Giữ lại cho người

Posted: 09/05/2011 in Thiên-Thu, Truyện Ngắn

Thiên-Thu

Vi sinh ra và lớn lên trong một gia đình theo đạo Phật. Hình như chưa bao giờ Vi được theo mẹ đi chùa lễ Phật vào ngày đại lễ hay đêm Giao Thừa để khấn khứa những điều thầm kín mà một thiếu nữ ở tuổi dậy thì thường làm. Cuộc sống của Vi thật là đơn giản từ ngày này qua ngày khác. Sáng ngủ dậy, làm đúng bổn phận đã được cắt đặt trong một gia đình đông con. Tiếp theo là đi học. Rồi sau giờ tan học, về nhà phụ bố mẹ trong việc buôn bán. Đến chiều tối xong việc thì học bài cho ngày hôm sau đi học. Cuộc đời thật bình lặng và có lẽ là chờ đến một ngày đẹp trời nào đó – do sự đặt để của cha mẹ – lên xe hoa về làm vợ đảm đang, lo việc nhà cho một người đàn ông không quen biết nào đó…

Nhưng những sinh hoạt và nếp sống bình lặng của tuổi học trò đã thay đổi ít nhiều sau khi Vi bước vào đại học. Vi đã đến một thư viện để học bài chung với vài cô bạn thân quen. Đây là nơi tập trung của sinh viên từ nhiều phân khoa ở Sài Gòn đến học. Thư viện này có nhiều đặc điểm như rộng rãi, khang trang, dễ thương, tình tứ và nhất là sự nghiêm nhặt của các linh mục và thầy tu có trách nhiệm với thư viện. Chính vì những ưu điểm này, thư viện đã cuốn hút được rất nhiều sinh viên tìm đến đây để trui luyện trong suốt những năm ở bậc đại học, nhất là vào mùa thi.

Những ngày đầu tiên đến thư viện, Vi cảm thấy bỡ ngỡ, với nhiều nỗi lo sợ vu vơ – sợ ánh mắt trêu chọc của những sinh viên Luật và Văn Khoa, sợ tiếng cười ròn tan của nhóm sinh viên Dược Khoa tụ tập trong sân nghỉ giải lao, sợ những con “mọt sách” của dại học Sư Phạm, sợ cả cái vẻ luộm thuộm bất cần đời của những sinh viên Khoa Học đang làm luận án, và có lẽ sợ hơn tất cả là cái vẻ tự tin của những sinh viên Y và Nha Khoa. Sinh viên của mỗi trường đều có cái vẻ đặc biệt riêng của nhóm họ. So với những người đến học ở đây, Vi chỉ là một cô bé mới bước qua ngưỡng cửa trung học còn mang nhiều nét quê mùa, mặc dù được sinh ra và lớn lên từ những thành phố lớn.

Nói chung là Vi sợ tất cả. Sợ những nét xấu xí của mình sẽ bị lộ ra nếu để cho người khác nhìn lâu. Vi không bao giờ quên câu mẹ dặn con gái trong nhà: “Con gái giống như một hình nộm. Nếu để xa, người ta không thấy được chi tiết, sẽ rất đẹp. Nếu nhìn gần, bên trong những mảnh giấy màu sắc sặc sỡ chỉ là cái sườn bằng tre kết lại. Người con gái khôn là người không để người khác biết hết những gì về mình.” Câu nói đi kèm với hình nộm mà mẹ hay dùng để so sánh luôn luôn ám ảnh Vi. Bất cứ ở đâu Vi cũng nghĩ đến điều mẹ dặn. Do đó, Vi luôn luôn giữ một khoảng cách, đặc biệt là đối với những người khác phái.

Sự sợ hãi và mặc cảm để lộ ra cái xấu xí của mình đã dẫn Vi đến một chọn lựa cho riêng mình. Vi luôn luôn chọn một góc trong cùng của dẫy bàn dành cho nữ sinh viên. Muốn được như vậy, Vi phải đi sớm, nhất là vào mùa thi. Vi đi đi về về như một cái bóng. Chương trình năm dự bị của đại học Khoa Học khá nặng đối với người có sức học trung bình nên Vi phải cố gắng nhiều. Vi không để ý đến mọi việc chung quanh ngoại trừ cái vẻ đẹp rất ư là lãng mạn của thư viện. Những giờ nghỉ, Vi hay đi xuống sân nhìn những chùm me và những chiếc lá me non rung rinh trong gió của khu cư xá mà nuốt nước bọt cho bớt buồn ngủ. Rồi đến mùa hè, nhìn cây phượng vĩ đỏ thắm, nhìn những cánh phượng bay bay trong gió, rơi xuống sân của khu vườn ngồi học với những chiếc ghế và bàn học đủ màu. Quả thật, đây là khuôn viên đẹp nhất mà Vi rất thích xuống nhìn sau những giờ học mệt mỏi. Cho đến một buổi sáng nọ…

Như thường lệ, ngày thứ ba không có giờ học ở trường, Vi đi thư viện sớm để ôn bài. Thư viện vừa mở cửa nên đa số là đèn chưa bật sáng những chỗ chưa có người ngồi học. Vi đến sớm nhất và tiến thẳng về góc bàn học quen thuộc của mình. Sáng hôm đó, tự nhiên, đèn trong góc phòng sáng lên khi Vi vừa đặt túi sách vở xuống bàn. Vi quay người nhìn lại phía sau thì chỉ thấy dáng của một người mặc áo dòng trắng vừa khuất bóng. Không thắc mắc, Vi lẩm bẩm: “Cám ơn” dù trong lòng đã nghĩ:”Đó là bổn phận của người làm việc trong thư viện mà.” Thời gian qua đi êm đềm và lặng lẽ. Vi vẫn thấy người thầy tu ấy bật đèn vào mỗi sáng thứ ba khi Vi đến sớm. Cho đến một ngày Vi được giới thiệu đó là Giám Đốc thư viện (GĐTV) mới được bổ nhiệm. Thật vậy sao?! GĐTV đi bật đèn, quả đúng là thầy tu có khác. Vi cảm thấy có một cái gì thật là thú vị. Không bao lâu sau, sinh viên trong thư viện lại truyền tai nhau: “Thân phụ của GĐTV qua đời.” Vi nghe thấy nhưng không để ý vì không có liên quan gì đến việc học của Vi ở thư viện này cả.

Tối hôm ấy đi học về, Vi nghe mẹ nói là thân sinh của người quả phụ, ở đối diện nhà và thường tập cho Vi đan áo len, vừa qua đời. Hai hôm sau, Vi theo mẹ qua điếu tang. Sau khi nghiêm chỉnh lạy trước quan tài, khi ngửng đầu lên thì Vi mới biết người thầy tu đang cung tay đáp lễ chính là GĐTV, con trai của cụ ông vừa về nước chẳng được bao lâu. Vi ngạc nhiên vì sự trùng hợp hiếm có này và thấy có phần lúng túng trước mặt người Vi đã gặp nhiều lần ở thư viện. Vi nghĩ, nếu biết trước Vi sẽ không qua điếu tang vì sợ người ta lại nói là: “Thấy sang bắt quàng làm họ”, nhưng đã muộn rồi. Người thầy tu trong chiếc áo dòng trắng đã đến trước mặt để cám ơn mẹ của Vi và nói thật nhỏ với Vi: “Cám ơn em…” Vi chỉ biết gật đầu chào và loanh quanh quấn theo chân mẹ chứ không biết phải nói năng gì cả.

Từ buổi gặp gỡ vô tình trong ngày phúng điếu ấy, Vi thấy người thầy tu đi qua phòng học của sinh viên nhiều hơn trước. Sinh viên đến đây học rất quý người giám đốc mới của thư viện. Họ thích và ngưỡng mộ ông ngoài tuổi trẻ, học cao và học giỏi, ông còn là người có tấm lòng quảng đại, tính tình cởi mở và rất yêu quê hương. Những chương trình do ông phổ biến như giúp tìm việc làm cho sinh viên hay giúp trẻ bụi đời quay về nẻo chính được hưởng ứng nồng nhiệt. Vi cũng tham gia vào những sinh hoạt này một cách vô tư của một thiếu nữ đang bước vào đời. Sự nhiệt tình của các sinh viên tham dự làm cho không khí của thư viện thật là sống động. Ngoài giờ học, anh chị em tụ tập lại để đóng góp ý kiến phục vụ và chia sẻ với những người kém may mắn. Gia đình Vi khuyến khích con gái trong công tác xã hội này vì mẹ của Vi luôn nhắc nhở con gái trong nhà là: “Phúc đức tại mẫu nên các con cố gắng bớt chút thì giờ học của mình để làm việc thiện.” Riêng Vi, Vi thấy vui vì đã được đóng góp vào những việc làm có ý nghĩa này mà không ảnh hưởng đến việc học của Vi. Cho đến một ngày đẹp trời…

Phái đoàn sinh viên thư viện tổ chức đi thăm các trẻ em bụi đời ở ngoài thành phố. Khi sắp sửa rời trung tâm bụi đời ra về, trời bỗng dưng sập mưa. Ai cũng lo chạy vội vàng về phía xe buýt. Vi và cô bạn thân cũng lúp xúp chạy theo. Bỗng nhiên một chiếc dù đen được đưa qua ngang đầu làm Vi phải dừng lại. Người thầy tu với chiếc áo dòng đã ướt khá nhiều, nhẹ nhàng bảo: “Cầm lấy dù đi, kẻo ướt mưa, sẽ bị ốm đấy.” Vi không kịp phản ứng thì cô bạn đã chụp lấy cán dù và nói nhanh: “Cám ơn Cha.” Vi ngượng ngùng đi nép vào bạn, chẳng nói được lời nào. Vào đến bên trong xe buýt, cô bạn giúi cái dù vào tay Vi. Vi đi thẳng xuống dãy ghế cuối cùng, ngồi vào trong góc. Trong lòng thấy không ổn và cũng không vui. Vi tự hỏi một mình: “Tại sao lại làm như vậy ?”  Vi không dám nhìn về phía trước vì sợ bắt gặp ánh mắt của người thầy tu. Vi nhìn qua cửa kính chấm đầy những giọt nước đang thi nhau chảy xuống thành dòng thật nhanh vì trời mưa to lắm. Thật sự Vi chẳng thấy gì bên ngoài cửa kính cả nhưng cứ giả vờ như đang chăm chú nhìn một vật gì mặc cho cô bạn thân lay tay hỏi: “Vi, nhìn cái gì vậy ?” nhiều lần nhưng vẫn không có câu trả lời. Tuy áo dài của Vi không ướt nhiều lắm nhưng Vi hắt hơi liên tục vì bị nhiễm lạnh. Vi cảm thấy buồn vì hành động đưa dù cho Vi là không công bằng đối với nhóm thiện nguyện. Vi thấy giống như vừa mất đi một cái gì không có tên và không có lý do. Xe buýt về đến thư viện, mọi người lục đục xuống xe. Vi đưa vội chiếc dù đen cho cô bạn nhờ trả lại cho người thầy tu. Vi lững thững trở về góc bàn học của mình và cố gắng tập trung ôn bài, nhưng hình như chữ nghĩa hôm nay biết bay thì phải. Vi mệt mỏi thở dài định thu sách vở tìm một chỗ ngồi khác, may ra có thể in chữ vào đầu được. Vi chưa kịp đứng lên thì người quản thủ thư viện bước nhẹ đến bên cạnh, để xuống bàn học một viên thuốc cảm và nói nhỏ: “Cha GĐTV nói chị uống thuốc cảm đi kẻo bị ốm vì chị gần thi rồi.” Vi bàng hoàng cầm viên thuốc và nhìn về phía cửa ra vào. Người thầy tu, trong chiếc áo dòng trắng khô ráo, hiền hòa nhìn các sinh viên đang chăm chú học bài. Ông đi lướt qua chỗ Vi ngồi nhưng không nhìn Vi rồi nhẹ nhàng rời khỏi phòng học. Vi cầm thuốc, xuống nhà lấy nước uống. Vi mong gặp ông để nói một lời cảm ơn nhưng không gặp. Nhìn vào văn phòng nơi ông làm việc, không có đèn. Vi lủi thủi trở về chỗ ngồi của mình. Sinh viên, không ai biết chuyện viên thuốc cảm nhưng Vi thấy đầu óc hỗn loạn và đầy lo lắng. Vi sợ đến nỗi không dám đến thư viện học hai ba ngày sau đó. Vi lấy cớ bị cảm, không được khỏe, ở nhà không đi thư viện, nhưng thật ra là để trốn tránh một cái gì mà chính Vi cũng không rõ nữa.

Vi trở lại thư viện sau bốn ngày không đến. Cô bạn thân hỏi vặn vẹo tại sao, Vi đành phải nói dối: “Ta không được khỏe trong người. Học ở nhà để thỉnh thoảng còn nằm dài được.” Bạn của Vi thật ngây thơ, tưởng là thật nên an ủi: “Tội nghiệp Vi quá, gần thi rồi mà lại bị cảm. Thôi ráng lên. Nếu vẫn còn không khỏe mà muốn đi thư viện thì mai ta đến đón rồi đưa về cũng tiện đường thôi, đừng có ngại.” Vi lí nhí cám ơn và thấy xấu hổ vì đã nói dối bạn thân. Chiều hôm ấy, Vi có giờ học thêm Pháp văn ở thư viện. Vào lớp Vi chọn bàn học cuối cùng. Vừa lấy sách ra khỏi chiếc bao vải, ngửng mặt lên nhìn, Vi không thấy cô giáo đâu mà chỉ thấy người thầy tu trẻ. Thật là xui xẻo ! Cô giáo bị ốm nên ông đến dạy thế. Trời ơi ! Thật là đại họa. Hôm nay Vi chưa làm bài tập xong. Làm thế nào đây ?! Vi thấy mặt mình nóng hầm hập. Vi cúi mặt nhìn xuống bài tập đang làm dở dang, chưa định thần được là phải nói dối như thế nào thì các bạn trong lớp đã bắt đầu đọc. Ông gọi một người trả lời câu hỏi số một, rồi người thứ hai, và Vi phải trả lời câu hỏi thứ ba. Vi cúi gầm mặt không trả lời được vì chưa làm xong câu hỏi này. Ông không nói lời nào, gọi người khác trả lời câu hỏi thứ ba. Vi không biết phải làm sao nên cứ đứng im chờ lệnh cho phép ngồi xuống. Xấu hổ, thật là xấu hổ, không biết dấu mặt vào đâu. Vi có cảm tưởng mặt mình đỏ lắm. Cô bạn ngồi bên cạnh ái ngại nhìn Vi, thúc nhẹ vào chân bảo nhỏ: “Ngồi xuống đi.” Vi ngồi xuống, im lặng như một tượng đá. Người thầy tu tiếp tục giảng bài mới. Thời gian trôi thật chậm. Vi thật sự muốn rời khỏi phòng học ngay và nghĩ là sẽ không bao giờ trở lại nữa. Trong khi Vi còn đang bị giằng co với những ý nghĩ lộn xộn trong đầu thì có chuông báo ra chơi. Mọi người rời khỏi lớp học. Vi vẫn ngồi bất động, cảm thấy xấu hổ và nước mắt bắt đầu ứa ra. Trong cuộc đời đi học, chưa bao giờ Vi cảm thấy nhục nhã như hôm ấy. Vi sửa soạn ôm tập vở rời khỏi phòng học thì người thầy tu đến bên cạnh hỏi nhỏ: “Hôm nay Vi không được khoẻ, có phải không ?” Vi lắc đầu và không dám ngước mặt lên. Hai dòng nước mắt lăn dài trên má. Ông nhìn Vi ái ngại rồi quay về bục giảng. Hai giờ Pháp Văn chiều hôm ấy đã để lại trong lòng Vi một mặc cảm thua kém và ngu dốt thật nặng nề. Vi thấy bứt rứt, khó chịu và xấu hổ vô cùng. Ước gì có một cái lỗ to ở dưới đất để chui xuống dấu mặt cho không còn ai trông thấy người học trò lười biếng này cả.

Những ngày sau đó, Vi vẫn đến thư viện học, vẫn tham gia những công tác xã hội với các anh chị trong nhóm nhưng tìm đủ mọi cách xa lánh ánh mắt của người thầy tu trẻ này. Vi ít xuống sân thư viện để dò bài chung với nhóm bạn, lấy cớ là chưa thuộc bài. Cho đến một buổi trưa nọ, khoảng 4 giờ chiều, khi Vi bắt đầu ngáp liên tục và không còn đủ sức để mở to hai mắt nữa, Vi rời phòng học xuống sân. Vi hy vọng sau khi rửa mặt và hít thở không khí mát mẻ trong vườn hoa, Vi sẽ đỡ buồn ngủ hơn. Vi tìm về chiếc ghế đá quen thuộc. Vừa ngồi xuống nghỉ chưa đầy mười phút thì có người đến trước mặt và nói nhỏ vừa đủ nghe:

– Mời cô vào văn phòng Giám đốc.

Vi chưa kịp hỏi xem có việc gì, thì người thanh niên đã bỏ đi. Vi dứng lên, đi thẳng vào văn phòng. Ở đây đã có những khuôn mặt quen thuộc trong nhóm thiện nguyện. Vi được mời ăn bánh quế, bánh biếu từ đám hỏi của một nữ sinh viên Dược Khoa. Khi mọi người vừa ăn bánh vừa truyện trò vui vẻ thì có một sinh viên Luật lí lắt hỏi GĐTV:

– Áo Cha trắng lắm, không biết lòng Cha có trắng hay không ?

Tất cả mọi người quay hẳn lại để nhìn người sinh viên này. Không có một tiếng động. Không khí trong phòng căng thẳng và ngột ngạt lạ thường. Người thầy tu vẫn điềm đạm, nở nụ cười hiền hòa cố hữu, và từ tốn hỏi:

– Thế Bắc nghĩ sao ?

Vi không chờ câu trả lời, đứng lên, xin phép trở về phòng học để ôn bài. Vừa bước ra khỏi ngạch cửa, Vi có cảm tưởng như có nhiều người đang nhìn theo bước chân của Vi. Vi không muốn nghe câu trả lời, nhưng vẫn thắc mắc, tại sao người sinh viên ấy lại hỏi GĐTV như vậy.

Thời gian trôi qua thật nhanh. Vi đã hoàn tất năm dự bị Khoa Học và tiếp tục học lên. Những ngày đến thư viện học bài, hình như có một cái gì không rõ ràng lôi cuốn. Vi rất chăm, đi học sớm và đôi khi về nhà hơi trễ, nên thỉnh thoảng cũng bị mẹ mắng mỏ, rầy rà vì mẹ muốn Vi về nhà trước mười giờ đêm. Vi hứa nhưng đã không gìữ lời hứa một lần…

Lần thất hứa đó, Vi rất sợ. Tối hôm đó, cả nhóm thiện nguyện được GĐTV mời đi uống cà phê sau những tháng làm việc tích cực cho cộng đồng. Đúng ra Vi đã muốn từ chối vì chưa xin phép mẹ, nhưng vì chưa bao giờ được vào quán Văn để uống cà phê nên Vi tò mò muốn biết xem quán như thế nào. Cả bọn chạy xe gắn máy đến nơi, Vi hơi lụp chụp vì quán hơi tối. Các anh chị khác thì cười nói vui vẻ, có lẽ đã đến đây nhiều lần. Vi xin được uống trà vì chưa uống cà phê bao giờ nên không dám. Khi cái tách và nước nóng được đặt trước mặt với một cái túi nhỏ có sợi dây, Vi không biết phải làm sao vì chưa bao giờ biết uống trà theo kiểu này. Người thầy tu như nhìn thấy sự lúng túng của Vi nên xin được giúp một tay. Vi gật đầu và cảm nhận được sự săn sóc ấy như của một người anh dẫn em gái đi theo đám bạn học mà thôi. Trời tối dần. Vi nhiều lần muốn xin về nhưng lại không dám vì không biết đường về một mình. Thế là đành ngồi cho đến phút chót. Về đến nhà, nhìn thấy mặt mẹ hầm hầm vì con gái đi đến hơn 11 giờ đêm mới về đến cửa nên Vi sợ quá và nói thật cho mẹ biết tại sao Vi về trễ. Khi mẹ Vi nghe thấy là đi với GĐTV và các bạn trong nhóm thiện nguyện thì bà mới nguôi ngoai vì bà biết người thầy tu đó là người hàng xóm của gia đình. Hú hồn! Nhờ chuyến đi đó mà Vi mới biết trà Lipton là gì. Đúng là con bé nhà quê ra tỉnh vào thế kỷ XX nầy !

Rồi ngày thi cuối năm thứ nhất cũng đến. Vi học đều đặn suốt năm nên không phải quay cuồng với bài vở. Do đó cũng không phải bớt giờ tham gia sinh hoạt xã hội. Vi đón nhận sự chăm sóc có phần nào hơi đặc biệt của người thầy tu một cách tự nhiên vì có lẽ Vi là người nhỏ nhất trong nhóm. Vi không nghĩ ngợi xa xôi gì cả, gác ngoài tai những lời xầm xì to nhỏ về người thầy tu và cô sinh viên quê mùa. Vi tự biết lòng mình ngay thẳng và những săn sóc đặc biệt ấy chỉ là tội nghiệp con bé nhà quê mà thôi. Nhưng có lẽ trời không chiều lòng người, nên có một buổi trưa đang ngồi học, Vi đã được mời xuống phòng xem phim của thư viện…

Cuốn phim ngắn “The Big City” đã được chiếu lên cho một nhóm sinh viên thân hữu với GĐTV xem. Phim kể lại truyện một cậu bé khoảng tám tuổi, có một con thỏ thật dễ thương. Cậu bé này rủ một cô bạn nhỏ tuổi hơn mình ôm con thỏ đi chơi. Cô bé ngắm con thỏ nhỏ gặm cà rốt thì thích quá nên giựt con thỏ trong tay cậu bé rồi bỏ chạy vào một toà nhà đang xây cất dở dang. Cậu bé lọt tọt đuổi theo để đòi lại con thỏ của mình. Cậu càng đuổi thì cô bé càng chạy lên cao hơn. Giữa chừng cuộc đuổi bắt ấy thì có tiếng của mẹ cậu bé gọi về. Cậu bé phân vân nhưng cuối cùng cũng quay trở ra đi về. Cô bé đắc chí vì đã giựt được con thỏ có đôi mắt dễ thương. Vừa lúc cô bé đang hí hửng ôm con thỏ trong tay thì có hai người thợ đang ngồi ăn trưa trên tầng lầu ấy trông thấy. Một trong hai người thợ nhìn cô bé từ chân lên đầu rồi đứng lên, từ từ tiến tới gần. Cô bé sợ quá nên cứ lùi dần và không biết là đã gần đến cuối lan can ngăn chỗ để cho thợ kéo xi măng và vật dụng xây cất lên tầng lầu này. Cô bé hụt chân, mất thăng bằng, ngã ngửa người rồi rơi xuống khoảng trống bên dưới lầu. Những mảnh voan từ chiếc váy màu trắng bị xé toạc, bay phất phới, là đà vướng vào những thanh gỗ bắt ngang dọc để giới hạn khu vực treo cái ròng rọc kéo dụng cụ lên cao. Trước cảnh tượng hãi hùng ấy, người thợ thứ hai cầm chiếc kèn lên thổi. Một điệu nhạc buồn của người da đen trổi lên ray rứt. Cùng lúc ấy, tiếng còi của xe cứu thương cũng vang lên, xé toang cái tĩnh mịch của không gian vào giờ nghỉ trưa. Cuốn phim ngắn chấm dứt với cảnh trí như lúc ban đầu. Cậu bé ôm con thỏ, cô bé, và những củ cà rốt. Hình ảnh ấy cuốn theo một vòng tròn rồi từ từ mất dần và chỉ còn để lại một chấm đen trên màn ảnh nhỏ truớc khi chữ “The End” hiện ra.

Sinh viên trong nhóm được Cha Bề Trên hỏi đã nghĩ gì về nội dung của truyện phim này. Nhiều ý kiến khác nhau được phát biểu theo quan niệm sống riêng của mỗi người về tham vọng, chiếm đoạt, tình yêu và lan qua tôn giáo. Riêng câu hỏi dành cho Vi, hình như đã được sắp đặt trước. Vi đọc được điều ấy nên đã đi thẳng vào vấn đề để nhà dòng không còn thắc mắc vì những câu chuyện xì xào trong thư viện này nữa. Theo truyện phim cho thấy cô bé cố ý chiếm đoạt và đã gặp tai nạn. Theo quan niệm sống của Vi, trong bất cứ lãnh vực nào, ý nghĩ chiếm đoạt đều không tốt cả. Trong lãnh vực tình yêu và tôn giáo, lại càng không nên. Nếu một người đã chọn con đường dâng cuộc đời của mình cho Thiên Chúa thì không nên để ngoại cảnh chi phối và xao động tâm hồn. Những người hiện hữu trong ngoại cảnh ấy cũng không nên nuôi ý nghĩ độc chiếm hay níu kéo, dây dưa với những người tu hành để lôi kéo họ ra khỏi dòng tu của họ. Nếu tình yêu mà một người đi tu đã dành cho Thiên Chúa sau nhiều năm tu tập mà họ còn có thể lơ là hay lìa bỏ được thì chắc gì họ đã giữ được tình yêu dành cho người trần tục đến sau. Thêm vào đó, tuổi trẻ mới lớn không nên nhầm lẫn giữa tình yêu và lòng thương hại.

Sau khi phát biểu xong ý nghĩ của mình, Vi xin phép trở về thư viện ôn bài. Bước ra khỏi cánh cửa phòng chiếu phim, Vi thấy buồn vì có cảm tưởng như đang bị điều tra về sự liên hệ của mình với người GĐTV. Vi trở lên thư viện học bài mà trong lòng bứt rứt vô cùng. Phải chi có người thầy tu đó ở đây thì chắc chắn Vi sẽ trút hết những bực dọc trong lòng mình ra, nhưng rất tiếc ông đang dự linh thao, có nghĩa là cấm phòng để tu luyện, ở một nơi khá xa thành phố.

Thời gian sau ngày xem cuốn phim ngắn “The Big City”, Vi cố tập trung vào việc học thi. Kỳ thi viết đã hoàn tất, Vi đủ điểm để được tiếp tục vào thi thực tập. Qua đợt thi thực tập, Vi cũng được đủ điểm để được vào thi vấn đáp. Hôm ấy, vừa thi xong vấn đáp của một môn, vừa bước ra khỏi cửa phòng thi, Vi phở phào nhẹ nhõm vì xem như đã qua được cửa ải cuối cùng của một chứng chỉ. Vi chưa kịp ra lấy xe đi về, thì một người sinh viên năm cuối Dược Khoa chạy đến bảo phải về thư viện dự tiệc để tiễn GĐTV rời Việt Nam đi du học tiếp.

Không còn cách nào hơn để từ chối. Vì theo người bạn về thư viện. Tiệc trà đã gần tàn nhưng hình như các bạn vẫn còn cố ý chờ Vi. Vi vừa bước vào khu dựng lều đãi tiệc thì đã được đưa ngay cho một đĩa bánh người ta để phần cho Vi. Tuy rất mệt sau gần cả tháng thi cử nhưng nhìn vào sự chờ đón của các anh chị, Vi thấy vui trong lòng. Mọi người muốn Vi hát nhưng giọng Vi như vịt đực thì làm sao mà hát được. Cuối cùng Vi nói có mấy câu thơ muốn gửi cho người sắp đi xa. Vi vừa bắt đầu đọc: “Người đi có nhớ quê nhà” thì người thầy tu đã xin Vi ngừng lại vài phút. Vi chưa hiểu lý do thì ông đã rời bàn tiệc. Mọi người ngơ ngác. Riêng Vi thấy ngượng và đã muốn bỏ về nhưng chỉ vài phút sau, ông trở lại với một cái máy thu băng nhỏ. Ông nói muốn thu bài thơ của Vi vào trong băng nhạc để giữ làm kỷ niệm khi xa nhà.

Vi hơi ngạc nhiên nhưng không làm sao để từ chối nên đành phải đọc để cho ông thu vào cuốn băng nhỏ. Vi nhìn xuống đất và đọc nhỏ:

Cho Người Đi…

Người đi có nhớ quê nhà ?
Nhớ rau muống luộc, nhớ cà dầm tương ?
Người đi có nhớ quê hương ?
Còn đang chinh chiến, thịt xương xây thành,
Máu đào từng vũng loang nhanh,
Thấm vào lòng mẹ hôi tanh nực nồng.
Người đi có nhớ non sông ?
Nhớ trang sử sách oai hùng Việt Nam ?
Quê hương khói lửa điêu tàn,
Bao giờ trở lại xóm làng thân thương ?!

Vi đọc xong bài thơ ngắn thì xin phép ra về, GĐTV tiễn Vi ra cửa. Đi bên cạnh người thầy tu sắp bước lên bực của một linh mục, nhưng đã được gọi là Cha ở thư viện, Vi chợt thấy tội nghiệp cho con người tài hoa trước thử thách này. Ông mời Vi tiễn chân ông ra phi trường sáng hôm sau. Vi lắc đầu. Ông hỏi tại sao. Vi chỉ trả lời vắn tắt:

– Ngày mai đã có rất nhiều người tiễn chân Cha ra phi trường. Thiếu một người tiễn chân chắc Cha cũng buồn năm phút rồi thôi. Nhưng nếu con không ôn kỹ bài cho kỳ thi vấn đáp vào hai ngày nữa và nếu con thi trượt, gia đình con sẽ rất buồn, và riêng con, nỗi buồn ấy sẽ kéo dài cả năm đấy. Con xin lỗi và chúc Cha lên đường bình an.

Vi nói xong thì đi thẳng ra cổng thư viện, không chờ cho người thầy tu nói thêm một lời nào nữa. Vi cũng không quay đầu nhìn lại phía sau để biết xem ông còn đứng đó trông theo bóng của mình hay không nữa. Vi muốn chấm dứt tất cả lưu luyến từ sau giây phút này !

Sáng hôm sau, Vi đến thư viện của trường đại học để ôn bài. Đến chiều Vi trở lại thư viện thân quen này để dò bài chung với bạn. Cô bạn thân vừa nhìn thấy Vi thì lắc đầu nói ngay:

– Vi ác thật. Vi tàn nhẫn quá ! Người ấy đến kiếm Vi nhưng ta nói không biết tại sao không thấy Vi đến học. Người ấy nhờ ta gửi lời chào và chúc Vi may mắn trong những kỳ thi còn lại.

Vi không thắc mắc, không hỏi thêm lời nào, lặng lẽ chúi đầu vào sách học để ôn bài. Vi cũng cảm thấy buồn buồn như vừa mất đi một cái gì quí lắm. Nhưng Vi không thể ích kỷ giữ lại cái tình cảm lãng mạn này mà biết đâu, đó chỉ là tội nghiệp mà thôi. Xã hội, gia đình và mọi người chung quanh sẽ kết án Vi. Nếu đã biết trước không có kết quả tốt thì tại sao lại để cho người thầy tu ấy có cơ hội gặp lại lần cuối cùng. Vi thấy quyết định của mình là đúng chứ không phải là tàn nhẫn như cô bạn thân nhận xét.

Gần hai tuần sau ngày người thầy tu trẻ rời Việt Nam để đi du học lấy thêm một mảnh bằng nữa, một tấm thiệp viết từ phi trường Thái Lan gửi về địa chỉ nhà cho Vi. Khi nghe bố Vi gọi thật to:

– Vi ơi, có carte postale gửi đến cho con đấy.

Vi đã không hớn hở chạy ra đón lấy tấm thiệp mà Vi đã đoán được là của ai gửi về rồi. Vi bình thản nhờ bố đọc hộ vì đang bận tay giúp mẹ bày hàng. Bố Vi chậm rãi đọc từng câu thăm hỏi của người thầy tu trẻ gửi đến tất cả anh chị em trong nhóm thiện nguyện và chấm dứt tấm thiệp với dòng chữ cuối cùng, bố Vi đọc thật chậm từng chữ: “Xa rồi mới thấy lòng mình nhớ thương vời vợi !”

Bố Vi cũng không quên đọc thêm địa chỉ của người gửi. Vi buông tay, xin bố tấm thiệp gửi về từ Bangkok. Nhìn lại dòng chữ quen thuộc một lần cuối. Nhẩm đọc lại câu cuối cùng: “Xa rồi mới thấy lòng mình nhớ thương vời vợi !” Rồi từ từ, Vi xé đôi, xé ba, và xé nhỏ tấm thiệp trong tay. Vi không khóc nhưng thấy đau lòng vô cùng. Bố mẹ nhìn Vi với ánh mắt ngạc nhiên. Bố của Vi không thể dấu được thắc mắc của mình nên hỏi ngay:

– Tại sao con lại xé thư của người ta gửi cho con vậy ?

– Tại vì con không muốn giữ.

Vi lễ phép trả lời thẳng câu hỏi của bố rồi quay vào cầu thang đi lên lầu trong khi tay vẫn nắm gọn tấm thiệp đã xé nhỏ. Trước khi bước lên tầng trên, Vi nhìn thấy bố đang nhìn theo lắc đầu như không hiểu gì cả.

Sáng hôm sau Vi cũng đến thư viện học như thường lệ nhưng không khí ở đây có phần khác với những ngày trước. Giờ nghỉ giải lao, Vi cũng xuống cái sân nhỏ đầy những cánh phượng đỏ bên những hàng cây xanh nhưng thấy buồn buồn thế nào ấy. Vi lững thững rời sân đi về phía nhà nguyện nhỏ gần bên cư xá sinh viên. Bước vào bên trong, ánh sáng lờ mờ vì ngoài giờ lễ, Vi quỳ trước thánh giá và khấn thầm trong đầu:

– Con đã giữ lại cho Người những gì thuộc về Thiên Chúa. Cầu xin Ngài giúp cho người ấy đi trọn con đường tu đã chọn.

Vi rời thư viện sớm hơn thường lệ. Nắng trưa hè gay gắt nhưng Vi thấy như thật tối quanh mình. Đường về nhà không xa nhưng lại cảm thấy thật xa. Vi ghé vào một chợ nhỏ quen thuộc để mua hoa. May quá, còn một bó sen cuối cùng vì ngày mai là ngày rằm trăng tròn. Mẹ Vi hơi ngạc nhiên khi thấy con đi học về sớm. Vi nói dối là hơi nhức đầu rồi đi thẳng xuống bếp. Vi lặng lẽ tỉa những cánh sen hơi héo mà viền của nó đã khô và cong lại. Những đóa hoa sen màu hồng nhạt tỏa hương thơm thật nhẹ nhàng. Vi cẩn thận cắm hoa vào bình. Trong khi còn đang ngắm nghía những đóa hoa vô thường mà người đời thường dùng để gọi tắt cho hoa sen, Vi nghe thấy tiếng của bố nói nhỏ sau lưng:

– Con ạ, hoa sen đẹp và thơm quá!

– Nhưng mà không được tươi lắm Bố ơi.

– Không nên đỏi hỏi sự tuyệt đối cho bất cứ cái gì trong cuộc đời để chuốc phiền não vào thân.

– Vâng, thưa Bố.

Có lẽ bố của Vi đã đọc được nội tâm của đứa con gái sau khi thấy Vi xé nát tấm thiệp của người thầy tu trẻ gửi đến tuần trước. Vi lặng lẽ đặt bình hoa sen lên bàn thờ Phật và khấn thầm:

– Tất cả chỉ là ảo mộng và thương hại mà thôi.
Xin hãy giúp cho tâm con thanh tịnh từ đây !!!

Thiên-Thu
Canada 11-03-2008
Nguồn: Phan Ni Tấn gửi

Đã đóng bình luận.