh toát đường băng
nóng hơn hơi rượu dậy men mặt mày
thơ ta có lúc ăn chay
có khi ăn mặn có ngày nhai xương…
thơ ta thôi thế cầm bằng
dở hay người hỏi, thưa rằng… tùy nghi

(thơ ta – trang 17)

Cụ thể, bức tranh gói những lời chào hàng đầu tiên, tiếp theo sau lời tựa bóng bẩy của thi sĩ Du Tử Lê:

“… Muốn đến với thi ca, muốn ở lại với văn chương, phía của kim cương lóng lánh, thi ca không chỉ đòi hỏi kẻ lên đường, một trí tuệ, như điều kiện tiên quyết, mà thi ca còn đòi hỏi nơi những kẻ lên đường một hồn nghiêm, một tim lạnh. Nếu cuộc đời là một hài kịch lớn lao và bất tận, thì thi ca chính là cái mặt bên kia của hài kịch đó. Sự nghiêm chỉnh, tôi muốn nói, như thế.

… Thơ Khánh Trường mở ra một chân trời khác. Chữ nghĩa trong thơ anh, có cái sần sượng, có cái nóng dẫy của một ý thức lao chao, một gọi kêu bằn bặt…

… Đoản thi Khánh Trường như thế đó, đã như những tiếng hú bạt ngàn, những tiếng tét thất thanh, cất lên từ một trái tim nghiêm lạnh…”
(tựa – Du Tử Lê – trang 15)

Qua những nét phác họa đầu tiên của Khánh Trường, ta thấy ngay Du Tử Lê rất chính xác khi dùng chữ ‘sần sượng’ (con chó ốm lừ nhừ), (có ngày nhai xương). Nhìn chung tổng thể bức phác họa, thấy ra thơ. Nhưng rút ra một vài câu, hình như thi vị thơ có phần phai nhạt. Bù lại, ý tưởng khá lạ, cứu được cái cố ý thô nhám của ngôn từ.

Như đã nói trên, đến với Đoản Thi, là đi tìm những họa phẩm Khánh Trường, thực hiện bằng thơ thay vì sơn cọ. Đọc lướt 83 bài thơ, tôi chập chờn nhìn thấy ít nhất có năm bức tranh chính. Tôi xin mạn phép đặt tên cho từng bản vẽ ấy:

1. Chân Dung Của Một Con Người
2. Giữa Vũ Trụ Bao La
3. Suy Nghiệm Về Thân Phận
4. Tình Yêu Cùng Những Hệ Lụy
5. Quê Hương Trong Niềm Thương Nhớ.

Mỗi bức họa không chỉ thể hiện qua một bài thơ, mà thành hình bởi một chùm thơ, vô tình có chung một chủ đề. Cũng có thể vì nhận xét chủ quan, nhiều khi tôi nhầm lẫn, nhưng mong rằng sai sót đó, không làm hại đến giá trị chân dung thơ Khánh Trường.

Xin trình diện ngay với bạn, họa phẩm Chân Dung Của Một Người. Người được vinh hạnh đại diện, ở đây, là một thi sĩ. Tổng thể bức tranh chúng ta đang ngắm:

bên hồ hồ nước chảy
thi sĩ ngồi làm thơ
hồn treo trên vách đá
mây trắng phủ đầy người

(thi sĩ)

Nhận xét:

Với chỉ ít nét đơn giản, nhưng vừa có vẻ hiện thực vừa chút chút trừu tượng.

Suy diễn:

1. Có một ông (hoặc một bà) mê thi phú nào đó đang ngồi bên một hồ nước. Để tìm hứng, ông (bà) ta nhìn mặt hồ, nhận ra nước trong hồ đang chảy, và không cần biết nước chảy về đâu, chảy nhanh chậm thế nào. Miễn có sự chuyển động là đã có sức sống. Thế là ông (bà) ta gặp được nguồn thơ. Việc làm thơ của thi sĩ không cần biết diễn tiến ra sao. Chỉ biết ông (bà) ta đang làm thơ là đủ. Những chi tiết này, cho ta tính hiện thực của bức tranh.

2. Dĩ nhiên không ai nhìn thấy được tâm hồn của người đang làm thơ. Tâm hồn đó lại được treo lên một vách đá. Vách đá có thể tượng trưng cho vũ trụ bao la, bền vững. Cũng có thể hiểu, vách đá là bề dày sự nghiệp của người làm thơ. Trong lúc đó, thơ chính là những dòng mây trắng, đang bao bọc lên thân thể lẫn linh hồn của người mê thi phú. Những chi tiết này có vẻ trừu tượng, tùy nghi theo sự suy diễn của mỗi người.

Kết luận:

Một họa phẩm vẽ được như vậy kể như đã thành công.

Tuy nhiên để Chân Dung Của Một Con Người được chi tiết hơn, ta hãy xem những nét thơ tiếp của Khánh Trường. Trước nhất là trái tim. Sự tuần hoàn của dòng máu. Nguồn thương yêu của con người. Những nhịp đập vốn là những tiếng hát, tiếng ru, tiếng kêu gọi, than thở. Khánh Trường khéo tay vô cùng:

ta có một trái tim
bơm hoài một lượng máu
ta có một kho báu
cho hoài sao chẳng vơi

(trái tim, trang 84)

Tiếp theo cơ quan nuôi mầm sống, là ngũ quan. Người làm thơ chỉ cấp phép cho thị giác và thính giác đến thăm thơ mình:

ta có hai lỗ tai
cộng thêm hai con mắt
nhưng nhiều khi quá quắt
tai chẳng thuận điều ngay
mắt không nhìn nẻo thẳng !

(tai, mắt, trang 85)

Tai và mắt có thể là hai bộ phận hơi khó dạy, cũng là hai nơi dễ tạo ra những hệ lụy buồn vui, tội lỗi bất ngờ. Thật ra khe khắc này có phần oan. Bởi tai mắt chỉ có nhiệm vụ truyền đạt, thông báo về não bộ chỉ huy, quyết định và hành động. Mắt chẳng thể không nhìn một cõi đẹp bất chợt trong sự hớ hênh. Tai chẳng thể không tiếp nhận những nguồn âm thanh gợi cảm bỗng dưng. Có lẽ hiểu điều này, nên người giám định không lên lời quở trách, ngoài một câu than nhưng nhiều khi quá quắt !

Tứ chi, hình ảnh cụ thể để đánh giá một con người sinh động. Con người được mang vào bức chân dung, tôi đang giới thiệu, là một thi sĩ, và anh chàng làm thơ đó, không ai khác hơn là Khánh Trường họa sĩ:

ta có hai bàn chân
đi hoài không đến đích
ta có một sợi xích
trói hoài đôi bàn tay
ta có một… cơ may
sống hoài như giẻ rách

(tứ chi, trang 86)

Với nhiều mộng tưởng và mục đích, Khánh Trường luôn luôn cảm thấy mình, chưa đi đến đâu trong những kế hoạch, những dự tính sẵn có. Anh có phần tham lam trong tình yêu, trong sự nghiệp. Tình yêu ở đây không hạn hẹp trong chăn chiếu lứa đôi. Sự nghiệp ở đây có thể rộng rãi, vượt ngoài địa phận văn học nghệ thuật. Như vậy sự đòi hỏi, xét ra, cần thiết để không đứng lại một chỗ.

Khánh Trường cũng nhận dạng được sự bất an trong cuộc sống vốn tại cái tâm. Nên anh bổ sung thêm vài nét cho họa phẩm hoàn tất:

soi gương nhìn kỹ mặt mày
cũng râu cũng tóc đủ đầy giống… ta!
thế nhưng trong cõi ta bà
nhiều khi những tưởng mất cha cái mình
đêm thường giật thót hoảng kinh
mới hay tâm động nên hình cũng hư !

(vong thân, trang 88)

Họa phẩm Chân Dung Của Một Người từ chất liệu thơ và tình yêu thơ của một nhà văn, một họa sĩ đã thành hình, đã lên khung. Phòng triển lãm Đoản Thi cũng đã bày. Tôi hy vọng bạn tràn đầy nụ cười khi thưởng ngoạn.

Giữa Vũ Trụ Bao La là họa phẩm thứ hai, Với những đường cọ thuộc dạng bảy chữ:

Chiều lên đốt thuốc ra sông đứng
trời đất mênh mông sương khói xây thành
mây vô ngã chia tan về muôn hướng
chân bờ lau sóng vỗ nhịp âm dương
ta đá tảng trong cõi trần nghiệt ngã
muôn nghìn năm đời phủ kín rêu xanh
chiều ra nhìn chim đi ải bắc
chợt thấy hồn trong cánh vỗ mong manh

Sương cùng khói (khói thổi cơm và khói thuốc ?) dựng nên thành che chắn. Mây bốn phương đi ngàn ngã, muôn phương. Ngoài đá tảng bất động, cỏ lau và con người luôn luôn sinh động, luôn luôn hít thở. Cái động cao vút của cánh chim khác xa với cái động trầm uất của cỏ lá. Và cũng không đồng nhịp với cái động trong lòng người, trước cõi bao la cao rộng. Nhưng trong khoảnh khắc nào đó, con người nhận biết sự hiện diện của mình, vốn nhờ ở sự có mặt của những vật thể chung quanh. Sự hòa hợp tự nhiên, hoàn hão, không có một tỳ vết nào. Đó chính là cõi sống, không riêng gì ai. Gia tài chung của vạn vật. Cảnh sắc quanh ta luôn luôn có những đường nét quyến rũ. Tùy theo thời tiết đã phân định một cách đề huề, mỗi mùa có một vẻ đẹp riêng. Bản chất của cảnh sắc thiên nhiên chỉ toàn những nét vui, không ẩn chứa sự phiền muộn nào. Khánh Trường chỉ có việc tinh tế lặp lại:

Qua truông thấy núi chập chùng
thấy mây vô nhiễm trùng trùng vây quanh
thấy rồi ta đã thấy ta
cao cao dáng núi tà tà sương bay
mới hay trời rộng đất dầy
nhởn nhơ con bướm vẫn bày cuộc chơi

(qua truông, trang 67)

Ngoài con bướm nhởn nhơ vô tư bày cuộc chơi, còn những động vật nào khác ? Nhà thơ cho trình diện tức thì, trong họa phẩm về thiên nhiên của mình:

Vui chân lên ngọn đồi tây
mù mù núi bắc trắng mây chập chùng
ngước lên mắt chạm đỉnh tùng
nhìn quanh trời đất vô cùng tịch liêu
nghe như rơi rớt trong chiều
tiếng con quốc gọi đìu hiu non ngàn

(đồi tây, trang 34)

Cái đìu hiu giữa núi non một phần nhỏ nói lên sự cô đơn. Nhưng chủ yếu là phóng đại cái không gian bao la, lớn rộng hơn thêm. Sự tịch lặng vốn là hồn vía của cõi bao la. Tôi rất tâm đắc trong cách diễn tả của Khánh Trường. Anh còn có thể, tô đậm tính chất một mình một cõi hơn nữa:

lên cao chót vót lưng đèo
đường quanh đá dựng cheo leo đỉnh mù
một mình với gió tàn thu
mới hay dưới thấp hoang vu cõi người

(hoang vu cõi người, trang 38)

Điều mới hay của anh, rõ ràng không tạo cho anh sự bất ngờ. Và cũng không mang đến cho anh một ý niệm phiền muộn nào cả. Bốn nét vẽ rất hiện thực có góc cạnh rõ ràng.
Từ những bổ sung khác cho họa phẩm Giữa Vũ Trụ Bao La, Khánh Trường tỏ ra lạc quan, sau giây phút nhìn rõ những trạng thái tự nhiên của con người:

Ngồi trong hiên gió nhìn mông
thấy trên rào kẽm rợp bông bí vàng
những đài lá nõn thênh thang
lả lơi gọi gió chừng đang cợt đùa

người đời lựa lọc tranh đua
ai, bi, ái, ố, được thua đã đầy
nhưng dù ngã chấy trùng vây
mầm vô ưu vẫn kín đầy đất thơm

(trên rào kẽm gai, trang 21)

Từ đó, phong cảnh chung quanh người có trái tim giàu thương yêu, trở nên tươi sáng hẳn ra:

Gió hương nồng
trong chiều mênh mông
nhà ai hoa bưởi
trắng rợp nghìn bông

(chiều mênh mông, trang 20)

Em ngang qua ngõ
một bầy nắng theo
ồ kìa nắng reo
về đâu em nhỏ
mắt cười trong veo ?

(nắng reo, trang 40)

Ta ngồi trong động trông ra
dưới sâu mây phủ bóng tà huy bay
nghĩ đời một cuộc tỉnh say
lên non ngủ giấc nghìn ngày tịnh tâm

(tịnh tâm)

Nửa trưa đổ trận mưa rào
trời cao chóng mặt ngã nhào tịch u
ngoài thềm dưới một giàn su
đôi chim sẻ nhỏ bay vù hoảng kinh

(mưa rào)

Có đêm trăng rải lụa mềm
có cây nhớ gió bên thềm tịch liêu
có đời rộng cánh tay yêu
có ta cành nẩy ít nhiều nụ xanh

(nụ xanh)

Bức tranh phong cảnh từ thơ Khánh Trường, thật sự tôi chưa gom đủ những diễn tả tỉ mỉ của anh. Nhưng tôi tin, chỉ chừng đó, chúng ta cũng đọc ra tình yêu thiên nhiên, vạn vật trong trái tim anh. Tôi làm sao có thể qua mặt về bố cục, về tài nghệ phân bố màu sắc, gởi gắm tiếng tâm tình, nên mong bạn tạm bằng lòng với tôi, qua những gì đã lượm, ghép cho bức tranh thơ.

Bức tranh thứ 3, Suy Nghiệm Về Thân Phận. Họa phẩm này khá phức tạp, bởi nó là những chùm suy tư về cuộc đời, về kiếp người. Màu sắc tư tưởng, triết lý đều được điều động cho tham dự vào cuộc chơi. Chữ nghĩa từ đó tối sẫm hay sáng trưng, tùy nghi những gì đã được người làm thơ suy ngẫm và diễn đạt:

ta như con nước xa nguồn
lang thang qua những chặng buồn lao đao
ta như một kẻ tại đào
nửa khuya dường có kẻ nào quanh sân
ta như lãng tử nhớ nhà
dặm xa trí mỏi mẹ già bỗng thương
ta như một kẻ lạc đường
quẩn quanh cũng chỉ cõi sương mịt mù
ta như nghìn bọn ngụy tu
tiền căn chưa dứt đa mang lòng trần

(tự thán, trang 65)

Cái ta cũng chính là cái tôi của một người. Cái ta ở đây là anh chàng đa tình, đa tài Khánh Trường. Không bí hiểm, không ỡm ờ, anh suy nghiệm về thân phận mình trong vài chiêu đơn giản. Lý lịch anh từ đó phơi ra minh bạch: Một người bỏ nước ra đi, lang thang qua nhiều chặng đời. Chuyến đi xa không là một cuộc du lịch, mà là một cuộc trốn chạy tử thần lẫn kinh tế. Khi đã tạm yên trong một xứ sở xa lạ, chuyện nhớ nhà, nhớ cha mẹ, vốn nằm sẵn trong lòng, mới lộ ra rõ ràng. Những cảm giác như đi lạc hướng đời, như bị bắt buộc làm người ngu ngơ, để qua giai đoạn đầu khó khăn là điều đương nhiên.

Suy nghiệm về vai trò kẻ sĩ của mình, Khánh Trường có những nét vẽ rất linh động, bất ngờ:

đêm qua nằm thấy một người
vai cung tay kiếm nói cười uy nghi
hỏi ta tên họ là gì
mà xem mặt mũi như loài thi nhân ?
sượng sùng ta đứng chết trân
người cười giọng có đôi phần mỉa mai
rằng: cho đáng mặt anh tài
đao tên trận mạc chí trai tunh hoành
học đòi gió mát trăng thanh
túi thơ bầu rượu tập tành vô vi
hư đời hỏng chí nam nhi
giá cơm túi áo khác gì phàm nhân

giật mình tỉnh mộng phân vân
gẫm suy lời nói có phần sâu xa
ngoài sân chó sủa trăng tà
bên song còn đọng hồn ma họ Từ

(nằm mộng thấy Từ Hải)

Cảm giác sơ khởi: rất thú vị, như vừa được đọc lại Thoại Khanh Châu Tuấn, Phạm Công Cúc Hoa, Lão Trượng Tiên Bửu, Chàng Nhái Kiễng Tiên… của ngày xa xưa. Những câu “… rằng: cho đáng mặt anh tài /gẫm suy lời nói có phần sâu xa, ngoài sân chó sủa trăng tà…” Thật tuyệt vời trong việc giúp trí nhớ hồi tưởng. Cái mộc mạc rất là Lục Vân Tiên, thật thích hợp với câu chuyện kể lại giấc mơ gặp Từ Hải. Tác giả tế nhị và kín đáo khoe danh phận thi sĩ của mình. Đồng thời cũng gián tiếp phê phán cái vô tích sự của những người thương mây khóc gió, thật hư đời hỏng chí nam nhi. Bóng gió miả mai chơi như vậy, chứ thật ra thi sĩ cũng là kẻ sĩ, rất được trọng vọng từ xưa … đến nay (thì chưa chắc!). Vẻ tự hào không phải chỉ lấp ló mà lộ ra khá rõ. Thân phận của Khánh Trường là thân phận của một người sinh hoạt văn học nghệ thuật. Từ xưa đến nay, cái nghề vừa bạc bẽo vừa cao quí này, vẫn luôn luôn được mọi người theo hầu. Nhưng cũng luôn luôn bị ta thán, gào lên vì cái nghiệp này, cái nợ nọ. Người thành danh cũng than, người thất bại cũng vẫn đèo bòng. Đã là chí nguyện sao còn cứ đổ tội cho cái nghiệp. Rất mừng Khánh Trường không diễn vở kịch dở này.

Họa phẩm Suy Nghiệm Về Thân Phận, còn phô diễn ít nhiều suy tư có màu sắc triết lý, dẫn đến những bi quan. Mỗi nét vẽ sẽ không giấu được những phát biểu quan niệm về cuộc đời. Nỗi vui buồn hình như không phân định một thứ tự rạch ròi nào. Những vụn tâm sự cứ chồng lên nhau, thay đổi như một cuộc đuổi bắt. Dẫu gắng bình thản vô tư như con ốc ma “Ta như con ốc ma/ ngủ dưới vầng hoa trắng / nghe thời gian chảy qua / sinh sinh / hóa hóa / vô cùng…” cũng khó lòng phủi bỏ những gì đã có thể tiên đoán, thấy trước:

Các em nào khác chi tôi
loay hoay ăn ngủ đứng ngồi ngu si
mai kia tàn úa xuân thì
các em rồi cũng xanh rì cỏ khâu

(xanh rì cỏ khâu, trang 22)

Ta đã hỏi một nghìn lần có phải
túi càn khôn nằm giữa huyệt đen sì ?
nhưng vạn kiếp luân hồi xoay chuyển mãi
cả đất trời cũng nín lặng vô vi

(Vấn, trang trang 23)

Sự im lặng của đất trời, mặc nhiên đã giải đáp những nghi vấn, xét ra không cần thiết. Nêu lên những câu hỏi liên quan đến kiếp người, chẳng qua để tát bớt nỗi buồn ra khỏi cõi lòng, vốn ham giàu tuổi thọ và niềm vui. Tiếc thay, từ những chung đụng, sinh tồn bắt buộc, nỗi buồn này đẻ ra nỗi buồn kia dây dưa không dứt. Nghĩ cho cùng chuyện phiền muộn, buồn chán nhiều khi cũng là một thức ăn tinh thần, cần có của một đời người. Giả dụ, con người không biết buồn chắc chắn sẽ khó biết vui. Lý luận lẩn thẩn khá ba lơn nhưng đã chắc gì không chính xác được đôi phần.

Không giàu hoa tay như họa sĩ Hồ Thành Đức, sự cắt dán một bức tranh có nội dung tâm linh, trừu tượng bằng nguyên liệu thơ của Khánh Trường quả là rất khó. Mong người ghé xem nên cảm nhận hơn là truy cứu.

Bức tranh thứ 4, Tình Yêu Và Những Hệ Lụy.

Tôi là người rất dốt về hội họa. Nhưng lại rất yêu thích tranh vẽ. Trong đám bằng hữu có mươi ông, bà cầm cọ. Nhiều ông đưa tranh mang về treo cho ấm nhà. Nhiều bạn khuyến khích vọc màu. Nhưng tôi có chút khôn vặt, lặng lẽ cười cười. Riết rồi nhiều người thương cái ngây thơ lạ lạ của tôi. Anh chị nào cũng cho tôi những ấn bản in lại tác phẩm của họ. Tôi có gần đầy đủ những sách quí đó. Mới đây, một nhà văn mua cho tôi một cuốn biên khảo, Nghệ Thuật Tạo Hinh Việt Nam Hiện Đại (của anh Huỳnh Hữu Ủy). Một nhà văn khác đảm nhiệm và chịu bưu phí gởi cuốn sách đó cho tôi. Tấm lòng của bằng hữu thật vô cùng. Nhưng sự thưởng ngoạn nghệ thuật của tôi cứ vẫn lì lợm dừng lại ở mức: chỉ cảm được cái đẹp, thế thôi. Tôi rất mê tranh vẽ thiếu nữ. Xem tranh vẽ người đẹp khỏa thân không là cái ghiền, nhưng xem bao nhiêu cũng không chán. Để bào chữa, nếu có ai chê trách, tôi đã có lời phán của bạn họa sĩ Rừng (anh đang có cuộc triển lãm tại Sài Gòn) để chống đỡ. Xin chia cho những ai cần:

“… Quan niệm thẩm mỹ của Mỹ Thuật là nhằm đến cái đẹp tuyệt đối của thân thể con người, do đó, các họa sĩ hay vẽ con người khỏa thân (nhất là thời cổ điển) nổi rõ những bắp thịt. Một thân thể không quần áo che đậy thì không thể “ăn gian” được. Nó trung thực phô bày vẻ đẹp thực sự của tạo hóa ban cho.

Tại sao người nữ hay được họa sĩ lấy làm mẫu vẽ khỏa thân? Vì trời đất đã tạo dựng “NÀNG” có một thân thể đầy quyến rũ với những đường cong, nét lượn dịu dàng tuyệt mỹ (Có thể đây là một ẩn ý của Con Tạo trớ trêu để người nữ trở thành Mẹ của nhân loại chăng!?) Cho nên họa sĩ hay lấy người nữ khỏa thân làm mẫu sáng tác tác phẩm..”
(Rừng)
Dĩ nhiên anh bạn họa sĩ không chỉ ngắn gọn có vậy. Anh viết nhiều, tôi trích ít vì chỉ cho phép sự lạc đề của mình có giới hạn. Tóm lại, xem tranh nhiều nhưng để chỉ mặt một bức nào đó, để gọi tên Tình Yêu Và Những Hệ Lụy, chắc chắn tôi bó tay. Tuy vậy, đề tài này qua thơ Khánh Trường, tôi nghĩ mình làm được. Và gắng tìm những nét chính để mời các bạn thẩm định.

Với tình yêu, ở đời thường, Khánh Trường thật phong phú. Nhưng có thất bại, có thành công. Trong thơ anh, bức tranh tình yêu đương nhiên có mặt. Trước nhất, trên khung chữ ta thấy những nét vẽ từ quan niệm tình yêu :

Tình nồng như rượu cay
tình say hoài suốt kiếp
tình như con sâu độc
ung thối trái đời tôi !

(tình)
Rượu cay là “thành phần” tốt cho tình. Nhưng trong tình còn có “một thế lực thù địch” của rượu cay. Hai tính chất đối đầu này làm cho tình trở nên hấp dẫn, quyến rũ hơn. Và gần như trong cuộc sống ít có người thoát được lưới tình, hay bẫy tình.

yêu có phải là trốn vào cõi khác
lãng quên đời lạ mặt tha nhân
yêu có phải là tự mình hủy diệt
một điều gì như thể bản thân ?

(yêu)

Dẫu biết sẽ phải hủy diệt một cái gì đó rất quí giá của mình, một người mới vừa:

“Mười sáu tuổi ta thèm như si dại”

Trước hình ảnh

“đồi no căng cồn cỏ mượt nhung mềm
nên một buổi ta điên cuồng cúi lạy
“ô, đất trời bỗng nhỉ lệ thương vay”

Thì đâu có ngại mất tự do, tự hào, hay bấy kỳ thứ gì khác.Trước nhan sắc, anh chỉ tâm niệm và mãi mê vẽ vời không chán vóc dáng, nhan sắc, dù một đôi khi có chút nghi ngại sự thủy chung:

Vẽ em trán ngọc tai ngà
đường ngôi chẻ giữa, tóc pha hương trầm
vẽ em răng khểnh duyên thầm
môi non mộc dược, má dầm tuyết trinh
vẽ em vẽ bóng vẽ hình
làm sao vẽ được cái tình xưa sau ?

(chân dung, trang 35)

Sự quyến rủ của người con gái, của đối tượng ái tình, không chỉ có ở sắc nhan, mà còn phát xuất từ những mùi hương. Da thịt mỗi người đều có một mùi riêng. Không ít cặp nhân tình ghiền mùi riêng biệt của nhau. Khánh Trường có vẻ tham lam hơn, anh nghiện chung chung cái mùi đàn bà:

Trần truồng ta đứng thâu đêm
cảm nghe mặt đất nhão mềm dưới chân
‘trời cao cúi xuống ngại ngần…
cả cười ta rống một lần nữa thôi
trăm năm tắm gội liên hồi
chắc chi rửa sạch mùi hôi…đàn bà

(mùi hôi đàn bà)

Tán gái là một nét chính không thể thiếu trong bức tranh thơ tình. Nghệ thuật và bản lãnh của Khánh Trường ngoài đời ra sao, chúng ta không rõ. Chỉ nghe bàn tán rất nhiều o thèm cái tài hoa, phong nhã của anh. Trong thơ, Khánh Trường không nhiều hoa hòe:

Gái không chồng phòng không chiếc bóng
ta hiền tài còn ngại chuyện chi
mai này một bước gái đi
lấy thơ ta trải xuân thì gái qua

(gái)

Và khi môi đã tìm đến với môi, lưỡi đã tìm đến với lưỡi, thiếu thừa chỗ nào cần bù đắp cho nhau đã hoàn tất, Khánh Trường thật dịu dàng:

cúi hôn em, cảm ơn đời
cảm ơn hạnh phúc tuyệt vời chiêm bao
cảm ơn sợi tóc ngọt ngào
ngủ trên buồng ngực xôn xao nhịp trầm

(xôn xao nhịp trầm, trang 42)

Hạnh phúc tinh khiết, ngọt ngào ấy, nếu nhỡ bị chia lìa, đương nhiên tạo nên những đau đớn, chua xót thường tình:

Sáng nay trong quán đông người
ta như xác tượng biếng lười nói năng
sáng nay đời sống cùn mằn
ta con thú lạ nghiến răng ngậm sầu
thật tình đã hiểu từ lâu
yêu em là tự chuốt sầu chung thân
yêu em là đã nghìn lần
ta đưa ta đến mộ phần quạnh hiu
yêu em là mất ít nhiều
cái ta khinh bạt giữa triều tôn vinh

Sáng nay xanh cỏ bia tình
có ta ngu dại giết mình thảm thương !

(khi người lỡ hẹn, trang 24)

Cái bi quan ở Khánh Trường có vẻ còn rộng hơn. Bởi ở đây, sư đánh mất người yêu đến sau cái mất bản chất, quả thật thấm thía. Nét vẽ cho thấy tâm trạng buồn, chán, giận, tức… một cách mãnh liệt. Nhưng rồi theo thời gian, nỗi thất tình cũng trở nên nhẹ nhàng giàu thi vị trở lại:

Ngả lưng gối lá nhìn trời
nắng muôn sợi nhỏ rơi rơi đầy hồn
chút tình xưa đã héo hon
nhớ em ta cũng mỏi mòn cuộc ta

(mõi mòn cuộc ta, trang 26)

Bức tranh Tình Yêu Và Những Hệ Lụy lượm được từ thơ Khánh Trường chỉ có vậy, lung linh, mỏnh mảnh, khác hẳn những nét cọ khi Khánh Trường trải màu lên khung vải. Thơ và họa của Khánh Trường thật sự khác nhau ở điểm này. Một bên đậm đà, tích cực, một bên giản dị, tượng trưng. Nhưng mỗi cái đều có cái hay riêng của nó. Và cả thơ lẫn nhạc đều có cái hồn của Khánh Trường cư ngụ trong đó.

Họa phẩm cuối cùng, với riêng tôi, tìm thấy trong thơ Khánh Trường, mang tên Quê Hương Trong Niềm Thương Nhớ. Phải nói ngay bức tranh thơ về một con đất, một cõi trời, do Khánh Trường hoàn thành thật đặc biệt. Cảnh sắc quê nhà như mất chỗ đứng trong thơ anh. Hình ảnh quê hương chỉ tồn đọng trong sự nhớ thương. Tác giả không gợi lại, không gọi tên. Tất cả chỉ nằm nép trong hơi thơ :

Ở đây ta sống như mù
lao đao giữa vũng ao tù áo cơm
ngày lên, mửa mật trào đờm
đêm buông, trở giấc lạnh căm chỗ nằm
quê nhà hun hút mù tăm
mòn con mắt đợi, điếng hồn cố hương !

(điếng lòng cố hương, trang 27)

Vầng trăng quê cũ còn kia
mà sao sương đã đầm đìa nẻo qua
đêm đêm quặng thắt nỗi nhà
tóc chưa điểm bạc, hồn xa vực trầm

(nỗi nhà, trang 31)

Măng chua sắp cạnh hũ cà
dưng không nhớ quá hương nhà năm xưa
mười năm nữa, liệu về chưa
hay quê người kiếp sống thừa kéo lê !

(hương nhà năm xưa)

Đọc những đoạn trên, không hiểu sao tôi chợt nhớ đến nhân vật Cổ Giả Trường trong vở kịch Thành Cát Tư Hãn của kịch tác gia Vũ Khắc Khoan. Là một nhân vật quan trong, một cái đích để nhiều nguyện vọng, mục tiêu tìm đến, nhưng lại vô hình. Nhân vật chỉ xuất hiện bằng một cái tên gọi, đủ mang hy vọng, động lực đến cho mọi người. Quê hương trong thơ Khánh Trường cũng là một tên gọi, không lũy tre xanh, không bến nước, bến cảng, hay lâu đài cao ốc nào. Anh chỉ dùng cái niềm đau, nỗi nhớ để vẽ lên nhan sác, vóc dáng của quê hương mình. Điểm mới lạ này, hình như Khánh Trường một mình một ngựa, và đi đến nơi về đến đích.

Nhớ cảnh chẳng thể nào không nhớ người. Và người ở thơ Khánh Trường cũng rất “mờ mờ nhân ảnh”. Nhưng cái đáng nói nhất, là anh dùng hình ảnh người để nói lên nỗi cô đơn. Không có gì chua xót hơn, muốn gọi nhưng lại sợ ngay tiếng gọi của chính mình lạc lõng và gây thương tích cho cõi lòng mình:

Nhớ người lên ngọn đồi đông
nhìn ngang nhìn ngửa nhìn mông đất trời
chạnh lòng muốn gọi người ơi
sợ nghe tịch mịch vọng lời vô âm

(đồi đông, trang 49)

Sầu vàng mấy ngọn cây khô
dưới sâu biển động lô xô sóng bồi
đá cao vách dựng, im ngồi
nghe thinh không vọng mấy hồi chuông xưa
tay run đốt mẩu thuốc thừa
khói bay hồn đắng nửa trưa ngậm ngùi

( trang 50).

Bức tranh quê hương trong thơ Khánh Trường đơn giản, nhẹ nhàng, và khác hẳn những bức tranh quê đã từng nổi tiếng trong văn học việt Nam. Vẻ đẹp trong tranh quê của thơ Khánh Trường không phụ thuộc vào màu sắc, hình ảnh, mà đẹp từ những gợi nhớ thấp thoáng.

Mặc dù quá trình hình thành lẫn sự tha thiết trình làng một tác phẩm có vẻ không được cẩn trọng, tích cực Đoản Thi Khánh Trường vẫn có đầy đủ tính chất nghệ thuật của thi ca. Những điều kiện Du Tử Lê nhắc nhở đế “đến với thi ca” để “ở lại với văn chương” tập thơ đều không thiếu.

Gom thơ để làm thành từng bức tranh thơ chỉ là một trò chơi của tôi, còn rất nhiêu sơ sót. Nhưng tôi mong sẽ có cơ hội thực hiện tốt hơn, ở những tác giả khác. Cái sót dễ thấy nhất của tôi trong thơ Khánh Trường là, thơ anh còn có thể dựng lên nhiều họa phẩm khác. Ví dụ:

Đùa với cái đam mê hội họa của mình, anh viết:

vẽ lăng nhăng, vẽ lằng nhằng
vẽ xanh vẽ đỏ vẽ đen vẽ vàng
cố tìm trong cái hổn mang
cái mưa nắng rất dịu dàng nắng mưa

vẽ hoài vẽ đã được chưa
cái phần bất khả thiếu thừa cực vi ?

(vẽ)

Bực mình vì những đau đầu sổ mũi đời thường cũng lên thơ:

Râm rang tiếng dế quanh nhà
bấc tàn, khói đụn, mái ngang gió lò
ta nằm chân duỗi chân co
tay ôm ngực nén cơn ho chực trào

(bệnh)

Gia đình, bè bạn thì không thể nào anh cho phép thơ anh giả lơ:

Vợ con giờ đã quá xa
bạn bè dăm đứa quê nhà điêu linh
giật mình nhìn mặt hoảng kinh
ồ ta, dơ dáng dại hình thế sao ?

(ta)

Nhìn con khóc ngất từng hồi
tay quơ chân đạp mặt mày đỏ gay
ra
vào
lên
xuống
quắt quay
cha như một kẻ nửa say nửa khùng

(con đau)

Lưng cong mắt cận thân gầy
bệnh trong tim óc bệnh đầy xương da
nhớ người ta chợt thương ta
cũng thân cát bụi trong bao la đời

(Nguyễn Tôn Nhan)

Ngoài đời, Khánh Trường là một trong những tay rượu hảo hạng, nhưng khác với Hoàng Lộc, Phan Xuân Sinh, Cao Thoại Châu, Lê Vĩnh Thọ… hương rượu rất ít khi ghé vào ở đậu trong thơ anh, có chăng là chỉ thoảng qua:

Nhiều khi uống rượu một mình
mới hay trong bụng lình bình điều chi
rượu say ôm bóng ngủ khì
sáng ra bản mặt chai lì, chán chưa ?

(lình bình điều chi)

Những lúc như vậy nhà thơ không quên bản tính đùa vui của mình:

Kiếp sau xin chớ làm thằng
làm ông mãn kiếp cho bằng người ta
người ta gấm vóc lụa là
thân trần tục cũng bằng ba thánh thần

(bắt chước Nguyễn Công Trứ, trang 37)

hoặc:

“Cái lưỡi không xương
nhiều đường lắc léo”
em tròn hay méo
chấp !

(chấp, trang 28)

Xin đùa với Khánh Trường một chút. Anh đừng “chấp” khả năng đối phương làm gì. Hãy tạm thay từ “chấp” bằng từ “Miễn” sau đó anh thêm vào ba chữ nữa, để bài thơ bốn chữ tròn khổ. Anh đọc lên nghe ra sao ?

Sống. Viết văn. Vẽ. Làm báo. Làm thơ. Làm tình. Lang thang cụng chén cùng bè bạn. Ở cao ốc. Ở căn hộ. Ở ga ra. Được cho đội mũ có sao. Được mời “làm việc” phải quấy. Ba lần tai biến mạch máu não. Ung thư thực quản. Loét bao tử. Vào ra bệnh viện như cơm bữa. Được người đẹp tranh nhau săn sóc. Được bè bạn cưng chìu, phản bội… Bao nhiêu chuyện trên đời, vui, buồn, hình như đều đã trôi qua thân thể Khánh Trường. Anh vẫn còn đứng vững, vẫn còn làm việc. Con người có ý chí chiến thắng bệnh tật và những phiền lụy đời thường ấy, tự viết lý lịch của mình:

“…sinh ra, lớn lên, đi học, đi giang hồ, đi làm… du đãng. 1968: đi lính, 1970: bị thương. 1972: giải ngũ. 1987: vượt biển đến Thái Lan. 1988: định cư ở Nam California, Mỹ.Nghề chính: không có. Nghề phụ: thập cẩm. Một cuộc đời trôi nổi hư hỏng và tầm thường, nhợt nhạt đến chính chủ nhân cũng phải thở dài !”
(chung cuộc, trang170)

Xin bổ sung:

Khánh Trường là tên thật, mang họ Nguyễn con trai ông Nguyễn Viết Hậu, một họa sĩ, có phòng bày tranh và xưởng vẽ trên đường Hùng Vương Đà Nẵng. Anh được ra đời năm 1948 tại Khánh Thọ, Tam Kỳ, Quảng Nam. Anh từng có mặt trong binh chủng nhảy dù, thuộc quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Các bút hiệu đã dùng: Kim Thi, Nguyễn Thị Giang Châu. Hiện vẫn hít thở tại quận Cam Hoa Kỳ.

Nói về mình, một đôi khi, Khánh Trường có đôi chút châm biếm, nhưng vẫn thành thật:

“… Ngày xưa tôi đại lượng, trượng phu, can đảm, ăn ở đúng đạo nghĩa như một tên du đãng/ Ngày nay tôi hèn nhát, hẹp hòi, nhỏ mọn, láu cá và thù vặt như một nhà văn…”
(Nguyễn Mạnh Trinh, Khánh Trường)

Cái chua chát của Khánh Trường, không có tính cách cường điệu. Nhận xét, đánh giá của anh không hẳn chỉ ám thị chỉ trích, mà nói lên ít nhiều sự thật. Chắc có người không ưa anh ở điểm này. Cũng nhiều người thích mến anh ở điểm này.

Để bài viết về thơ Khánh Trường khép lại với ít nhiều chất thơ, tôi nghe nói nhà thơ kiêm nhạc sĩ Phan Ni Tấn đang thực hiện những trang PPS về Bạn Văn Một Thời Xanh Tóc, giới thiệu nhiều khuôn mặt thơ, nhạc, họa…, tôi bỏ công tìm để chôm bỏ vào bai viết. Nhưng tìm mãi không được. Thôi đành cầm nhẹ mấy câu phấp phơ, không mấy người biết, để tạ cái sự nghiệp của Khánh Trường, để lại cho văn học nghệ thuật Việt Nam:

hết xuất rồi lại nhập
bệnh viện trở thành nhà
vi trùng đã là bạn
cõi chơi cứ tà tà
Chỗ Tiếp Giáp… cái hoa
ngọn cọ thần, ấy mà
vẫn lung linh nét họa
có đủ người, đủ ma

Hà Khánh Quân, bút hiệu khác của Lê Ngọc Châu (Luân Hoán)
13g21, ngày 24-9-2009
Nguồn: Tác giả gửi

Đã đóng bình luận.