Phong trào Nhân Văn Giai Phẩm – Chương 6: Trí thức và dân chủ tại Việt Nam trong thế kỷ XX, một truyền thống đấu tranh từ Phan Châu Trinh, Hoàng Đạo đến Nhân Văn Giai Phẩm

Posted: 10/05/2011 in Biên Khảo / Phê Bình, Thụy Khuê
Thẻ:

Thụy Khuê

Những bài viết chủ yếu trong Nhân Văn Giai Phẩm gồm hai loại:

Loạt bài chính luận trực tiếp định hướng tư tưởng của các nhà trí thức và loạt bài sáng tác dấn thân nói lên khát vọng tự do của các văn nghệ sĩ. Hai thể loại này đan cài và bổ sung cho nhau, tạo nên làn sóng đấu tranh toàn diện cho tự do dân chủtự do tư tưởng.

Trí thức trong vị trí dẫn đường, được xếp vào loại A. Văn nghệ sĩ, ít “nguy hiểm” hơn, loại B (nhật ký Trần Dần ghi, trang 245).

trí thứcdân chủ là hai trục chính: trí thức dẫn đường dân chủ là mục đích đấu tranh, cho nên trước khi phân tích nội dung tranh đấu của phong trào NVGP, chúng ta cần phải tìm hiểu hai khái niệm chủ chốt: Thế nào là trí thức? Thế nào là dân chủ? Hai khái niệm này giữa địa vị như thế nào ở Việt Nam trước và trong thời kỳ NVGP.

Trong điều kiện tư liệu hiện nay, Nguyễn Mạnh Tường là nhà trí thức duy nhất đã để lại những trang viết mà ngày nay chúng ta có thể dựa vào như một tư liệu chính trị, xã hội, phản ảnh vai trò của người trí thức trong giai đoạn đấu tranh cho tự do dân chủ những năm 50 ở miền Bắc.

Phan Châu Trinh và dân trị chủ nghiã

Khái niệm tự do dân chủ phát xuất từ Tây phương, nhưng trái với một số lập luận cho tới ngày nay, vẫn còn cho rằng tự do dân chủ không phù hợp với tinh thần phương Đông nói chung và không thể áp đặt cho Việt Nam nói riêng.

Sự thực khác hẳn, tự do dân chủ không xa lạ gì với người Việt, bởi: “Khái niệm tự do dân chủ đã theo chiến hạm Pháp nhập vào nước ta từ cuối thế kỷ XIX” (Hoàng Đạo).

Phan Châu Trinh là người đầu tiên chủ trương chống Pháp bất bạo động, nâng cao dân tríxây dựng một thể chế dân chủ pháp trị.

Phản bác đường lối bạo động và thể chế quân chủ của Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh viết: “Gọi là nước thì phải có đất đai, có nhân dân. Yêu nước cũng phải biết đường. Xét nguyên nhân của sự sa đoạ, xem chỗ thiếu sót mà bù đắp, kẻ ngu thì nghĩ đến làm cho khôn, kẻ bị hại thì nghĩ đến làm cho lợi, kẻ chết thì nghĩ đến làm cho sống (…) Như điều ông ấy làm, là giết cho hết mấy chục triện nhân dân này để giành một mảnh đất trống, thì để làm gì? Than ôi! Xưa nay cảnh chiến trường, muôn dặm nhà không có! Trong muôn một, trời cho giành mà được, nếu không trở thành hồn thiêng tử sĩ thì cũng làm mồi cho ruồi bọ, chồn cáo” (Pháp-Việt liên hiệp hậu tri tân Việt Nam (Nước Việt Nam mới sau khi Pháp Việt liên hiệp)  bản dịch từ hán văn của Nguyễn Văn Dương, trong tuyển tập Phan Châu Trinh, nxb Đà Nẵng 1995, trang 553).

Từ Pháp trở về Việt Nam năm 1925, cuối năm 1925, Phan Châu Trinh đọc hai bài diễn văn tại Hội Thanh niên Sài Gòn: Quân trị chủ nghiã và dân trị chủ nghiãĐạo đức và luân lý Đông Tây. Bài Quân trị chủ nghiã và dân trị chủ nghiã, là luận văn cơ bản giải thích thế nào là quân chủ và thế nào là dân chủ, chia làm ba phần.

Phần đầu, Phan Châu Trinh xét bốn nước Á Đông Tàu, Nhật, Cao Ly [Triều Tiên] và Việt Nam, có cùng một nền văn hoá gốc, ông viết:

“Lạ là trong cái xứ Á Đông này có bốn nước đồng văn, mà đồng sùng cái quân chủ chánh thể, mà đồng tự xưng là sùng thượng nho giáo, vậy mà làm sao từ hồi cái văn minh bên Âu Châu tràn sang cõi Á Đông đến nay, thì chỉ có người Nhật Bản bỏ ngay cái học cũ mà làm theo lối mới (…) thì sự giàu mạnh ngó thấy liền trước mắt, chừng trong bốn mươi năm thì đã sánh vai với liệt cường (…)

 Còn chỉ chừa có ba nước là Tàu, nước Cao-ly và An-nam ta, dân thì nghèo, nước thì yếu, cái phần người dốt nát trong nước thì chiếm 80 phần trong một trăm. Còn gọi là người thượng lưu, trung lưu, chẳng qua là bọn bát cổ [khoa bảng] đã chiếm hai phần ba, thiệt chẳng biết cái nho học là gì, mà cũng nhắm mắt lại chê càn cái văn minh mới là mọi rợ!

 Nhưng mà nay cái phong trào [dân chủ] trong thế giới nó mãnh liệt lắm: ai thuận theo nó mà đi thì thuận buồm xuôi gió, ai không thuận theo nó thì cũng bị xô đẩy mà đổ lướt đi như rác cỏ” (Pháp-Việt liên hiệp hậu tri tân Việt Nam (Nước Việt Nam mới sau khi Pháp Việt liên hiệp) trích tuyển tập Phan Châu Trinh do Nguyễn Văn Dương soạn, nxb Đà Nẵng 1995, trang 793-794).

Phan Châu Trinh đã thấy rõ hiệu quả dân chủ của nước Nhật.

Trong phần thứ nhì, ông nhìn lại chủ nghiã quân trị (chế độ quân chủ) từ thời tiên Tần đến thế kỷ XX: Quân trị tàn ác đốt sách đời Tần, quân chủ chuyên chế khôn khéo ở Á đông, và ông định nghiã: quân trị là nhân trị (cai trị bởi một người), là một nước có luật pháp nhưng do một ông vua làm nên, dân chẳng biết gì.

Và trong phần thứ ba, Phan Châu Trinh bàn đến chủ nghiã dân trị (chế độ dân chủ): Theo ông, điều đáng lo ngại nhất ở nước ta là dân trí kém, ở các nước khác trên thế giới, chỉ cần có một ít ảnh hưởng văn minh Âu Châu là người ta hiểu ngay được thế nào là tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, vấn đề dân chủ, dân trị.

Đối với người Việt Nam đầu thế kỷ XX, vì trình độ dân trí còn kém, Phan Châu Trinh cắt nghiã ngắn gọn cho mọi người hiểu: dân trị là cứ bảy năm người dân bàu lại ông Giám quốc (Tổng thống) một lần, còn quân chủ, vua là cha truyền con nối. Dân trị có nghị viện do dân bàu lên, giữ quyền lập pháp. Quyền hành pháp giao cho quan toà, thuộc ngành tư pháp, ở trong chính quyền nhưng có vị trí độc lập. Phan Chu Trinh kết luận: “Nói tóm lại, dân trị tức là pháp trị. Quyền hạn và bổn phận của mỗi người trong nước, bất kỳ người làm việc nhà nước hay là người thường, đều có pháp luật chỉ định rõ ràng, không khác gì là đã có đường gạch sẵn, cứ trong đường ấy mà đi, tự do muốn bước tới bao nhiêu cũng được, không ai ngăn trở cả. Chỉ trừ khi nào xâm lấn đến quyền hạn của người khác thì không được mà thôi”.

Như vậy ngay từ 1925, Phan Châu Trinh đã cắt nghiã rõ ràng và ngắn gọn, những điều căn bản A, B, C, về vấn đề dân chủ. Và ông mắng thẳng “bọn bát cổ [khoa bảng], thiệt chẳng biết cái nho học là gì, mà cũng nhắm mắt lại chê càn cái văn minh mới là mọi rợ!”

Đáng buồn là gần một thế kỷ đã trôi qua, ngày nay vẫn còn có những “trí thức bát cổ” nói: “dân chủ là ý niệm của Tây phương”, “tự do là muốn làm gì thì làm”, “các đảng đối lập là phản động”, may mà cụ Phan mất đã hơn 90 năm, nếu cụ còn sống, không biết cụ sẽ nói sao với những “giáo sư”, những “trí thức” này!

Con đường giáo dục dân chủ quần chúng được Phan Châu Trinh đề ra từ năm 1925, hơn mười năm sau, Hoàng Đạo Nguyễn Tường Long, tiếp tục kêu gọi việc giáo dục quyền công dân, quyền làm người, và ông đứng trên bình diện một nhà luật học, sử dụng quyền tự do dân chủ, để tranh đấu bằng ngòi bút với người Pháp.

Hoàng Đạo và dân chủ

Hoàng Đạo Nguyễn Tường Long, em Nhất Linh Nguyễn Tường Tam và cũng là một trong những người lãnh đạo Việt Nam Quốc Dân Đảng, là nhà văn đầu tiên đã xử dụng quyền tự do dân chủ một cách có hệ thống để chống lại chế độ thuộc địa Pháp.

Một trong những ngòi bút chính của Tự Lực Văn Đoàn, xuất thân luật gia, ông đỗ vào trường Luật Đông Dương, Hà Nội, năm 1924 và tốt nghiệp năm 1927. Ngay từ 1933, trên Phong Hoá, dưới bút hiệu Tứ Ly, ông đã viết những bài châm biếm đả kích toàn bộ hệ thống quan lại của chính quyền thuộc địa và bài trừ hủ tục trong xã hội Việt Nam. Trên báo Ngày Nay, từ 1937 đến 1939, Hoàng Đạo hoàn tất những hồ sơ lớn về Vấn đề thuộc địa, Vấn đề cần lao, Công dân giáo dục, nội dung phê phán chính quyền thuộc địa, chỉ trích sự vi phạm nhân quyền trong chính sách đánh chiếm thuộc địa của người da trắng, chỉ trích sự vi phạm luật lao động trong chính sách mộ phu và cổ động việc giáo dục công dân về dân quyền và nhân quyền. Tất cả loạt bài này căn bản đều dựa trên tự do dân chủ, quyền làm người, luật lao động, quyền công dân, thoát thai từ tinh thần cách mạng 1789 của Pháp.

Trước thực tại Việt Nam đầu thế kỷ XX, một nước bị mất chủ quyền, một dân tộc bị Pháp đô hộ, vậy vấn đề đầu tiên cần nói với người Pháp là gì? Hoàng Đạo trả lời: Là vấn đề thuộc địa.

Sau khi nhắc lại lời Montesquieu: “lập ra thuộc địa, cốt là để có nơi buôn bán có lợi hơn là buôn bán với các nước láng giềng”, Hoàng Đạo đánh thẳng vào sự phân biệt kỳ thị giữa mẫu quốc và người bị trị: “Những dân bản xứ, vì khác loài, khác giống, da đỏ, da đen, mũi tẹt, môi dầy, đều bị coi là một hạng nửa người nửa thú, không đáng đứng ngang hàng với dân mẫu quốc về hết thẩy phương diện”. Rồi ông nhấn mạnh: “Họ chịu làm thuộc địa chỉ là một sự bất đắc dĩ, sau một cuộc tàn sát khốc hại. Họ phải lùi, bó tay hàng trước sức mạnh.” (Vấn đề thuộc địa, Thuộc địa Ký-ước, Ngày Nay số 74, 29/8/1937).

Với những người Pháp yêu chuộng tự do dân chủ, Hoàng Đạo gửi tới họ những khát vọng của dân Việt:“Người Nam chỉ ao ước một điều: là được những sự tự do của nền dân chủ và được dần dà coi ngó, đảm đang lấy việc công trong nước của họ. Ngày nào dân Annam có quyền, trong sự tự do, tự kén chọn lấy những người cầm quyền cai trị họ, ngày ấy nguyện vọng của người Nam đã đạt được nhiều rồi vậy” (Vấn đề thuộc địa, Thuộc địa Pháp-Chính sách, Ngày Nay số 80, 10/10/1937).

Kết tội chính sách thuộc địa dã man của Anh, Tây Ban Nha, Hoàng Đạo nhắc người Pháp rằng chính sách thuộc địa của họ là bất hợp pháp và nếu họ không thay đổi chính sách cai trị thì người Việt sẽ nổi lên chống lại.

Loạt bài Vấn đề thuộc địa, tổng hợp những lý luận chặt chẽ, kiến thức uyên bác, tầm nhìn rộng về thế giới bên ngoài, về lịch sử chinh phục thuộc địa, về sự tiến hoá của luật pháp.

Trong bức thư ngỏ gửi cựu toàn quyền Varenne, về chỉ dụ báo chí 4/10/1927, Hoàng Đạo viết:

 “Tôi không cần phải nhắc lại rằng đạo chỉ dụ ấy đã bắt các báo chí ở đây [tức ở là Trung và Bắc, Nam kỳ được hưởng quyền tự do báo chí như ở các nước thuộc địa cũ] phải xin phép mới được xuất bản và phép cho xuất bản chính phủ muốn thu về lúc nào cũng được. Tôi không cần phải nói đến tệ hại của chế độ ấy, tôi đã nói nhiều rồi (…)

Muốn rửa sạch cái tiếng không hay đã đem tên ông đặt vào cái chỉ dụ 1927, ông chỉ còn có một phương pháp, là đem hết tài lực của ông mà xin hủy bỏ cái chế độ không hợp với trình độ của dân tộc Việt Nam ấy đi, để chúng tôi được hưởng một chút tự do, một chút quyền lợi về chính trị mà ông bảo phải đi đôi với công việc giáo hoá”

(Thư ngỏ cho ông cựu toàn quyền Varenne, Ngày Nay, số 130, 1/10/38).

Hoàng Đạo không chỉ đòi tự do dân chủ cho người Việt, mà ông đòi hỏi tự do, dân chủ, nhân quyền cho toàn bộ những dân tộc bị trị trên thế giới. Khi đối đầu với người Pháp, Hoàng Đạo, luôn giữ thái độ bình đẳng của người đòi hỏi người, của một dân tộc đòi hỏi một dân tộc khác: Ông khẩn thiết yêu cầu nước Pháp, một nước tự nhận là quê hương, là nguồn cội của Nhân quyền, hãy áp dụng cái Nhân quyền ấy ở Việt Nam.

Về vấn đề cần lao, phản đối tình trạng người lao động bị bóc lột ở Việt Nam nói riêng và người bóc lột người ở thời đại kỹ nghệ phát triển nói chung, Hoàng Đạo viết: “Người ta đem phủ một lượt tro lên sự đốn mạt người bóc lột người. Người ta đem những danh hiệu mới, như tờ cam đoan, tờ giao kèo, lao công cưỡng bách, để che đậy sự thực” (Vấn đề cần lao, Nô lệ trá hình, Ngày nay, số 133, 22/10/38).

Ông phân tích và đứng trên bình diện luật pháp để phê phán những bất cập, phạm pháp trong các chế độ: Lao công cưỡng bách (mộ phu đi rừng cao-su), luật xã hội, luật lao động, vấn đề thanh tra và nghiệp đoàn…

Loạt bài Công dân giáo dục (viết năm 1939), nhắm vào sự giáo dục dân chủ, Hoàng Đạo giải thích cho người Việt hiểu quyền lợi và trách nhiệm của người công dân trong một nước dân chủ, khác với bổn phận một thần dân dưới thời phong kiến: Muốn được tự do, muốn có dân chủ, thì người dân trước hết phải tự ý thức được cái giá phải trả cho tự do, dân chủ, tức là phải ý thức được sự trưởng thành, độc lập của mình, phải hiểu quyền công dântrách nhiệm của người công dân. Hoàng Đạo viết:“Ý tưởng công dân là một ý tưởng mới. Cùng với những ý tưởng khác, có sức mạnh vô cùng, ý tưởng tự do bình đẳng, nhân đạo, công lý, ý tưởng công dân vì một tình cờ trong lịch sử đã theo chiến hạm Pháp nhập vào nước ta vào khoảng cuối thế kỷ trước” (Công dân giáo dục, Ngày Nay số 160, 6/5/39).

Trong loạt bài này, Hoàng Đạo giải thích rõ ràng các khái niệm mấu chốt: Hiến pháp, Nhân quyền, Tự do, Ý nghiã cuộc cách mệnh Pháp, Tự do cá nhân, Tự do tư tưởng, Tự do ngôn luận, Tự do hội họp, Tự do lập hội, Tự do chính trị.

Như vậy, khái niệm tự do dân chủ đã truyền vào Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX, với đoàn quân viễn chinh Pháp, và được mở rộng, dưới thời Pháp thuộc, qua ngả học đường, tạo thành một lớp trí thức tân học, đấu tranh cho dân chủ bằng ngòi bút, một lớp văn nghệ sĩ mới, xây dựng nên nền văn học quốc ngữ.

Tình hình Việt Nam khác với tình hình Trung Hoa: Người Hoa không bị Tây Phương đô hộ, họ không tiếp nhận tinh thần tự do dân chủ ở học đường như người Việt. Cho nên không thể máy móc chép lại lập luận của người Tàu “Dân chủ là một khái niệm của Tây phương không phù hợp với tinh thần Đông phương” để áp dụng cho người Việt. Lập luận đó, vừa hạ thấp trình độ của người dân Việt và trí thức Việt trước các dân tộc khác, lại vừa sai lầm, không đúng với thực tế vì nếu chúng ta nhìn lại quá trình đấu tranh cho tự do dân chủ củangười trí thức Việt Nam qua lý luận pháp luật, từ Hoàng Đạo, thời Pháp thuộc, Nguyễn Mạnh Tường thời NVGP, đến các luật gia trẻ thời nay như Lê Thị Công Nhân, Lê Công Định… Việc đấu tranh do dân chủ ở Việt Nam là một truyền thống có từ đầu thế kỷ XX, từ Phan Châu Trinh đến ngày nay, qua những giai đoạn lịch sử khác nhau.

Nguyễn Mạnh Tường

Sau Hoàng Đạo, Nguyễn Mạnh Tường là người dùng lý lẽ luật pháp để phê bình những sai lầm về mọi mặt trong chính sách cai trị thiếu dân chủ của đảng Lao Động, đặc biệt trong bài tham luận “Qua những sai lầm trong cải cách ruộng đất, xây dựng quan điểm lãnh đạo” đọc trước Mặt trận tổ quốc ngày 30/10/1956 trong thời kỳ NVGP.

Sau này, Nguyễn Mạnh Tường để lại hai tác phẩm quan trọng, viết bằng tiếng Pháp, cuốn Un Excommunié (Kẻ bị khai trừ), viết về ba “đấu trường” mà ông phải trải qua sau vụ Nhân Văn Giai Phẩm, và cuốn tiểu thuyết Une voix dans la nuit, roman sur le Viet nam 1950-1990-1993, (Tiếng vọng trong đêm, tiểu thuyết về Việt Nam những năm 1950-1990-1993), tóm tắt lịch sử cận đại, xuyên qua ba chặng khốc liệt nhất: Cải cách ruộng đất ở thôn quê, Cải cách bất động sản ở Hà Nội, và Chính sách đối với trí thức. Nội dung những tác phẩm này sẽ được đề cập đến sau, ở đây chúng tôi chỉ giới thiệu đoạn ông viết về khái niệm tự do dân chủ trong lòng trí thức Việt Nam thế kỷ XX trong chương Le problème des intellectuels (Vấn đề người trí thức):

Trước hết, Nguyễn Mạnh Tường định nghiã thế nào là trí thức?

Dùng lời một cán bộ cao cấp, thân cận với giới trí thức, báo cáo lên Tổng Bí Thư, (có thể hiểu như lời Trường Chinh nói với Hồ Chí Minh), Nguyễn Mạnh Tường viết:

“Tôi muốn nói những nhà trí thức đích thực, đối cực của thứ trí thực giả hiệu ngực phồng những phẩm hàm, những bằng cấp thật giả không sao biết được. (…)

 Ở những nhà trí thức đích thực, nhân cách đi đôi với văn hoá. Văn hóa ở đây không có nghiã là kiến thức. Có những người đầy kiến thức, là chuyên viên hàng đầu trong địa hạt hoạt động của mình, nhưng họ vẫn vô văn hoá, bởi lối nhìn về con người, về vạn vật của họ ấu trĩ vô cùng. Sự nhận thức thực tế xã hội và con người của họ ngây ngô lạ lùng!

Họ thiếu cái gì? Thiếu sự phán đoán được rèn luyện qua sách vở, thiếu sự giao tiếp với con người, thiếu tiếp cận những vấn đề của cuộc sống, thiếu trao đổi tư tưởng với người khác, thiếu sự suy nghĩ sâu xa và đúng đắn về những thành công và thất bại mà kinh nghiệm sống đem lại”. (trích dịch Nguyễn Mạnh Tường, Une voix dans la nuit, roman sur le Viet nam 1950-1990-1993, Tiếng vọng trong đêm, tiểu thuyết về Việt Nam những năm 1950-1990-1993), bản đánh máy, chưa in).

Đó là một định nghiã trí thức của Nguyễn Mạnh Tường qua lời một cán bộ cao cấp cộng sản. Và đây là vị trí của người trí thức đích thực trong xã hội Việt nam từ xưa đến nay:

“Nhờ nhân cách và văn hoá mà người trí thức, trung quân trong thời phong kiến, có uy tín đối với quần chúng và được vương quyền nể trọng. Sau khi thi đỗ, ra làm quan cai trị dân là họ hoàn tất nhiệm vụ của mình.

 Trong thời Pháp thuộc, giai cấp quan lại bị mất uy tín vì sa vào vòng thối nát hối lộ, mất đi cái hào quang xưa, trở thành cái bia cho báo chí và quần chúng chế giễu, phỉ báng.

Nhưng lớp trí thức mới được đào tạo từ những trường hay đại học Pháp, lại được hưởng niềm tin và kính trọng của quần chúng mà lớp trí thức xưa để lại. Thêm một sự kiện mới nữa: Những nhà trí thức tân học đích thực này đã tiếp nhận tinh thần dân chủ Pháp thoát thai từ cách mạng 1789. Họ không xa lạ gì với vấn đề nhân quyền.

 Thưa đồng chí Tổng bí thư, cái nguy hiểm là ở chỗ đó: Con trùng dân chủ và nhân quyền đã thấm vào máu, nhất là tầng lớp quan lại xuất thân từ đại học Luật mới mở những năm gần đây. Dĩ nhiên có người vẫn còn chịu ảnh hưởng truyền thống cũ, có người là nạn nhân những di tật người trước để lại, nhưng trong đáy lòng họ, vẫn le lói ngọn lửa dân chủ“. (Trích dịch Nguyễn Mạnh Tường, Une voix dans la nuit – Tiếng vọng trong đêm)

Mượn lời một cán bộ cao cấp báo cáo tính hình trí thức lên vị Tổng bí thư về mối hiểm nguy của tinh thần dân chủ trong người trí thức tân học, tinh thần đó đã đi vào máu, đã ở trong tim họ, để vị tổng bí thư tìm cách đối phó, Nguyễn Mạnh Tường muốn phản ảnh hai thực tại:

– Trí thức thầm nhuần dân chủ là một lực lượng đáng ngại đối với chế độ cộng sản.

– Những người lãnh đạo cộng sản hiểu rõ vấn đề trí thức và dân chủ hơn ai hết. Họ phân biệt hai loại: trí thức thật và trí thức giả. Trí thức giả là bọn bồi bút, để chính quyền sai bảo, và trí thức thật, có uy tín với quần chúng, mới là những người mà Đảng cần phải thanh trừng, bởi đó là mối hiểm nguy:họ mang trong người tinh thần dân chủ, họ chống lại chính sách độc tài đảng trị và họ chuyên chở ý thức tự do cá nhân, chống lại chủ nghiã tập thể, đó là những điểm mà những nhà lãnh đạo cộng sản không thể chấp nhận được.

Nhờ sự giải thích của Nguyễn Mạnh Tường trong tiểu thuyết Tiếng vọng trong đêm, mà chúng ta có thể hiểu rõ hơn phương pháp và mục đích đấu tranh của phong trào NVGP, hiểu được mức hậu thuẫn sâu xa của quần chúng đối với phong trào và hiểu sự đàn áp của chính quyền cộng sản đối với trí thức văn nghệ sĩ tham gia NVGP.

Dập tắt được phong trào Nhân Văn Giai Phẩm tức là dẹp tan tinh thần tự do dân chủnghiền nát tầng lớp trí thức đích thực, chỉ để lại những “trí thức” lo “sống sót đến ngày nay là vì biết sợ” như lời Nguyễn Tuân. Tinh thần dân chủ đã bị “đánh tận gốc, trốc tận rễ” từ năm 1958, cùng với sự trù dập những thành viên của phong trào Nhân Văn Giai Phẩm và ngày nay không dễ gì xây dựng lại được.

 Sự đấu tranh cho tự do dân chủ trên Nhân Văn và Giai Phẩm

 Nguyễn Hữu Đang đặt trọng tâm chính trên vấn đề tự do dân chủ trên báo Nhân Văn. Trong ba số đầu, ông thực hiện cuộc phỏng vấn ba nhà trí thức danh tiếng, không thuộc nhóm Nhân Văn: Nguyễn Mạnh Tường, Đào Duy Anh và Đặng Văn Ngữ về vấn đề mở rộng tự do dân chủ, với hai câu hỏi:

  1. Theo ý ông, lúc này giới trí thức nói chung và giới văn nghệ nói riêng, cần phải làm những gì để góp phần thực hiện mở rộng tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do nghiên cứu và sáng tác?
  2. Theo ý ông và trên cơ sở nhu cầu phát triển của ngành ông thì chúng ta cần phải đem ra thảo luận rộng rãi những vấn đề gì?

Luật sư Nguyễn Mạnh Tường đưa ra hai nguyên do thiếu dân chủ: Đảng viên và cán bộ thiếu tinh thần dân chủ và quần chúng chưa thấm nhuần tinh thần dân chủ. Sở dĩ như thế là vì trong kháng chiến, mọi cố gắng phải dồn vào chiến tranh, “quần chúng nghĩ rằng chưa phải lúc đòi hỏi các tự do dân chủ”. Nhưng khi hòa bình rồi, thì vấn đề đòi hỏi tự do dân chủ phải là tất yếu. Riêng ngành đại học cần hai nguyên tắc dân chủ: “Tác phong của cấp lãnh đạo phải thật sự dân chủ”“việc lựa chọn cán bộ phải dựa vào tiêu chuẩn chuyên môn là chính”.

Nhà sử học Đào Duy Anh trả lời trong Nhân Văn số 2: Những kẻ thù của tự do, người ta đều biết cả: đó là những tệ nạn quan liêu, mệnh lệnh, độc đoán, bè phái, những bệnh giáo điều, công thức, sùng bái cá nhân, ngang nhiên trong công tác lãnh đạo văn nghệ và học thuật và cả giới trí thức nữa. Muốn thực hiện tự do dân chủ, thì “giới trí thức là những người thiết tha nhất đối với các thứ tự do ấy chỉ có một cách là đấu tranh. Đấu tranh trong công tác chuyên môn, đấu tranh trong hoạt động xã hội. Đấu tranh bằng hoạt động phê bình, phản phê bình, tự phê bình.” Sự đấu tranh của trí thức không thể là đấu tranh chung chung mà phải có mục đích thực tiễn ở mỗi ngành. Đào Duy Anh viết: “Không ai ngăn cấm anh tự do nghiên cứu, sáng tác, nhưng nếu anh không có phương tiện nghiên cứu sáng tác thì thực tế anh chẳng có quyền đâu. Không ai ngăn cấm anh tự do ngôn luận, nhưng nếu anh không có phương tiện để in sách báo thì thực tế anh cũng chẳng có quyền đâu”.  Nói cụ thể, ví dụ như trong ngành xuất bản, thì  phải tranh đấu “cho tư nhân xuất bản dễ dàng, giúp đỡ việc phát hành, cho phương tiện thuận tiện để sáng tác và nghiên cứu, săn sóc sự xuất bản rộng rãi các tác phẩm văn nghệ và đặc biệt chú ý xuất bản những tác phẩm nghiên cứu khoa học.” Trong đại học phải tranh đấu để đại học trở thành “một trung tâm nghiên cứu khoa học cao độ”; nghiã là phải đặt tiêu chuẩn chuyên môn lên trên tiêu chuẩn chính trị trong việc lựa chọn chuyên viên.

Bác sĩ Đặng Văn Ngữ nhận định: “Dưới một chế độ độc tài không ai dám chỉ trích Chính phủ thì còn đâu mà thấy khuyết điểm về tự do dân chủ?”

Ông xác định nhiệm vụ của người trí thức: “Trong việc xây dựng tư tưởng tự do và dân chủ, nhiệm vụ chính phải là của trí thức”

Nhưng ông cũng nhận thấy sự “thiếu tự do tư tưởng, thiếu dũng cảm” của người trí thức: “Trí thức ở một cương vị thuận lợi và có đủ nhận thức để nhận thấy lãnh đạo có sai lầm, và thực tế là trí thức của ta đã nhận thấy từ lâu một số sai lầm của lãnh đạo. Nhưng trí thức của ta đã thiếu tự do tư tưởng, thiếu dũng cảm nên không dám phê bình xây dựng”.

Và ông kết luận: “Để phát triển bất kỳ một ngành nào, vấn đề cần phải đưa ra thảo luận là vấn đề tự do dân chủ”.

Nhìn lại nội dung hai số báo Nhân VănGiai Phẩm đầu tiên, chúng ta có thể thấy một sự phân chia nội dung rất hợp lý: Bài Pbình lãnh đạo văn nghệ, của Phan Khôi đi tiên phong trên Giai Phẩm mùa thu tập I, như ngọn đuốc dẫn đường.

Trên Giai phẩm mùa thu tập 1 (30/8/56) còn có truyện ngắn Tiếng sáo tiền kiếp của Trần Duy, một trong những truyện ngắn hay nhất thời NVGP, nói lên sự bất lực của chính sách tẩy não: không ai có thể tịch thu quá khứ con người. Bức thư gửi một người bạn cũ của Trần Lê Văn mô tả một chân dung bồi bút. Bài thơ Tỉnh giấc chiêm bao của Nguyễn Bính thuật lại sự thức tỉnh của một nghệ sĩ sau 9 năm theo cách mạng.

Trên Nhân Văn số 1 (30/9/56), bài Nhân câu chuyện mấy người tự tử của Lê Đạt là một bài xã luận bằng thơ đả phá chế độ công an trị. Bài Con người Trần Dần của Hoàng Cầm kể lại bi kịch của một nhà thơ trẻ, chỉ in có một bài thơ trên báo với nội dung yêu nước, mà bị bắt đi trong một bối cảnh tăm tối, không biết bị giam giữ ở đâu, có thể bị thủ tiêu, đó là một bản cáo trạng thống thiết về tình trạng bắt bớ giam người trái phép, vô luật pháp. Tranh Nguyễn Sáng khắc lại hậu quả của sự khủng bố trên con người Trần Dần.

30/9/1956, cùng ngày phát hành Nhân Văn số 1, Giai phẩm mùa thu, tập II xuất hiện với những bài: Bệnh sùng bái cá nhân trong giới lãnh đạo văn nghệ của Trương Tửu, Ông Bình Vôi của Phan Khôi, Những người khổng lồ của Trần Duy, Thơ cái chổiChống tham ô lãng phí của Phùng Quán, Cũng những thằng nịnh hót của Hữu Loan, Em bé lên sáu tuổi của Hoàng Cầm, Cuốn sổ tay của Lê Đại Thanh,… Đây là số báo mạnh mẽ nhất từ trước đến giờ về mặt chống đối chế độ.

Trần Đức Thảo, trên Nhân Văn số 3 (15/10/1956) trong bài Nỗ lực phát triển dân chủ, nhấn mạnh đến sự tự do của người trí thức: “Người trí thức hoạt động văn hoá, cần tự do như khí trời để thở. Có tự do mới đẩy mạnh được sáng tác văn nghệ, nghiên cứu khoa học, cải tiến kỹ thuật. Phát triển tự do là nhu cầu thiết thân đồng thời cũng là nhiệm vụ số 1 của người trí thức cũng như của toàn dân”.

Trong bài Muốn phát triển học thuật  in trên Giai phẩm mùa thu tập III (30/10/56), học giả Đào Duy Anh nêu lên hai căn bệnh nặng nhất trong học thuật là bệnh giáo điều và sùng bái cá nhân, với ông, bệnh sùng bái cá nhân được nhìn dưới một lăng kính khác Trương Tửu:

“Ở nước ta thì bệnh giáo điều và sùng bái cá nhân lại còn trầm trọng hơn, khiến người ta, vô luận bàn về vấn đề gì, cũng đều phải bắt đầu dẫn những đề án của Mác-Ăng-ghen và Lê-nin, hoặc những ý kiến của Sta-lin hay các lãnh tụ khác, để, hoặc phát triển thêm những ý kiến ấy, hoặc gò bó tài liệu, xoay sở thế nào để gán vào khuôn khổ của những công thức rút ra tự những ý kiến ấy (…) Bệnh giáo điều và sùng bái cá nhân lại dẫn thẳng đến cái tệ tư tưởng độc tôn: hễ thấy ai có ý kiến gì vượt ra ngoài những công thức cũ, những khuôn khổ sẵn có thì người ta chụp ngay cho những cái mũ dễ sợ, như cái danh hiệu cải biến chủ nghĩa chẳng hạn, những mũ như thế rất dễ bịt mồm bịt miệng người ta.

Tư tưởng không tự do thì không thể tự do thảo luận được. Mặc dầu không ai cấm tranh luận- các nhà lãnh đạo vẫn thường nói nên mở rộng tranh luận nhưng trong thực tế thì sự thảo luận đã bị thủ tiêu từ gốc rồi. Nghiên cứu hay nghị luận một vấn đề gì, nhiều người chỉ nơm nớp sợ không khéo thì chệch ra ngoài đường lối tư tưởng chính thống độc tôn. Đối với những người ấy, công tác học thuật trở thành trò xiếc leo dây. Con đường học thuật phải là con đường cái thênh thang mọi người tự do đi lại, chứ không phải sợi dây căng của người làm xiếc. Phải trừ bỏ những bệnh giáo điều và sùng bái cá nhân để trả lại tự do cho học thuật”.

Trên Nhân Văn số 4 (5/11/1956), Nguyễn Hữu Đang viết bài Cần phải chính quy hơn nữa, đặt vần đề xây dựng một nhà nước pháp trị. Phùng Cung trong Con ngựa già của chúa Trịnh dùng hình ảnh con ngựa già để chỉ những văn nghệ sĩ phục vụ đảng cũng giống như con ngựa của nhà Chúa, quen thói tôi đòi, vinh thân phì gia, mất hết mọi khả năng sáng tạo. Văn Cao trong Những ngày báo hiệu mùa xuân, lại một lần nữa chỉ bọn nịnh thần mà mắng.

20/11/1956 Nhân Văn số 5, trong bài Hiến pháp Việt nam 1946 và Hiến pháp Trung hoa bảo đảm tự do dân chủ thế nào? Nguyễn Hữu Đang nhắc lại điều 10 (của Hiến pháp 1946): Công dân Việt nam có quyền: Tự do ngôn luận. Tự do xuất bản. Tự do tổ chức hội họp. Tự do cư trú, đi lại trong nước và ngoài nước và điều 11: Tư pháp chưa quyết định thì không được bắt bớ và giam cầm người công dân Việt nam. Nhà ở và thư từ của công dân Việt nam không ai được xâm phạm một cách trái pháp luật. Trong Bài học Ba-lan và Hun-ga-ri ký tên Người Quan Sát, Lê Đạt cảnh báo: Nếu muốn tránh một biến cố như biến động Ba Lan thì Đảng phải: “cương quyết và mạnh bạo sửa chữa những sai lầm kịp thời và đúng mức, cụ thể là nâng cao đời sống của nhân dân, mở rộng tự do dân chủ”.

 Ngày 30/10/56, luật sư Nguyễn Mạnh Tường nổ quả “bom” ngoài luồng Nhân Văn, với bài Qua những sai lầm trong cải cách ruộng đất xây dựng quan điểm lãnh đạo, đọc trước Mặt Trận tổ quốc.

Sau đây, chúng tôi xin giới thiệu những bài quan trọng nhất trong thời kỳ Nhân Văn Giai Phẩm.

Phan Khôi phê bình lãnh đạo văn nghệ

Lê Đạt tuyên bố: “Mặc dầu Phan Khôi không lãnh đạo trực tiếp tờ Nhân Văn, nhưng trong thâm tâm tôi, bao giờ tôi cũng coi ông là người lãnh đạo tờ Nhân Văn”. (Lê Đạt trả lời phỏng vấn RFI). Lời nói của Lê Đạt biểu dương ý kiến chung của những ai đã đọc các bài Phan Khôi viết trong thời kỳ NVGP, đã thấy sự can trường của một người đứng ra lãnh trọng trách chủ nhiệm một tờ báo đòi tự do dân chủ, đối lập với chính quyền cộng sản.

Trong thời kỳ NVGP, Phan Khôi có hai bài viết chính: bài Phê bình lãnh đạo văn nghệ (Giai Phẩm Mùa Thu tập I, 29/8/1956) và truyện ngắn Ông Bình Vôi (Giai phẩm mùa thu tập II, 30/9/1956).

Phê bình lãnh đạo văn nghệ, là một trong những tác phẩm chủ chốt của phong trào NVGP, nhắm vào ba vấn đề thời sự văn học đương thời, nhưng vẫn còn là thời sự văn học hôm nay:

– Vấn đề tự do văn nghệ sĩ

– Vụ đàn áp Giai phẩm mùa xuân

– Và vụ giải thưởng văn học 1954-1955.

Với ngòi bút sắc sảo, với tác phong “ngự sử văn đàn”, Phan Khôi vạch trần những tác hại của đám quan trường nhất phẩm triều đình: Ông chỉ trích Trường Chinh ăn nói bừa bãi, chất vấn gắt gao Tố Hữu, Hoài Thanh, Nguyễn Đình Thi, những người tổ chức và thi hành việc đánh Trần Dần. Trước Phan Khôi, chưa có nhà văn nào dám mạnh mẽ quyết liệt phê bình lãnh đạo đến thế.

Phan Khôi tách bạch hai giai cấp: Lãnh đạo văn nghệQuần chúng văn nghệ và ông triệt để phê phán ba vấn đề thực tiễn:

1- Vấn đề tự do của văn nghệ sĩ: Sau khi đưa ra những dẫn chứng cụ thể về việc lãnh đạo nghiệt ngã bắt bẻ nhà văn phải viết theo đúng đường lối chính sách của Đảng, Phan Khôi hỏi thẳng lãnh đạo: chính trị muốn đạt đến cái mục đích của nó thì cứ việc dùng khẩu hiệu, biểu ngữ, thông tri, chỉ thị, không được hay sao mà phải dùng đến văn nghệ sĩ? Rồi ông buộc tội: “Lãnh đạo đã xâm phạm mỗi ngày một hơn vào quyền riêng nghệ thuật của văn nghệ sĩ.”

2- Về vụ Giai phẩm mùa xuân: Chất vấn ban chủ tọa Hội Văn nghệ về việc tổ chức hội họp đánh Trần Dần, Phan Khôi viết: “…Hội Văn nghệ khai hội từ 7 giờ tới đến 1 giờ sáng để phê bình bài thơ Trần Dần, mà kỳ thực là hỏi tội Trần Dần, một mầm non văn nghệ. Hỏi độc tội một Trần Dần thôi là cái ngón chính trị tài tình lắm đấy, để cô lập Trần Dần và phân hóa lũ người trong Giai Phẩm, cái ngón ấy đã thành công”.

“Tôi nhớ có một vị bắt lỗi trong bài thơ Trần Dần có chữ “Người” viết hoa. Lấy lẽ rằng chữ Người viết hoa lâu nay chỉ để xưng Hồ chủ tịch, thế mà Trần Dần lại viết hoa chữ Người không phải để xưng Hồ chủ tịch. Tôi ngồi nghe mà tưởng như ở trong chiêm bao, chiêm bao thấy mình đứng ở một sân rồng nọ, ông Lê Mỗ tố cáo ông Nguyễn Mỗ trước ngai vàng, rằng trong phép viết, chỉ có chữ nào thuộc về hoàng thượng mới phải đài [tôn xưng], thế mà tên Nguyễn Mỗ viết thư cho bạn, dám đài chữ không phải thuộc về hoàng thượng. Nhưng may cho tôi, tôi tỉnh ngay ra là mình đang ngồi trong phòng họp Hội Văn nghệ”.

Những lời trên đây, tưởng Phan Khôi nói với đám nhất phẩm, nhưng không phải, đó là những lời nhắn tới bệ rồng. Ông không thèm hỏi tội bày tôi nữa, mà ông đi ngược lên trên, điều tra đến manh mối sau cùng, tới lãnh đạo tối cao, qua những chữ: Người, sân rồng, Hoàng thượng, ngai vàng, để xác định: Sự sùng bài lãnh tụ phải đến từ chính vị lãnh tụ. Nếu lãnh tụ không muốn được tôn sùng, nếu lãnh tụ ưa sự bình đẳng, dân chủ, thì kẻ dưới quyền không thể xu nịnh tâng bốc được.

3- Về giải thưởng văn học năm 54-55: ba tác phẩm Mưa sao của Xuân Diệu, Truyện anh Lục của Nguyễn Huy Tưởng và Nam Bộ mến yêu của Hoài Thanh đều chiếm giải. Phan Khôi phê bình: “Cả ba ông Xuân Diệu, Nguyễn Huy Tưởng, Hoài Thanh đều có tác phẩm dự thi mà đều ở trong ban Chung khảo. Nếu ở trong ban Chung khảo mà thôi còn khá, thử điều tra lại hồ sơ, thì ba ông còn ở ban Sơ khảo nữa, sao lại có thể như thế? Trường thi phong kiến xưa, tuy có ám muội gì bên trong, chứ bên ngoài họ vẫn sạch tiếng: Một người nào có con em đi thi, thì người ấy có được cắt cử cũng phải “hồi tỵ”, không được chấm trường. Bây giờ đến cả chính mình đi thi mà cũng không “hồi tỵ”: một lẽ là ở thời đại Hồ Chí Minh, con người đã đổi mới, đã “liêm chính” cả rồi; một lẽ trắng trợn vì thấy mọi cái “miệng” đã bị “vú lấp”.”

Qua việc trao giải thưởng văn nghệ hàng năm, Phan Khôi mỉa mai sự gian dối, ám muội trong các địa hạt khác ở “thời đại Hồ Chí Minh”, đã đổi mới rồi, mà sao con người lại “thanh liêm” kiểu ấy, bởi mọi cái miệng đã bị vú lấp mất rồi“.

Về việc Hồ Chí Minh viết “truyện mẫu” cho nhà văn viết theo, Phan Khôi bảo: “Nhược bằng bắt mọi người viết phải viết theo một lối với mình, thì rồi đến một ngày kia, hàng trăm thứ hoa cúc đều phải nở ra cúc vạn thọ hết”.

Về việc Đảng dạy dỗ các nhà thơ nhà văn sáng tác theo chỉ thị, Phan Khôi bảo: “Đảng giáo dục Xuân Diệu làm cách mạng chứ có giáo dục Xuân Diệu làm thơ đâu!”

Những lời khẳng khái của Phan Khôi trong thời điểm NVGP đã trở thành biểu tượng của tinh thần bất khuất phan khôi trước mọi áp lực tư tưởng.

Bài Phê bình lãnh đạo văn nghệ là văn bản “hỏi tội triều đình” trực tiếp và gay gắt nhất, mà cho đến nay chưa một trí thức nào dám làm. Văn bản này sẽ mãi mãi trụ lại như một bài văn tiêu biểu cho sự can trường của một nhà trí thức hiện đại trong thế kỷ XX, đứng trước sự độc tài của một thể chế, không khác gì các sớ dâng vua trảm tấu bọn gian thần thời phong kiến.

Chính văn bản này đã khiến giới cầm bút nhìn thấy ở Phan Khôi một nhà lãnh đạo văn nghệ đích thực, và những trí thức khác như Trương Tửu, theo gương Phan Khôi dứt khoát bước vào diễn đàn NVGP.

Trương Tửu: Bệnh sùng bái cá nhân trong giới lãnh đạo văn nghệ

Trương Tửu bước vào diễn đàn với lập luận chặt chẽ và đanh thép của nhà phê bình, ông viết hai bài quan trọng trong chủ đề tự do tư tưởng: Bệnh sùng bái cá nhân trong giới lãnh đạo văn nghệ (Giai phẩm mùa thu tập II, 30/9/56) và Văn nghệ và chính trị (Giai phẩm mùa thu tập III, 30/10/56) với phần hai là Tự do tư tưởng của văn nghệ sĩ và sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Bôn-sê-vích. (Giai phẩm mùa đông tập I, 28/11/56). Hai bài viết này xác định Trương Tửu như một trong những người lãnh đạo tư tưởng của phong trào NVGP.

Trong bài Bệnh sùng bái cá nhân trong giới lãnh đạo văn nghệ, ông trực tiếp đưa ngay vấn đề: “Tôi viết bài này, nối gót nhà văn lão thành dũng cảm Phan Khôi, góp ý kiến phê bình lãnh đạo văn nghệ, đặc biệt sự sùng bái cá nhân trong giới lãnh đạo văn nghệ”.

Trước tiên, ông xác định bệnh sùng bái cá nhân là bệnh của lãnh đạo văn nghệ:

“Sùng bái cá nhân là một bệnh phổ biến trong giới lãnh đạo văn nghệ (…) Tôi không nói đó là bệnh của văn nghệ sĩ; vì rằng, hôm qua cũng như hôm nay, người văn nghệ sĩ tự trọng không bao giờ thừa nhận sự sùng bái cá nhân. Nghệ thuật là sáng tạo, là tự do. Sùng bái cá nhân là phục tùng mù quáng, là nô lệ. Hai thứ đó như nước với lửa; có cái này thì không có cái kia được”.

Rồi ông dẫn chứng những trường hợp cụ thể không chịu sùng bài cá nhân của Tô Ngọc Vân, Sĩ Ngọc đối với Trường Chinh:

“Ai cũng còn nhớ, năm 1948, cố hoạ sĩ Tô Ngọc Vân đã tranh luận khá gay gắt với ông Trường Chinh về vấn đề: quần chúng phê bình nghệ thuật. Ngòi bút tranh luận của Tô Ngọc Vân chứng tỏ một khối óc độc lập, một tâm hồn có cá tính không vì uy quyền của lãnh tụ này hay lãnh tụ khác mà thủ tiêu ý kiến riêng của mình”.

Cùng năm 1948, trong một buổi nói chuyện khác ở Thanh Hóa “có đoạn ông Trường Chinh lớn tiếng mạt sát hoạ phái lập thể chủ nghĩa (của Picasso). Ông cho hoạ phái ấy, cũng như các phái nghệ thuật Đa đa, Dã thú v.v…, chỉ là những cái nấm độc mọc trên trạng thái thối tha của chế độ tư bản chủ nghĩa ở Âu châu đầu thế kỷ 20″.

“Sau buổi nói chuyện này, hoạ sĩ Sỹ Ngọc đã viết một bài nói về chủ nghĩa lập thể trong tạp chí Sáng tạo số 4” “để gián tiếp bác ý kiến của ông Trường Chinh”.

Trương Tửu xác định nhiệm vụ của văn nghệ sĩ trong cách mạng kháng chiến:

“Người văn nghệ sĩ kháng chiến đi tìm chân lý, đi tìm chính nghĩa, đi tìm tự do chứ không đi tìm cuộc đời nô lệ dưới hình thức này hay hình thức khác. Lấy sáng tạo nghệ thuật để phục vụ cách mạng làm lẽ sống chủ yếu, họ không thể sùng bái bất cứ cá nhân nào, không thể thừa nhận bất cứ uy quyền độc đoán nào, chống lại bất cứ sức áp chế tư tưởng nào.

Với những văn nghệ sĩ yêu chuộng tự do như thế, hễ lãnh đạo độc tài, bè phái thì tất yếu sự phản kháng nẩy ra ngay. Đó là tình trạng văn nghệ của ta từ sau 1949.”

Trong khi ấy thì lãnh đạo văn nghệ:

“Giống như bọn thầy bùa phong kiến, các nhà lãnh đạo văn nghệ của chúng ta muốn “yểm” tất cả các tâm hồn cứng rắn và tự do cho đến trở thành những hòn đất thó “tròn méo mặc dầu tay kẻ nặn”. Những lá bùa của họ chế tạo ra kể cũng đã khá nhiều: mất lập trường, phạm chính sách, phá đoàn kết, phá tổ chức, vô kỷ luật, chống Đảng, địch lợi dụng, có vấn đề, bất mãn cá nhân, óc địa vị, v.v… còn gì nữa?”

Sự đe nẹt của lãnh đạo văn nghệ cũng đã ảnh hưởng đến một số người:

“Và phải nói ngay rằng ngần ấy lá bùa yểm cũng đã linh nghiệm ít nhiều. Một số văn nghệ sĩ non gan (…) biến thành những tên thư lại văn nghệ xu nịnh trục lợi. Một số khác trốn vào thái độ tiêu cực, chán nản công tác, tâm tư nặng trĩu hờn oán và uất ức. Một số khác nữa “cất kín” cá tính và nghệ thuật xuống “đáy ba lô”, yên lặng làm bổn phận một người công dân kháng chiến bằng bút, bằng màu sắc, bằng dây đàn, bằng sân khấu – “đánh giặc đã!”. Còn một số không khuất phục, kịch liệt phê phán tác phong và đường lối lãnh đạo của thường vụ Hội thì bị chụp mũ, bị chèn ép, bị “trù”, bị hành hạ, bị gạt sang một bên…”

Tình trạng trù dập, chụp mũ này dẫn đến hậu quả là : “Cho đến hôm nay: sự phải xẩy ra đã xẩy ra. Nhân đã đẻ ra quả. Cuộc đấu tranh âm ỷ dai dẳng chống lãnh đạo độc đoán, quan liêu, bè phái, trong những năm cuối kháng chiến, khi hoà bình trở lại, đã bùng nổ. Khởi điểm là ở trong Phòng Văn nghệ Quân đội. Trần Dần, Phùng Quán, Trần Công, Tử Phác, Hoàng Cầm v.v… đề đạt nguyện vọng lên ban lãnh đạo yêu cầu một chế độ công tác hợp với tính chất đặc biệt của sự sáng tạo văn nghệ, yêu cầu trao trả quyền điều khiển văn nghệ cho văn nghệ sĩ, yêu cầu tự do trong sáng tác và sinh hoạt văn nghệ. Các nhà lãnh đạo văn nghệ quân đội, chủ quan và độc đoán, cương quyết đàn áp phong trào đấu tranh chính đáng ấy. Kết quả là cuộc đấu tranh càng ngày càng lan rộng. Điểm cuối cùng của nó là lớp học tập lý luận văn nghệ tháng Tám vừa qua ở trụ sở Hội Văn nghệ. Suốt mười tám ngày, anh em văn nghệ sĩ trong Đảng cũng như ngoài Đảng đã đứng dậy đồng thanh tố cáo những hành động và thái độ độc tài, bè phái của ban lãnh đạo văn nghệ. Học tập văn kiện của Đại hội 20 Đảng Cộng sản Liên Xô (đặc biệt bản tham luận của Cholokov), học tập văn kiện “Bách khoa tề phóng, bách gia tranh minh” của ông Lục Đỉnh Nhất, ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, anh em văn nghệ sĩ càng phấn khởi và mạnh bạo nêu cao khẩu hiệu tự do tư tưởng, trăm hoa đua nở, lấy đó làm mục tiêu đấu tranh chủ yếu. Hôm tổng kết học tập, ông Nguyễn Hữu Đang, đại diện giới văn nghệ sĩ, đã đọc một bản tham luận lên án đường lối lãnh đạo độc tài bè phái của thường vụ Hội, sự việc thật là cụ thể, lời lẽ thật là tha thiết. Ông Tố Hữu, người có trách nhiệm chính về phong trào văn nghệ từ thời kháng chiến đến giờ, đã đứng lên sơ bộ tự kiểm thảo về tác phong quan liêu trong lãnh đạo văn nghệ. Anh em văn nghệ sĩ chưa thoả mãn về những lời tự kiểm thảo của ông Tố Hữu và có yêu cầu được gặp Trung ương Đảng để trình bày nguyện vọng. Cuộc đấu tranh còn tiếp tục…”

Nguyên nhân nào đã đưa đến tình trạng này: Bệnh sùng bái cá nhân. Sau khi dẫn chứng chứng những cử chỉ, thái độ sùng bái cá nhân của các lãnh đạo văn nghệ, từ Lưu Trọng Lư đến Tố Hữu, mà theo ông đó là những kẻ có tâm lý “bảo hoàng hơn vua”, “ở cửa miệng họ, bao giờ ta cũng bắt gặp cái điệp khúc bất di bất dịch này: Đảng không bao giờ sai lầm. Rồi từ chỗ nói: Đảng không bao giờ sai lầm, họ tiến đến chỗ nói: các cá nhân lãnh đạo Đảng không bao giờ sai lầm”.

Họ sùng bái cá nhân để làm gì? Trương Tửu trả lời:

Họ sùng bái một người (cấp trên) để vạn người (cấp dưới) sợ cá nhân họ. Nhờ phương châm ấy, họ bám vào gót giầy cấp ủy ban này, cấp ủy ban khác, leo dần lên thang danh lợi, oai quyền hống hách, đàn áp cấp dưới, khinh miệt quần chúng, báo cáo lên trên thì xuyên tạc sự thực có dụng ý, lãnh đạo anh em thì mệnh lệnh độc tài. Họ sùng bái cá nhân là để trục lợi. Họ chỉ có thể tiến thân bằng đường lối ấy (…)

Thêm vào tư cách lãnh đạo ấy sự hiểu biết nông cạn và lệch lạc về văn nghệ, sự áp dụng máy móc phương châm phục vụ kịp thời, sự bắt buộc lồng một cách công thức chủ trương chính sách vào tác phẩm nghệ thuật, sự độc quyền và bè phái trong việc xuất bản báo, sự áp chế có tính cách hành chính hoặc quân sự đối với những văn nghệ sĩ dám nói thực, nói thẳng, nói hết… là ta có tất cả cái tình trạng văn nghệ ngột ngạt năm sáu năm nay. Bao nhiêu năng lực sáng tạo văn nghệ vì thế mà quằn quại không phát triển mạnh được.”

Sau khi tóm tắt tình hình toàn bộ đời sống văn nghệ trong kháng chiến, Trương Tửu kêu gọi:

Đã đến lúc phải sa thải những “nhà lãnh đạo” thiếu tư cách mà quần chúng tuyệt đối không tin tưởng nữa để quần chúng văn nghệ tự tay mình điều khiển công việc chuyên môn của mình một cách thực sự dân chủ”.

“Đã đến lúc phải thanh toán lối đàn áp tự do tư tưởng, khinh miệt quần chúng, mệnh lệnh, độc đoán, bè phái chủ nghĩa do bệnh sùng bái cá nhân đẻ ra, để mở đường cho trăm hoa đua nở, trăm nhà đua nói”.

Về nguyện vọng của văn nghệ sĩ, Trương Tửu viết:

Họ muốn tiêu diệt bệnh sùng bái cá nhân trong việc lãnh đạo văn nghệ đã cản trở sức phát triển nghệ thuật”

“Họ muốn chấm dứt lề lối mệnh lệnh, độc đoán, quan liêu, bè phái, chụp mũ, trong sự lãnh đạo văn nghệ, giành lại quyền tự do tư tưởng bị chà đạp bấy lâu nay; vì thiếu tự do tư tưởng thì nghệ thuật sẽ co quắp, mòn mỏi như cụm hoa thiếu ánh sáng mặt trời.

“Họ muốn công việc lãnh đạo văn nghệ phải trả lại cho những văn nghệ sĩ – bất kể trong Đảng hay ngoài Đảng – được quần chúng văn nghệ tự ý lựa chọn và tín nhiệm”

Bài viết đầu tiên của Trương Tửu tố cáo toàn diện bộ mặt lãnh đạo văn nghệ, qua đó ông phê phán bộ mặt lãnh đạo nói chung. Trong bài viết thứ nhì, ông đi sâu vào vấn đề tự do sáng tạo.

Trương Tửu: Văn nghệ và chính trị

Đối diện với Phan Khôi, Nguyễn Mạnh Tường, là những người có tư tưởng quốc gia, triệt để chống lại quan niệm đấu tranh giai cấp của cộng sản, Trương Tửu là người cộng sản đệ tứ, đứng trên quan niệm đấu tranh giai cấp để đòi hỏi tự do dân chủ.

Trước tiên, ông xác định quan hệ mật thiết giữa chính trị và văn nghệ:

“Văn nghệ, tự thân nó, tất yếu phải mang chính trị tính và có tác dụng chính trị” “Văn nghệ, căn bản, là một thể cách nhận thức và tái tạo thế giới thực tại, một thể cách biến cải xã hội, biến cải con người bằng đường lối thẩm mỹ”.

Cho nên, người nghệ sĩ khi sáng tác bắt buộc phải “dấn thân”, nhưng sự dấn thân ở đây có tính cách “đấu tranh giai cấp”, ông viết: “Sáng tác văn nghệ là tự xác định một thái độ, một lập trường đối với cuộc đấu tranh giai cấp đương thời”.

Đồng ý hay không đồng ý với quan niệm đấu tranh giai cấp này của Trưong Tửu, nhưng không ai có thể phủ nhận quan niệm tự do của văn nghệ sĩ mà ông trình bày trong bài viết. Vẫn đứng trên quan niệm đấu tranh giai cấp, chống lại các chế độ người bóc lột người, ông viết về thời cổ điển:

Lịch sử văn nghệ căn bản là lịch sử chiến đấu của những văn nghệ sĩ nhân đạo chủ nghĩa đối kháng với chế độ áp bức con người, bảo vệ quyền tự do tư tưởng, tự do nói sự thực trong tác phẩm”.

Mà sự thực lại là điều mà các chế độ độc tài ghê sợ nhất: “Bao nhiêu chính sách, biện pháp, công cụ đàn áp khủng bố của bọn thống trị đều chỉ nhằm mục đích: che giấu sự thực, cấm nói sự thực – vì sự thực lên án chúng”. Nhưng: “Các văn nghệ sĩ cổ điển đã nói sự thực, bất chấp mọi đe doạ. Đại thi hào Pouchkine có câu: “Nhà văn không nên hèn nhát kêu ca oán thán vì phải bất thần chịu đựng những viên đạn đầu tiên trên mặt trận, vì phải nếm trải những nỗi khổ cực nguy hiểm do sự viết văn gây ra”.

“Đó cũng là thái độ của tất cả những văn nghệ sĩ cổ điển Đông và Tây – của những Đỗ Phủ, Nguyễn Du, Molière, Heine, Rousseau, Diderot v.v… Họ dũng cảm bảo vệ tự do tư tưởng, tự do nói thực đến kỳ cùng trước sức tấn công hiểm độc của các giai cấp bóc lột – như người lính cách mạng bảo vệ khẩu súng, như người nông dân cách mạng bảo vệ làng xóm, như người công nhân cách mạng bảo vệ nhà máy, trước sức xâm lược khốc liệt của quân thù dân tộc và giai cấp. Đó là điều kiện cơ bản của sự thành công nghệ thuật. Sự thực về con người, chân lý cuộc sống là huyết mạch của nghệ thuật. “Thiếu chân lý đó, không thể có tác phẩm nghệ thuật thực sự quan trọng được”.

Trương Tửu đã viết những lời kêu gọi và biện hộ tha thiết cho sự tự do của văn nghệ sĩ:

“Muốn sáng tạo ra một thế giới độc đáo, văn nghệ sĩ phải có một cái nhìn độc đáo, một nhận thức độc đáo về thực tại, một trí tưởng tượng độc đáo, một lối nói độc đáo. Phải duy trì, bảo vệ, phát triển tính độc đáo ấy không để một sức mạnh bên ngoài nào xâm phạm đến hay làm cho mất đi. Phải tự do nhìn sự thực, tự do xúc cảm, tự do suy nghĩ, tự do tưởng tượng, tự do vận dụng ngôn ngữ nghệ thuật – để có thể phản ánh hiện thực một cách trung thành. Tự do đây có nghĩa là: chống lại mọi áp bức tư tưởng, mọi mệnh lệnh, mọi công thức, mọi quyền uy bắt mình nói điều mình không muốn nói, nghĩ điều mình không muốn nghĩ, nhận là đúng điều mình cho là sai, yêu những cái mà mình ghét, ca tụng những cái mà mình phản đối. Không có tự do ấy, sự sáng tác của văn nghệ sĩ sẽ giả tạo. Giả tạo là kẻ thù của nghệ thuật. Giả tạo là tiêu diệt nghệ thuật. Một tác phẩm văn nghệ không tiết ra từ những cảm nghĩ thành thực và sâu sắc của chính tâm hồn tác giả sẽ là một phản ảnh nhạt nhẽo của thực tại. Nó khô khẳng vì thiếu chất sống. Nó bất thành nghệ thuật, và do đó, chẳng xúc động được ai cả.”

Ông kêu gọi người nghệ sĩ phải “có can đảm “là mình” trong những điều kiện xã hội bắt họ “không được là mình”. Họ phải “tự do nhìn, cảm, nghĩ, nói theo chủ định cá nhân mình trong những điều kiện xã hội buộc họ phải nhìn, cảm, nghĩ, nói theo những công thức thống trị”.

Và ông kết luận: “Người văn nghệ sĩ sống bằng tự do tư tưởng. Tự do tư tưởng của văn nghệ sĩ là bất khả xâm đoạt”. “Không có tự do tư tưởng thì không thể có nghệ thuật chân chính được. Đó là một chân lý bất di bất dịch.”

Văn nghệ và chính trị là bài viết đấu tranh cho tự do tư tưởng hay nhất và mạnh mẽ nhất trong thời kỳ Nhân Văn Giai Phẩm.

Lê Đạt: Nhân câu chuyện mấy người tự tử

Lê Đạt, trên Nhân Văn số 1 (20/9/56), mượn một câu chuyện thời sự trên báo: một đôi tình nhân tự tử để gợi lại chuyện riêng của mình (Lê Đạt yêu Thúy Thúy -Nguyễn Thị Thúy- một nghệ sĩ sân khấu, ly dị vợ, bị cấp trên khiển trách). Nhưng bài thơ đã vượt trên bi kịch cá nhân, để tố cáo sự độc tài đảng trị, kiểm soát cả trái tim con người:

Chế độ ta không cấm họ yêu nhau

Mà sao họ chết?

Người công an đứng ngã tư đường phố

Chỉ huy

bên trái

bên phải

xe chạy

xe dừng

Rất cần cho việc giao thông.

Nhưng đem bục công an

máy móc

đặt giữa tim người

Bắt tình cảm ngược xuôi

theo đúng luật đi đường nhà nước

Có thể gây rất nhiều chua xót

ngoài đời

Từ bi kịch của đôi tình nhân, nhà thơ nhìn lại chính mình, từ bấy lâu nay đã ngủ quên trong chế độ:

Thơ tôi bị cuộc đời ruồng bỏ

Vì tôi đã ngủ quên trong chế độ

Vẽ phấn bôi son, tô toàn màu đỏ

La liệt đầy đường hoa nở

chim kêu

(…)

Giữa năm Cộng hoà lớn khôn mười một tuổi

Vẫn còn lọt lưới

nhiều thói “an nam”

Dán nhãn hiệu

“Made in Cách mạng”

Ngang nhiên xúc phạm con người

Đẩy họ đi tự tử

Nay bừng tỉnh, nhà thơ kêu gọi mọi người, hãy “Quét sạch mây đen”, “Chặt hết gông xiềng”:

Phải quét sạch mây đen

cho chân trời rộng mở

Chặt hết gông xiềng

cho những cánh tung lên

Ngày và đêm

mộng bay đầy cuộc sống

Khát vọng theo khát vọng

Không gì ngăn cản con người

Tác phẩm chiếm trọn trang ba của tờ báo, có vị trí một bài xã luận, xác định lập trường chính trị của Lê Đạt và của báo Nhân Văn. Những câu: Đem bục công an máy móc đặt giữa tim người. Bắt tình cảm ngược xuôi theo đúng luật đi đường nhà nước đã vượt thời gian, đi vào tim người như bức hình rõ nhất chụp lại chế độ công an trị trên đất nước Việt Nam.

Nguyễn Mạnh Tường: Qua những sai lầm trong cải cách ruộng đất, xây dựng quan điểm lãnh đạo

Ngày 30/10/1956, luật sư Nguyễn Mạnh Tường đọc bài diễn văn “Qua những sai lầm trong cải cách ruộng đất, xây dựng quan điểm lãnh đạo” trước Mặt Trận Tổ Quốc Hà Nội.

Đây là một bài chính luận sâu sắc, nội dung phân tích những sai lầm của chế độ, đi từ sai lầm cải cách ruộng đất ở thôn quê, sang sai lầm trong chế độ mậu dịch ở thị thành, tất cả nằm trong bản chất thiếu dân chủ của chế độ. Ông truy nguyên nguồn gốc những sai lầm và trình bày những nguyên tắc mới để sửa sang lại guồng máy luật pháp, chính trị của đất nước.

Với giọng văn vừa mỉa mai, vừa chua xót, Nguyễn Mạnh Tường nói thẳng với Trường Chinh:

“Tôi phấn khởi được nghe bản phê bình của Đảng Lao động do ông Trường Chinh đọc trước Hội nghị. Nhưng tôi cũng phải thú rằng lòng phấn khởi của tôi một phần bị giảm đi, vì tôi nhớ lại kết quả tai hại của các sai lầm đã phạm trong công cuộc Cải cách Ruộng đất. Tôi xin phép các vị được kính cẩn nghiêng mình trước kỷ niệm những người vô tội đã chết oan, không phải vì bàn tay của địch mà chính của ta. (…) Trái lại, các người chết oan vì các sai lầm trong cuộc Cải cách Ruộng đất này, lúc tắt thở, cay đắng đau xót vì chết với một ô danh”

Với tài hùng biện, Nguyễn Mạnh Tường đã “nói” bài này trước Mặt trận tổ quốc, sau khi nghe Trường Chinh đọc bản tự phê bình của Đảng Lao Động về chính sách cải cách ruộng đất. [Ông ứng khẩu, sau người ta yêu cầu ông viết lại (đăng trên báo Tự do diễn đàn, ra tháng 12/56, bị cấm)].

Trong cuộc đối thoại trực tiếp với Trường Chinh, Nguyễn Mạnh Tường buộc tội:

Những người lãnh đạo, có trách nhiệm vụ Cải cách ruộng đất làm cho bao nhiêu người chết oan, không thể chỉ đứng ra xin lỗi, hoặc nhận là Đảng đã sai lầm, mà xong đâu. Xin lỗi không phải là hành động luật pháp. Giết người rồi, không thể chỉ xin lỗi mà xí xoá được. Trong một nước dân chủ thực sự, thì Quốc hội phải lập một ủy ban điều tra, phải đưa họ ra toà, và toà sẽ phân xử, kết án, tùy theo trách nhiệm nặng nhẹ của mỗi người, từ lãnh đạo cao nhất xuống dưới.

Trước tiên, ông phân tích tình hình chính trị xã hội Việt Nam, bằng những chất vấn:

Tình hình nước ta hiện thời ra sao? Tình hình ấy có bi quan không?”

“Về Mậu dịch nửa năm nay, đồng bào ca thán như thế nào, ta đã biết. Nào chèn ép các nhà kinh doanh tư nhân, nào lãng phí bao nghìn triệu trong khi thực hiện chính sách, nào tàn nhẫn với các người bán sức lao động cho mình, nào đưa ra thị trường sữa hư mà không bao giờ nghĩ đến tính mệnh của người ốm, của trẻ sơ sinh, nào tung ra bơ hỏng, thuốc lá mốc, phạm đến sức khỏe của nhân dân,nào bất lực trước hiện tượng vật giá ngày càng lên trong khi nhiệm vụ của mình là phải bình ổn nó. Có thể nói được, suốt ngày đêm không đâu là không có lời oán trách Mậu dịch”.

Sau khi tổng kết tình trạng bi quan về kinh tế, xã hội, Nguyễn Mạnh Tường trở lại vấn đề Cải cách ruộng đất, ông hỏi: chúng ta đã sai lầm nghiêm trọng trong cải cách ruộng đất, nhưng bây giờ phải tìm hiểu xem sai ở đâu? Vì sao mà sai?

Đường lối cách mạng đề ra là người cày phải có ruộng, trên nguyên tắc điều ấy là đúng, không ai chối cãi. Nhưng khi thi hành chính sách này người ta đã coi thường sinh mạng con người, và vi phạm luật pháp:

“Khi đưa ra khẩu hiệu “thà chết 10 người oan còn hơn để sót một địch” thì khẩu hiệu này không những quá tả một cách vô lý mà phản lại cách mạng là đằng khác nữa (…) Khẩu hiệu của pháp lý thì khác hẳn: “Thà 10 địch sót còn hơn một người bị kết án oan”.

Nguyễn Mạnh Tường nhắc lại những nguyên tắc cơ bản của pháp lý:

– không phạt các tội đã phạm quá lâu rồi mà bây giờ mới khám phá ra.

– Chỉ một mình phạm nhân chịu trách nhiệm việc mình làm, không có trách nhiệm chung của vợ con, gia đình.

– Muốn kết án một người phải có bằng chứng xác đáng.

– Thủ tục điều tra, xét xử phải bảo đảm quyền lợi của bị tố nhân. Bị tố nhân có quyền nhờ luật sư bào chữa cho mình.

Những nguyên tác cơ bản này không được áp dụng trong cải cách ruộng đất.

Sở dĩ có sai lầm như vậy vì ba nguyên do:

Quan điểm ta-địch, thù-bạn mơ hồ

Bất chấp pháp luật

Bất chấp chuyên môn.

Vì quan điểm ta-địch, thù-bạn mơ hồ, cho nên bao nhiêu bi kịch đẫm máu xẩy ra [các hiện tượng thanh trừng trong các nước cộng sản], có những người suốt đời hi sinh cho sự nghiệp cách mạng, rồi bỗng nhiên phải truất quyền, khai trừ ra khỏi Đảng, tống giam, thậm chí có khi bị giết nữa”. Trong cuộc cải cách ruộng đất, bao nhiêu “chiến sĩ cách mạng thành tích lộng lẫy” cũng “bị kết án là phản động, cường hào gian ác và, sau khi nhận tội, bị tống giam hay bị hành hình“. Những cán bộ hành xử như vậy, nếu vì “chủ mưu phá hoại” thì phải đưa ra toà, còn nếu vì điên cuồng thì phải đem đi chữa bệnh thần kinh.

chính trị bất chấp pháp luật cho nên, muốn xử tử ai cũng được: Quyền xử tử người một cách đơn giản như vậy trái với luật pháp”.

bất chấp chuyên môn cho nên “Trong 10 năm vừa qua, ta thấy một tình trạng quái gở. Chính trị ám ảnh đầu óc chúng ta đến nỗi hai chữ “lập trường” làm ta mất ăn mất ngủ (…) Khi chọn một người vặn lái ô tô, ta không hỏi người ấy có bằng vặn lái và đã vặn lái bao năm, ta chỉ hỏi: “Có lập trường không?” Kết quả là từ hai năm nay, riêng trong thủ đô Hà Nội, hàng trăm tai nạn xảy ra do các người vặn lái ô tô có lập trường mà không nắm chuyên môn. Khi đưa tới bệnh viện một bệnh nhân cấp cứu, vấn đề mang ra thảo luận trước tiên là: Bệnh nhân thuộc thành phần giai cấp nào? Chữa cho địa chủ thì “mất lập trường”. Để nó chết mới chứng minh mình có “lập trường giai cấp” (hiện tượng do B.S. Nguyễn Xuân Nguyên đưa ra) (…) Tại sao có những hiện tượng quái gở như vậy? Là vì chính trị chiếm đóng tất cả các khu vực trong nhận thức của chúng ta làm chúng ta mất cả cái nhân đạo tối thiểu của con người, làm chúng ta khước từ các chân lý“.

Thiếu dân chủ

Quốc hội thành lập đã mười năm [từ 1946 đến 1956]. “Nhưng quyền lập pháp của Quốc hội ở đâu?” “Dư luận quần chúng quan niệm rằng Quốc hội chỉ có quyền thông qua các chính sách mà thôi”.

“Trong bản Tuyên ngôn độc lập, trong Hiến pháp cũng như trong các sắc lệnh, đạo luật, nguyên tắc dân chủ đã được ban bố”. Nhưng trong thực tế: người dân không có quyền, không có phương tiện nói lên ý kiến của mình, tham gia xây dựng các chính sách của Chính phủ”.

Đề nghị hướng sửa chữa sai lầm: một chế độ pháp trị chân chính, một chế độ dân chủ thực sự.”

Nguyễn Mạnh Tường nói:

Hạnh phúc của loài người xây dựng trên cơ sở dân sinh và dân quyền. Tôi muốn nhấn mạnh ở đây về vấn đề dân quyền. Ta được biết từ hai thế kỷ nay chủ yếu trong vấn đề dân quyền là vấn đề dân chủ, nghĩa là quyền của người dân làm chủ trên đất nước, đồng thời là quyền của con người được sống theo các nhu cầu thiết yếu và chính đáng của nhân bản”.

Tuy rằng trong nước ta có một Bộ Tư pháp, có các toà án, có luật lệ, nhưng chế độ pháp trị hầu như không có”. Vì không có một chế độ pháp trị chân chính cho nên mới xẩy ra vụ cải cách ruộng đất.

Và sau khi xẩy ra rồi, thì: “phải lập một ủy ban điều tra gồm các vị đại biểu Quốc hội, Mặt trận, Đảng Lao động với sự cộng tác của các vị thẩm phán cao cấp, giàu kinh nghiệm để lập một hồ sơ theo phương pháp pháp lý đã nhận định, trên quá trình đi từ lãnh đạo qua chỉ đạo đến chỗ thực hiện chính sách, trách nhiệm ở chỗ nào và do những ai phải chịu. Sau khi kết thúc cuộc điều tra, ủy ban ấy sẽ phân tách trách nhiệm chính trị và trách nhiệm pháp lý. Ai chịu trách nhiệm chính trị sẽ trả lời trước Quốc hội biến thành Toà án tối cao. Ai chịu trách nhiệm pháp lý sẽ trả lời trước các tòa án tư pháp. Dưới con mắt của quần chúng theo dõi xây dựng cuộc điều tra và xét xử, công lý phát huy, không còn ai thắc mắc nữa”.

Làm như thế mới đúng quy tắc của một chế độ dân chủ. Một chế độ thực sự dân chủ trong đó người dân được làm chủ trên đất nước không những trong hiến pháp, mà cả trong thực tế nữa.

Và ông nhấn mạnh: ” Lịch sử các phong trào cách mạng trong hơn một thế kỷ nay, chưa bao giờ, chưa ai có thể ngăn cản được một phong trào quần chúng tranh đấu đòi các tự do dân chủ”.

Cùng với bài Phê bình lãnh đạo văn nghệ của Phan Khôi, bài Văn nghệ và chính trị của Trương Tửu, đây là một trong ba văn bản quan trọng nhất thời kỳ NVGP. Theo Hoàng Văn Chí, bài diễn văn của Nguyễn Mạnh Tường lọt ra ngoại quốc, không biết bằng cách nào, đã đến Rangoon, rồi truyền sang Paris và có tiếng vang trong dư luận quốc tế.

Cách bàn về dân chủ của các tác giả trong NVGP là nói với một quần chúng đã quen biết với dân chủ, có ý thức, có trình độ cao về dân chủ, khác hẳn với lối viết giản dị và giáo khoa của Phan Châu Trinh đầu thế kỷ XX, nói với một quần chúng còn phôi thai vế vấn đề dân chủ. Và cũng khác cách viết tự tin và tự hào dân tộc của Hoàng Đạo đối đầu với thực dân Pháp. Như vậy đủ thấy rằng từ đầu đến giữa thế kỷ XX, trong đầu óc người Việt nam, tự do dân chủ đã có những biến chuyển lớn lao, chứ không hề dậm chân tại chỗ.

Chỉ từ khi đảng cộng sản dập tắt phong trào NVGP, dẹp tan tư tưởng tự do dân chủ, giữ địa vị độc tôn cai trị, coi tất cả những đảng phái đối lập là thù nghịch, là phản động, và nhất là không còn giáo dục học sinh về quyền công dân, quyền con người nữa, thì người Việt mới lại rơi vào vòng chậm tiến, không ý thức được vấn đề tự do dân chủ, và chúng ta mới phải nghe những lời tuyên bố thoái hoá của những “trí thức”, lãnh đạo, về vấn đề tự do dân chủ như ngày nay.

© Copyright Thụy Khuê
Nguồn: thuykhue.free.fr


Mời đọc:

Đã đóng bình luận.