Đã tàn chưa những cánh hoa ta từng tưới nước qua loa bên đường (*)

Posted: 02/04/2011 in Biên Khảo / Phê Bình, Hồ Đình Nghiêm
Thẻ:

Hồ Đình Nghiêm


Thi sĩ Luân Hoán qua nét phác họa của Hồ Đình Nghiêm

Ở Huế, một nam sinh trường Quốc Học bị bạn bè gán cho danh xưng: “Thất tình đại hiệp”. Rụt rè, ăn nói nhỏ nhẹ, dễ đỏ mặt, người con trai ấy sau này trở thành một nhà văn, một thi sĩ. Như đa số bạn cùng trang lứa, chàng vào sống đời quân ngũ. Khi tôi có cơ duyên gặp mặt, năm 1974, chàng đã mang cấp bậc Trung úy, Sư đoàn 1 Bộ binh, trú quân ở Dạ Lê. Trung úy Quảng không mang tác phong một người lính. Nếu trộn lẫn hình ảnh gã thất tình đại hiệp vào người, thủy chung bộ dạng chàng vẫn là một sinh viên luôn ngần ngại. Tóc có ngắn đi, mặt mày đen đúa chút đỉnh; chỉ vậy thôi, chẳng biến tướng. Chúng ta không lạ, khi bắt gặp toàn bộ không khí an lành về thế giới học trò trong hầu hết tác phẩm của chàng: Người ký bút hiệu Mường Mán. Hỏi: Tên ấy do đâu? Trả lời: Vì không dưng, đọc truyện Tô Thùy Yên, bị ám ảnh cảnh đôi tình nhân phải chia tay ở sân ga Mường Mán. Rồi từ đó…“chết” luôn một danh xưng.

Hơn trăm cây số đường chim bay, qua khỏi những chân đèo, đổ xuống Đà Nẵng, dưới mái trường Phan Chu Trinh cũng có một nam sinh luôn mộng mị cùng nàng Thơ. Trái ngược với thất tình đại hiệp, người con trai có mái tóc bồng bềnh nghệ sĩ ấy dường như luôn ẩn nấp dưới bóng dâm của cung đào hoa, theo cách lý giải về tướng số. Có thể chàng là người bất bình, không hài lòng khi nghe ai kia ngâm nga: “Học trò trong Quảng ra thi, thấy cô gái Huế chân đi không đành”. Chưa chắc. Hòa Cầm, Phước Tường, Hòa Vang, Nam Ô, Liên Chiểu… đâu mà chẳng có gái đẹp! Chợ Mới, Cổ viện Chàm, Sao Mai, Lê Đình Dương, Bạch Đằng, Độc Lập, Đồng Khánh, Trần Hưng Đạo, Hoàng Diệu, Ngã Năm, Hùng Vương, Chợ Cồn… của một Đà Nẵng dọc ngang những mối tình vướng chân, giăng bủa. Lạ gì? Chàng làm thơ từ tuổi 16. Thủy chung với Đà Nẵng, sao phải lặn lội ra Huế cho nhọc thân?

…”tôi thấy con đường ra Hòa Khánh
lòng cầu Đỏ chở một vòng tay
tóc cù sau gáy đùa lên má
khúc khích em cười: Khéo gió bay!”

Chàng có lắm bút hiệu, sau này rơi rụng cả,“gió bay”mất, chỉ còn một, duy nhất, định hình cõi thơ riêng biệt: Luân Hoán. Hỏi: Bút hiệu ấy do đâu ra? Nhớ thời học đệ Thất đệ Lục, những trò viết chữ đẹp trong lớp được cô cho giữ vở luân hoán, rất lấy làm hãnh diện. Luân phiên, hoán chuyển, giữ gìn cuốn vở ấy như một bảo vật, rất mẫu mực… Trả lời: Không đúng, tôi ghép tên song thân lại mà thành.

Nghe, khởi thủy đã có ấn tượng đẹp về chàng. Một trái tim rộng lớn, yêu sa đà mọi thứ giữa đời mênh mông, và để khỏi vấp ngã, nhớ đến mẹ cha, tự khắc biết kềm giữ lại ở một giới hạn. Sự giới hạn luôn cần thiết cho một nhà thơ. Như ngọn đèn cháy đỏ giữa những ngã tư đầy tăm tối. Luân Hoán, như Mường Mán, như Hồ Minh Dũng, như Trần Hoài Thư, như Nguyễn Bắc Sơn, như Tô Thùy Yên… cuối cùng đều nhập ngũ. Sẽ không gọi là chàng Luân Hoán nữa, mà đổi thành ông. Ông Thiếu úy Lê Ngọc Châu, khóa 24 sĩ quan trừ bị Thủ Đức. Trước ngày “đổi đời” ông ghi lại sự việc xẩy ra qua bài thơ “Một Ngày Trước Khi Trình Diện”:

“Bỏ lệnh gọi trong túi quần
Tôi đi qua từng đường phố
Không biết phải làm gì
Tôi trở về rửa mặt
Quyết định ngủ một ngày
Thản nhiên không mơ mộng

Bỏ lệnh gọi trong túi quần
Ngồi lật chồng sách cũ
Không biết phải làm gì
Ngó loanh quanh chỗ ở
Chợt nhớ người mẹ già
Trên bàn thờ ám khói
Tôi thắp một nén hương

Bỏ lệnh gọi trong túi quần
Mở tìm từng ngăn tủ
Không biết phải làm gì
Tôi bán xôn quần áo
Đi ăn tô bún bò
Thản nhiên không suy tính

Bỏ lệnh gọi trong túi quần
Cứ làm thơ cái đã
Không biết phải làm gì
Tôi dán trên vách cửa:
Một người sắp hy sinh
Bạn bè đừng ca ngợi

Và bỗng thèm hôn em
Tôi đạp xe ra phố
Thảnh thơi thở tự do
Ngày cuối cùng dân sự

Bỏ lệnh gọi trong túi quần
Bắt tay bác cảnh sát
Tôi vui vẻ đứng cười
Đêm bắt đầu vây phủ
Tôi hoàn toàn vô tư.”

Bài thơ hay, bình thản lạ lùng, nếu có nghe ra giao động, thì đó chỉ là thoáng phân vân, chút sật sừ “không biết phải làm gì”. Thời gian có vẻ ngưng đọng lại. Rãnh rang quá. Rãnh tới độ lập lui lập tới cái điệp khúc “Bỏ lệnh gọi trong túi quần”, xong, lại “chẳng biết phải làm gì!”. Cái hay của bài thơ nằm ở chỗ: Ông hoàn toàn thảnh thơi, ông chẳng ưa toan tính, ông đang tìm cách phủi tay. Nhưng chúng ta, người đọc thơ ông buộc phải hoài nghi, phải bận bịu, phải hứng chịu nỗi rã rời ông vứt bỏ đằng sau. Ông cho ta cái cảm giác bất an dù ông nói rằng ông đang vui vẻ. Ông dắt chúng ta vào phòng, đóng lại cánh cửa duy nhất và chúng ta bần thần, sợ khi phải mở rộng cánh cửa đó. Ngày mai, trời sáng, có người đi trình diện nhập ngũ. Và định mệnh sẽ gọi tên may rủi kẻ đi đùa nghịch dưới hòn tên mũi đạn ấy. Lành ít dữ nhiều. Xui xẻo tràn lan, cơ may chẳng mấy hột!

“…hôm đó nghe đâu trời nóng lắm
nắng tràn bốn phiá nắng bao vây
lâu lâu gió biển vung roi quất
muối xác thâm đen cả mặt mày

bạn mới ngã lưng lim dim mộng
cạc-bin bảy chin lẫn A.K
trời xanh thăm thẳm hồn nhiên quá
phận số dành riêng mỗi chúng ta?

*

Một thanh niên bị động viên, hỏi vị sĩ quan quân đội:

– Tại sao họ lại bắt tôi phải đánh nhau với một người ở vùng đất xa lạ, một người mà ngay cả mặt mày anh ta tôi cũng chẳng mường tượng ra nó tròn hay méo?

Vị sĩ quan giải thích:

– Họ không buộc anh phải đánh nhau với kẻ khác. Họ cũng không yêu cầu anh phải giết người khác. Chỉ đơn giản là họ cho anh mặc quân phục, đặt vào tay anh một khẩu súng và đưa anh đến chiến trường. Sau đó, anh đối mặt với kẻ thù, người đó cũng có một khẩu súng… Rồi họ để anh tự quyết định. Anh có thể không giết kẻ thù kia mà…

Hỏi và trả lời. Thắc mắc và giải đáp, nghe như cóp nhặt từ đối thoại của những nhân vật do Erich Maria Remarque nhào nặn ra. Từ “Chiến Hữu”. Từ “Một Thời Để Yêu Và Một Thời Để Chết” chẳng hạn. Hay “Bia Mộ Đen”? Hay “Mặt Trận Miền Tây Vẫn Yên Tĩnh”? Không, hà cớ gì phải vượt biên qua tận nước Đức xa xăm. Và xa xưa. Hãy nghe Tô Thùy Yên kể chuyện. Mới, như vừa hôm qua:

“… Ví dầu ngươi bắn rụng ta
Như tiếng hét
Xé hư không bặt im
Chuyện cũng thành vô ích
Ví dầu ngươi gục
Vì bom đạn bất dung
Thi thể chẳng ai thâu
Nào có chi đáng kể

Ở cõi âm nào ngươi vốn không tin
Hỏi nhau chơi thỏa chút tính bông đùa:
Ngươi cùng ta ai thật sự hy sinh
Cho tổ quốc Việt Nam- một tổ quốc?
Các việc ngươi làm
Ngươi tưởng chừng ghê gớm lắm
Các việc ta làm
Ta xét thấy chẳng ra chi
Nên ngươi hăng điên, còn ta ảm đạm
Khi cùng làm những việc như nhau…”

Hãy nghe Nguyễn Bắc Sơn phân trần:

“… ta vốn hiền khô ta là lính cậu
đi hành quân rượu đế vẫn mang theo
mang trong đầu những ý nghĩ trong veo
xem cuộc chiến như tai trời ách nước
ta bắn trúng ngươi vì ngươi bạc phước
vì căn phần ngươi xui khiến đó thôi…”

Và nghe Trần Hoài Thư, trung đội trưởng thám kích thuộc Sư đoàn 22 Bộ binh:

“… hành trang ta là lựu đạn dao găm
thêm tuổi trẻ ta già như quả đất
thêm một trái tim ngự đầy Chúa Phật
thêm một cõi lòng tràn ngập quê hương
khi đánh nhau thắng bại lẽ thường
chỉ mong đàn con bình an vô sự
chỉ mong trở về gặp nhau đụng rượu
lỡ chết rồi, hồn cũng thoát thành men…”

Những người bộ đội xâm trên cánh tay hàng chữ “Sinh Bắc Tử Nam”, họ có viết được những dòng thơ như vậy? Bốn chữ Sinh Bắc Tử Nam nghe có vẻ như một thứ Kamikaze ôm bom tự sát. Đầu óc chật chội luôn trăn trở niềm ám muội chết chóc, họ sẽ cảm thấy xa lạ bởi cái tình cảm ủy mị tiểu tư sản của anh lính Ngụy. Bài “Viết Cho Thằng Em Cùng Trung Đội” của Trần Hoài Thư ướt đẫm, úng thủy chất “phản động” ấy, đánh mất “lập trường”, nghe ngậm ngùi dâng cao:

Một chút cay cay mà lòng bỗng tủi
Buồn thì về, đừng nán lại, thằng em
Không sao cả, lên cao rồi xuống vực
Đất mở rồi, ở lại cũng buồn thêm

Chuyến tải thương cỏ rạp mình trải thảm
Xám sườn non, buổi ấy mới ra quân
Lên, trèo lên, ngựa rung bờm, tóc xõa
Hứng trăm ngàn oan nghiệt buổi thù chung

Cùng đứng lại, hai chân nghiêm, cúi mặt
Đây hàng quân đọc lại thiếu tên em
Người lính trẻ chưa đầy hai mươi tuổi
Nhớ thì về, cốc rượu để phần em…

Người lính, họ có nhiều dung mạo. Chân dung một người lính qua nét vẽ Luân Hoán rất đáng yêu. Đáng yêu, bởi trước tiên, người lính đó đích thực là một nghệ sĩ:

“Vào giờ G ta ra mặt trận
ngồi trước ca-bin ngủ gật ngủ gà
một chút nhớ em, một chút nhớ
cái thằng nào đó giống y ta
xe bỏ mắt mèo qua Châu Ổ
chờn vờn trước mắt bóng ma trơi
nhìn lâu lại hóa ra đom đóm
buồn bã bay khan ở cuối trời
ếch nhái ve nhau loạn thiên hát
lạnh lùng hơi đất cuốn hơi sương
che tay ngồi kéo dài hơi thuốc
nhớ cái… lưng em thật dễ thương
nhét cái bản đồ trong áo giáp
khẩu Colt ngủ mỏi một bên đùi
câu thơ chợt đến chợt đi mất
mặt trận từ ta nối tới người
………
mờ sáng quân vào hết mục tiêu
tầm tã mưa vây đời hắt hiu
đứng nhìn đồng đội bung lục soát
mưa tạt lạnh lòng mắt đăm chiêu
gác súng lên đùi nghĩ vẫn vơ
đầu đêm qua ngủ, nhớ còn mơ
mắt em đưa đẩy hai đầu võng
ta ngủ giữa lòng em với thơ
trời sáng dần dần trong lưới mưa
trơ bên nền cháy gốc cây dừa
ở đây cây cỏ đều sống thật
chỉ có riêng ta có vẻ thừa
……….
địch phá đám ta không kiêng nể
cái giờ tịnh khẩu nghĩ về em
cuồng tay rút súng phơ bờ bụi
phơ cả đất trời đang muốn quên
……….
một loạt đạn bay một ngày ập tới
một phút làm người sung sướng biết bao
nhưng dẫu tình cờ thân đầy vết đạn
chẳng oán hận gì vì vẫn chiêm bao”.

Tập thơ đầu tiên của Luân Hoán là tập “Về Trời”, in năm 1966. Rồi “Trôi Sông”. Rồi “Chết Trong Lòng Người Yêu Dấu”. Mỗi năm ra đời một tập thơ, cho tới 1970 thì xuất hiện “Nén Hương Cho Bàn Chân Trái”, thực hiện chung, cùng dăm ba hiền hữu góp mặt. Hãy để ý tới tên gọi, cách đặt tựa cho mỗi thi tập. Chứa đựng điềm gỡ, nghe như đó là lời phân ưu được soạn sẵn, thứ cáo phó có thời gian để thong thả “nhuận sắc”. Sau cùng là gì, sau cùng: Người chiến sĩ luôn chiêm bao mộng mị kia đã phải để lại bàn chân trái tại mặt trận Quảng Ngãi vào năm 1969.

Khuôn mặt chiến tranh ít còn hiện diện trong thơ ông, từ biến cố buồn bã kia. Nếu có, chỉ là sự cực lòng khi buộc phải hồi tưởng lại. Ông cố quên, ông lui về đời dân dã và ngợi ca tình yêu không mỏi mệt. Thời gian này ông thích nuôi chim, cá cảnh, yêu đời thực vật hoa lá cành và đêm về thường mộng những cảnh sắc trong liêu trai. Ông tựa như một vị quan ngày xưa chán cảnh triều chính lui về ẩn náu chốn tịch lặng sân trước vườn sau. Cho nên, trong thơ ông, nổi ra điểm dị biệt: Những chuyện gay cấn, sinh tử, khẩn thiết, nghiêm trọng, lớn lao… ông đều kéo nó xuống thật thấp, bình thường hóa mọi thứ. Và những cái nhỏ nhặt đáng yêu hiển hiện thường hằng quanh ông, ông sẽ rộng lòng mang đặt nó lên đỉnh cao, đường bệ. Ông phả linh hồn vào những vật vô tri ông bắt gặp trên đường đi, ông muốn chúng chia sẻ cùng ông những thở than hoạn nạn, những hạnh phúc xối xả tình cờ.

Đọc thơ ông, những ai tiếp cận lần đầu, sẽ ngỡ tác giả là một thi sĩ trẻ. Rất mực trẻ trung. Trẻ tới bến. Vì sao? Vì cái chất tinh nghịch, chút phá phách nằm ẩn nấp đâu đó dưới những câu cú dung dị thuần khiết. Chấm xuống hàng là quậy, sau dấu phẩy là van nài “mời em lên ngựa”. Đứng kề bên dấu than là yêu chết bỏ bể bỏ. Sau lưng dấu chấm hỏi là sự mè nheo đòi ăn chè… Một sứ giả của tình yêu, làm sao kẻ đó có thể già cỗi được? Họ sẽ bị mất việc, sẽ bị đuổi khỏi vườn địa đàng ngay!

Ngoài những bóng hồng, hết Phạm tới Tôn Nữ, hết Nguyễn đến Trần, hết Hồ tới Lê, hết Châu tới Đặng… sau cùng là Lý. Ngoài những tình nhân, người yêu một ngày, người yêu đôi ba tháng cho tới kỳ cùng là người bạn đời; trái tim rộng lớn của ông còn để dành một ngăn trang trọng cho bè bạn. Khi nhớ bạn, ông cẩn trọng mặc áo quần lục bát vào từng kỷ niệm. Ông chia đều cho mỗi người bốn câu, những cảnh đời trung thực, những phần số không may, những hoạn nạn. Máu, nước mắt, tiếng cười nghẹn ứ, bốn món ăn chơi trần ai khoai củ tùng tam tụ tứ trộn lẫn vào nhau. Chỉ xin mạn phép nhặt ra chút ít gọi là cùng nhau chia ngọt xẻ bùi:

“tay mày không có hoa tay
thôi mày chùi súng, đánh giày giùm tao
tuần sau bò lạc nào vào
tao hứa chia bớt mày xào khô chơi”

“bạn về trời tết Mậu thân
ngay khi gõ cửa thất thần gọi ta
ta rời phòng trọ đêm qua
để bạn lãnh đạn làm ma trước thềm”

“ghé Tổng y viện Duy Tân
thăm Chân Tu bỏ một chân trên rừng
một năm sau tau hành quân
không ngờ trời bắt anh hùng như mi”

“xe thồ dừng giữa sân trưa
nhói vai, rơi nạng, mày đưa tay quàng
cắn môi, sao lệ cứ tràn
ta chưa tử trận, bạn vàng khóc ai?”

“theo quân tái chiếm Cổ thành
ghé thăm tôi cạnh bờ xanh sông Hàn
lòng tôi đâu nỡ cư tang
thương anh ngồi vọc nắng tàn trên sông”

“dách, thùng, cù lũ cũng thua
cái khe cửa hở gió đưa Tam kỳ
chẳng hay bạn sùng đạo chi?
bốn mùa tâm nguyện chân qùi trước hoa”

“hăm chín tháng ba bảy lăm
chia tay nhau tại Ngã Năm dặn rằng:
thằng nào sống, phải nhớ ăn
thêm tô mì Quảng cho thằng chết đi”

“cắt cờ giải phóng miền Nam
anh cho tôi dán vội vàng trước hiên
nhờ bùa, qủi tạm để yên
đêm nằm cứ sợ ngụy quyền lộ ra”

“sinh thời tôi, bạn chơi thân
mấy trang sử lật, rẻ phân đôi dòng
tôi hơn bạn cái lưu vong
bạn hơn cái mộ giữa lòng quê hương”

“cái nắm tay chặt và nồng
vừa gặp đã chợt hiểu lòng dạ nhau
máu nhà binh vẫn một màu
tôi anh còn nặng cái đau tan hàng”.

Ở trên là những mảnh vụn, tựa như trò chơi Jigsaw Puzzle. Ráp lại, toàn bộ hiển lộ một hình ảnh rõ nét: Thảm thương và chân thành. An ủi và khí khái. Đùa cợt và cảnh tỉnh. Nhưng quan trọng hơn cả, tình nghĩa thay người làm ra những câu thơ ấy! Xúc động thay, qua dâu bể, tâm ông vẫn thủy chung, ăn đời ở kiếp với lòng thành.

Tôi chưa từng vào quân đội. Và tháng ngày mà Luân Hoán gặp hoạn nạn, tôi vẫn là đứa học trò yên hàn vô sự ngày ngày cắp sách đến trường. Tôi đi học giữa tan tành đổ nát, Huế chưa gượng dậy được với vết chém tàn nhẫn Mậu Thân. Mưa vẫn còn rơi, gió vẫn luôn thì thầm lời quyến dụ trên hai hàng lá cây; hay đó là nước mắt, là tiếng than uất nghẹn của những hồn oan? Một địa ngục có thật? Tôi đi học và thầm cám ơn những quân nhân, đã hy sinh mọi thứ cốt chống đỡ làn sóng đỏ từ phương Bắc tràn xuống. Họ vứt tuổi xanh, họ giã biệt gia đình, mang thân làm lá chắn, nhằm bảo vệ cho vùng đất mà tôi đang sống thở từng ngày.

Tôi chưa là lính, nhưng nếu được, xin cứ xem đây là bản báo cáo của một “thằng em cùng Trung đội” đã lạc đơn vị từ hôm triệt thoái vùng Một chiến thuật để lầm lũi di tản, mãi miết di tản. Dòng thơ miền Nam trước 75 cũng là một thứ Puzzle, vung vãi nhiều mảnh đời của những thi sĩ mặc quân phục. Xin hãy ráp lại đủ đầy thứ chân dung u sầu nọ. U sầu và khí phách.

Cám ơn những người lính. Cám ơn những thi sĩ. Nghiêm. Chào. Nghỉ. Tan hàng. Cố gắng. Cố g.. ắ.. n.. g !!!

(*) Tựa đề là hai câu thơ của Luân Hoán.

Hồ Đình Nghiêm
Nguồn: Vuông Chiếu Luân Hoán

Đã đóng bình luận.