Đã vào thu chưa?

Posted: 18/05/2011 in Phạm Quốc Bảo, Tùy Bút / Tản Mạn / Tạp Ghi

Phạm Quốc Bảo.


Mùa Thu Thiếu Nữ – Tranh Dương Bích Liên

Đến khi ngồi yên vị trong máy bay Alaska chuyến lên Seattle, tôi mới có thời giờ thong thả nghĩ vẩn vơ.. và tự hỏi: Chuyến đi này do tình cờ hay là từ một dự tính có xếp đặt truớc?

Nhớ lại, tôi thấy rằng chuyến đi này dường như đã bắt đầu được muờng tượng hình thành kể từ khi nghe Hà Quốc Bảo gọi phôn xuống, đâu vào khoảng giữa tháng 8, và báo rằng cuối tháng Chín bạn ta sẽ về hưu, làm việc bán thời gian tại nhà cho những dự án do công ty xây cất tư nhân nhờ hoàn tất tài liệu chuyên môn dùm. Bảo Hà vào Tết nguyên đán vừa qua phải by-pass ba mạch máu, đến giờ coi như sức khoẻ đã gần như hồi phục hoàn toàn và bỏ hút thuốc lá rồi.. Ngay lúc nói chuyện trên phôn, tôi đã nghĩ là trong nhóm thân hữu lâu nay ở duới Nam Cali nàysẽ không một nguời bạn nào khác  có thể sắp xếp ngay công việc để mà lên  thăm Bảo Hà trước tôi được. Sau đấy một vài tuần, Phạm Kim của bán tuần báo Nguời Việt Tây Bắc cũng tâm sự qua điện thoại là cần tôi lên chia xẻ công việc, nhất là để ” giải toả bớt những tâm tư đang lấn bấn “, Kim thòng một câu đại khái là vậy.. Rồi giữa tháng Chín, Julie, con gái của Kim, gọi xuống lấy chi tiết để mua vé thì tôi đã nhân dịp bàn qua tán lại với Kim rằng tôi sẵn sàng lên và ở lại một tuần nhưng mà Kim có thuận lợi để lái xe cùng với tôi ba tiếng ruỡi vào Tri-cities, đến Richland thăm Bảo Hà  độ hai ba ngày gì đo,ù vào thời gian giữa tuần được không? ” Không trở ngại lắm đâu!” Kim nói một cách chưa bao giờ khẳng định truớc như  thế.. Nhưng dựa vào thói quen liên lạc giữa hai chúng tôi từ lâu nay, cũng chính nhờ lối trả lời này của Kim, tôi quyết định liền: Đồng ý lên!

Đấy, đại khái những chuyến đi xa của tôi mấy chục năm nay bao giờ cũng gồm hai ba mục đích cho một lần đi như thế, làm như không có nhiều thứ lôi kéo một lúc thì vẫn chẳng đủ sức ‘bẩy’ tôi ra khỏi cái ‘vỏ’ sinh hoạt thuờng nhật!.. Và cứ thế thì chính tôi cũng khó mà phân biệt  dứt khoát được là hầu hết những chuyến đi của tôi xưa nay làdo động lực tình cờ hay thuần tuý do nhu cầu công việc thôi thúc.

Thế là cuối tuần đầu tháng Mười tôi  lên Seattle, lên một thành phố xưa nay nổi tiếng là có cảnh trí vào thu rực rỡ nhất ở miền tây nước Mỹ.

*

Thu đến

Trong tĩnh mịch đêm trường sao quạnh quẽ
tiếng rì rầm trò chuyện cứ vây quanh
đưa người vào sâu giấc ngủ ấm lành
tự ta biết là gió thu đã dậy

Dậy từ đồng hoang sơ đầy cỏ dại
dậy từ biển xa xanh biếc một mầøu
hay núi cao sừng sững rõi đêm thâu
và châu thổ dạt dào thơm mùa gặt

Dậy từ lòng người bung đôi cánh bạc
xoá tan bóng tối chế ngự đêm trăng
trải mặt trời trên những nẻo miên man
đọng thành vì sao dẫn vào xa lộ

Tai ta nghe tiếng rì rào thổ lộ
dội âm vang nâng giấc ngủ lên cao
trong ấm êm còn hơi se lạnh ráo
quện không gian man mác nỗi u hoài

Ừ ta mộng giữa mơ thu mãi mãi
mặc dòng đời cứ mải miết trôi suôi
rồi mỗi năm ta một lần dừng lại
soi vào gương thấy mình vẫn tinh khôi.

1985
( trích THƠ, HAI MƯƠI NĂM, 2002)

Bài thơ trên tôi sáng tác cũng vào mùa thu trong một dịp lên nhà Phạm Kim ở Seattle này, chỉ có khác là đã cách nay những hai mươi bốn năm rồi. Và hồi ấy, ở vào lớp tuổi bốn mươi, tâm tư tôi mặc dù vẫn còn bị quấn quít  nóng hôi hổi cái quá khứ bời bời của những tháng năm lăn lộn trong nuớc, nhưng thời tiết và cảnh sắc thu  nơi đây đã là yếu tố ngoại cảnh kích thích tôi cố vươn lên khỏi  môi sinh tù túng lúc bấy giờ, bằng những khát khao nhiệt thành tự thân để hướng tới tương lai dự ước đầy sôi nổi. Nghĩa là lúc ấy tôi còn đầy sức lực và nuôi nhiều ước mơ trong ý muốn tái tạo cuộc sống nơi mới định cư …

Còn bây giờ, mấy năm nữa là tôi bước vào tuổi bẩy mươi, trong tiềm thức tôi lại hiện ra một bài ngũ ngôn của Bạch Cư Dị ( 772- 846),

Vấn Hoài thủy:

Tự ta danh lợi khách,
Nhiễu nhiễu  tại nhân gian.
Hà sự trường Hoài thủy,
Đông lưu  diệc bất nhàn.

Tản Đà đã dịch và cho đăng ở báoNgày Nay số 92  ra ngày mùng 2-tháng1- năm 1938:

Hỏi nước sông Hoài.

Trong vòng danh lợi thương ta,
Cái thân nhăng nhít  cho qua với đời.
Việc chi, hỡi nước sông Hoài?
 Cũng không thong thả, miệt mài về đông?(1)

Cách đây cả bốn chục năm, lúc đang tuổi phương cương mà luôn luôn có cảm giác tù túng, bực tức giữa một xã hội đảo điên vào những năm đầu thập niên 1970 ở miền Nam Việt Nam, tôi đã đọc đến bài thơ này và cảm ứng được cái thắc mắc tự hỏi mình, của nguời xưa lẫn của chính tôi,  mà diễn ra thành hai cặp lục bát như sau:

Tự ta là khách lợi danh
suốt đời phiền nhiễu giành tranh với người.
Cũng như sông chảy khôn nguôi
bôn chôn chi mãi, hãy lơi nhã nhàn?

*

Trưa thứ ba, mùng 6 tháng Mười – 2009, cũng phải đến bốn giờ chiều Phạm Kim mới rứt ra khỏi công việc, lái xe cùng tôi bon bon  đi về phía đông. Xa lộ 90 east  mỗi chiều hai ba lằn xe chạy thưa thớt, giữa những thung lũng trùng điệp đồi núi và ngàn thông còn mướt xanh…

Nửa giờ sau, tâm trí Kim làm như  đã thoát  khỏi hẳn được những bấn bíu giằng níu của công việc làm báo hằng ngày, anh nói rằng một hai tuần nay anh đã nhận được những văn thơ gửi đến bảo rằng thu đã tới rồi. Tiện tay Kim chỉ cho tôi thấy rằng thực tế cảnh vật hiện đang còn hiếm có một cụm lá cây vàng đỏ trong vùng. Nghĩa là khí thu và sương thu thật sự chưa tới đủ để hợp với tia nắng hanh của thu mà bắt buộc lá cây phải đổi màu, từ xanh sang vàng đỏ đồng loạt một lượt, tạo nên sắc màu rực rỡ đặc biệt của thu.

Thế là hai chúng tôi sôi nổi bàn luận: Như vậy là thời kỳ cuối tháng Chín sang đầu tháng Mười mỗi năm đã ăn sâu vào tâm trí của chúng ta thành một cái nếp, để cứ đến giai đoạn này trong năm là trong tâm tưởng ta tự nhắc nhở rằng thu đã tới; nhưng kỳ thật, cảnh sắc ngoài trời hiện cho biết là thu chưa thực sự hiện diện.

Từ ý tưởng ấy, chúng tôi lại  lan man phân tích tới ba chủ thể khi bàn về mùa thu: Chẳng hạn như khi ta nói,’ Thu đã về’, thì có nghĩa là cái mùa thu nó làm chủ từ, nó chủ động tới, chủ động hiện diện. Mà mùa thu nguyên chỉ là hình ảnh tượng trưng trong trí nhớ của chúng ta. Xem thế thì mùa thu không thôi, nó chỉ về ý niệm nhưng ý niệm mùa thu ở đây nó chỉ có thể một bước nhẩy vọt biến thành hiện thực sinh động là nhờ vào nhiều hiện tượng như gió heo may se sắt thổi tới, sương đêm dầy đặc, nhiệt độ giảm, nắng hanh vàng ..và lá cây đổi màu từ xanh sang vàng, vàng cam và đỏ, tím.

Còn nói rằng, ‘ Đã vào thu chưa?’ Câu thắc mắc tự hỏi này sẽ có ít nhất là hai cách hiểu: Một là chính cái cảnh vật và thời tiết ngoại giới quanh ta đã có sắc màu của thu hay chưa. Hai là câu này ám chỉ rằng tâm tưởng của chúng ta đang nghĩ về thu mà thôi, chứ chưa chắc gì khung cảnh bên ngoài đã thực sự là thu hoặc mùa thu chưa chắc gì đã hẳn trở về bằng khí hậu đã biến chuyển, bằng cảnh sắc thật tế thể hiện ra lồ lộ trước mắt chúng ta.

Đấy. Khi phân biệt thật chi tiết để tìm hiểu sát đến tận cùng vấn đề, chúng ta mới thấy được rằng sự sâu rộng phong phú tinh tế của ngôn ngữ  ta vẫn thường sử dụng hằng ngày, nhưng lại hiếm khi chính chúng ta có dịp thực sự chú ý tới một cách cụ thể…

Tôi lại xin lan man liên tưởng một chút ở đây: Cũng như  một tài liệu vừa đuợc phổ biến (2) cho biết riêng loài cây dương lá rung (aspen), một loại cây rừng sống dai, lá đổi ra màu vàng nhạt và mỗi lần gió thu thoảng qua thì tàng lá cây này đu đưa nghe văng vẳng tiếng xào xạc, và như là những cánh tay vẫy reo vui đón thu về. Ngoài hình dáng thơ mộng như vậy,  cây dương lá rung này còn rất ích lợi thiết thực cho cỏ và thú hoang trong rừng. Nhưng hiện nay loại dương lá rung đang vì khí hậu biến đổi, nhiệt độ gia tăng và nạn hạn hán mà chết rụi đi hàng loạt ở các khu rừng công viên quốc gia thuộc miền tây Hoa kỳ, nhất là ở các tiểu bang Colorado, Nevada, Arizona, miền bắc và nam California. Trong lòng bỗng xót xa, tôi tửơng tượng đến khi nào trong tương lai mình sẽ không còn được nhìn thấy một cây dương lá rung nào nữa!..

Và tôi tiếp tục nhớ rằng khí hậu toàn cầu hiện nay đang thất thường biến đổi, phần lớn là do hậu quả loài nguời nói chung đã lạm dụng một cách vô trách nhiệm những phát kiến khoa học- kỹ thuật… Nhưng trong khi ấy thì ngược lại, nhờ những tiện nghi của khoa học- kỹ thuật mà con người ngày nay bình thường vẫn có thể sống đến 80, 90 tuổi, hơn hẳn tuổi thọ của tổ tiên ông cha chúng ta truớc đây chỉ ở mức 50, 60 là cùng.. Chúng ta phải biết rõ những mặt ứng dụng lợi hại như thế, để mà nỗ lực tự mình điều chỉnh thái độ sống của chính mình…

*

Vượt qua được rặng núi Rocky Mountains nằm giữa hai khu rừng quốc gia Snoqualmie & Wenatchee National Forest, ngồi trong xe chạy lên đồi xuống đèo và đi trên đường vòng vèo ven sườn núi trùng điệp vĩ đại, dài cả đến gần trăm dặm, hai chúng tôi vẫn cảm thấy nhẹ nhàng thư thái: Chẳng qua là nhờ nhiều yếu tố thuận tiện. Xa lộ hai ba lằn xe chạy mỗi chiều và những chỗ quẹo thông thoáng, không gắt, độ dốc lài và nhất là đúng lúc ít xe chạy trên đường. Cảnh sắc bên ngoài thay đổi thường trực, bắt mắt , không khiến chúng tôi cảm thấy nhàm chán, và nhất là giúp cho Kim dễ thư thả tâm tư, tự anh vượt thoát ra khỏi những bấn bíu của công việc thường ngày tại Seattle, những bận roan ấy hiện càng lúc càng lùi xa đi ở sau lưng chúng tôi. Kim tươi tắn buột miệng hát khe khẽ mấy đoạn của  những ca khúc mùa thu có nội dung trong sáng mà chúng tôi đã từng được thưởng thức trong quá khứ … [ Tôi đã quyết định không chép mấy đoạn của những ca khúc ấy ra, sợ.. tốn thì giờ của quí vị độc giả. Vì viết đến đây,  chính trong thâm tâm tôi đã tự nhủ rằng độc giả nào mà chịu khó đọc đến đoạn này thì chắc là họ đủ thú vị tâm tình mà lẩm nhẩm hát lại mấy đoạn đắc ý của những ca khúc nổi tiếng và quá phổ biến ấy rồi. Tôi mà có chép ra đây thì thật … quả có hơi vụng! Nhưng vài ông bạn tôi đọc trước được bài này, lại ‘ kháo’: ‘Cậu’ muốn làm khó người ta sao? Phải biết mớm lời, gợi ý cho nguời đọc chứ! Nghe nói vậy,  tôi hơi chột dạ. Thôi thì đành phải chép  vài đoạn của mấy ca khúc ấy ra đây. Chẳng hạn như  “Em không nghe mùa thu.. Con nai vàng ngơ ngác, đạp trên lá vàng khô”; “Em có nghe, nghe mùa thu tới? Hai chúng ta không còn chung lối… Em có nghe, nghe mùa thu tới, tình ta ngát hương”… và “Ngồi đây chớ vội, tình ơi hãy chờ..để thấy thu phai “…Đây chỉ là vài đoạn lời nhằm mục đích khêu gợi  để quí vị độc giả vừa ngâm nga vừa nhớ lại toàn bài lẫn tựa đề và tác giả của các ca khúc này nhá… Và nếu quí vị nào có nhớ lại được thì cũng xin hãy tự khen mình đi là vừa! Bởi vì, thú thật với quí vị,  lúc tôi và Kim hứng khởi tranh nhau hát hò thì chúng tôi đã đố khích nhau rồi cứ thế mà nhớ vanh vách, cười ha hả với nhau. Còn bây giờ,  đang viết lại đây, xin thú thật là tôi chỉ còn nhớ được vài đoạn lời nêu trên mà thôi!]

Mấy ca khúc tiêu biểu ấy như những nhắc nhớ chúng tôi tới những mẩu kỷ niệm ngồ ngộ mà cả hai chúng tôi đều chia xẻ với nhau tại quân trường Thủ Đức, tại căn cứ Nhà Bè ‘ nước chảy chia hai’ nơi Kim có chừng nửa năm phục vụ…

Chuyển sang xa lộ 82 east, chạy trên đường vằn vèo lên xuống dốc của một vùng toàn đồi trọc, đá lởm chởm hỗn loạn thì Bảo Hà gọi vào phôn tay của Kim, thông báo rằng thế là chỉ còn độ trên dưới hai tiếng đồng hồ nữa sẽ đến nơi, vợ chồng hắn bắt đầu vào bếp chuẩn bị cho món chả cá Thăng Long để khi hai chúng tôi tới là liền ngồi vào tiệc một cách nóng sốt ! Nghe Bảo Hà khuyến khích, bọn tôi hứng khởi cứ thế mà xông xáo tới.. và xông bừa thế nào đi lố đến tận tờ mờ tối thì tới nơi có tấm bảng bên đường đề ” Welcome to Hanford”. Bảo Hà vội vàng can : Tốp ngay đi, quay ngược xe sang chiều bên kia liền, rồi đậu lại bên lề. 15 phút sau tôi sẽ ra đến nơi đón mấy ‘ bố’ !

*

Đấy là địa phận an ninh Hanford Reservation. “.. Richland là thành phố nằm trong địa phận quận hạt Benton, vùng đông nam của tiểu bang Washington ( tiểu bang tây bắc Hoa Kỳ), ở giữa hai dòng sông Yakima và Columbia. Thống kê năm 2000  cho biết dân số thành phố là 38,708 nguời. Vào mùng 1 tháng 4, 2007, theo văn phòng quản trị tài chánh của tiểu bang Washington, dân tại đây lại đã tăng lên đến 45,070. Richland hợp với Pasco và Kennewick thành một vùng đặc biệt gọi là Tri-Cities của tiểu bang Washington, nơi có khu kỹ nghệ nguyên tử Hanford…”, mở đầu trang Richland, Washington state của Wikipedia, the free encyclopedia, đã viết như trên, thì quí vị hiểu ngay là tại sao Bảo Hà phải la lên trong phôn bảo hai chúng tôi dừng và quay đầu xe ngay lại, chờ!..

Và dĩ nhiên là hai chúng tôi đuợc vợ chồng ông bạn Bảo Hà đãi đằng ăn uống hậu hĩ: Tối hôm ấy nhấm nháp chả cá với vang trắng- đỏ, lu xà bù. Sáng sau, bà vợ đi làm từ tờ mờ, Bảo Hà cũng lại dạy sớm sửa soạn công phu cho mỗi đứa một dĩa lớn thịt nguội- xúc xích – giò lụa- phô mát..và hành-dưa chua, ăn sáng với bánh mì nướng ròn. Đương nhiên là chủ nhân cũng một dĩa như thế, chẳng kém ai! Tôi vừa ăn vừa mừng thầm trong bụng: Bạn ta đã trở lại được khẩu phần sáng bình thường, như bất cứ lúc nào ở thời gian truớc đây.

Khi bụng dạ đều.. khá ổn định,  Bảo Hà lái xe đưa hai chúng tôi đi thăm thú: ‘Chàng’ vừa cầm tay lái vừa thuyết trình liên tục, hai đứa tôi chỉ việc ngồi phễnh bụng nghe một cách lơ mơ. Nào là Tri-Cities  gồm ba thành phố đấy nhưng Richland và Kennewick ở bên này, còn Pasco ở bên kia con sông Columbia. Nào là nguời gốc Việt ta ở vùng này chỉ có khoảng trên một ngàn dân mà có những bốn ngôi chợ (chẳng hạn Columbia Market..) và độ trên dưới mấy mươi tiệm nail – tóc ở ba thành phố , nhưng họ cũng nổi tiếng là khách hàng thường xuyên của cái thú vui – mê cờ bạc tại các casinos  do người gốc da đỏ đứng tên chủ trong vùng! Nào là Kennewick thiên về thương mại và kỹ nghệ,  Pasco thì nông nghiệp trội hơn cả. Riêng Richland từ thập niên 1940 đã bắt đầu là cái nôi sản xuất – nghiên cứu nguyên tử lực cùng kỹ thuật tân tiến liên hệ, mở đầu bằng Pacific Northwest National Laboratory kể từ năm 1965, rồi công ty năng lượng tây bắc Mỹ ( Energy Northwest Co. gồm nhiều nhà máy năng lượng từ thuỷ điện, sức gió.. đến nhà máy nguyên tử , nơi Bảo Hà đang phục vụ, nhằm cung cấp điện lực cho 5 tiểu bang miền tây bắc Mỹ, như Washington, Idaho, Montana, Oregon..). Tất cả nằm trong khu vực riêng biệt gọi là Hanford Reservation,  với tổng cộng một ngàn chuyên viên tiến sĩ đủ loại, đủ hạng và đủ mọi chủng tộc khác nhau.

Cứ thế mà ba chúng tôi ngồi trên xe đi từ khu thương mại này đến mấy vùng nhà ở mới xây thêm quá tiện nghi kia, lang thang chơi ngoài công viên ngã ba sông Columbia giữa lòng thành phố Richland rồi đến nếm rượu tại mấy vườn nho bạt ngàn sản xuất rượu nổi tiếng nằm trong vùng sa mạc của thung lũng Columbia…

*

Cho đến mấy ngày sau, đã về lại dưới Little Sàigòn rồi, trong lòng  còn vuơng vấn lâng lâng cái bầu không khí chơi vơi sắp sửa vào thu của Richland, tôi vẫn nhớ tới thơ Bạch Cư Dị của gần 12 thế kỷ trước, một bài thơ dẫn tôi vào thu ở trước mặt mình:

Thu san.

Cửu bệnh  khoáng tâm thửơng.
Kim triêu  nhất đăng san.
San thu vạn vật lãnh
Xứng ngã  thanh luy nhan.
Bạch thạch  ngọa khả trẫm.
Thanh la  hành khả phan.
Ý trung như hữu đắc,
Tận nhật  bất dục hoàn.
Nhân sinh vô kỷ hà,
Như ký  thiên địa gian.
Tâm hữu  thiên tải ưu.
Thân vô  nhất nhật nhàn.
Hà thời giải trần võng,
Thử địa  lai yểm quan.

Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu đã dịch đăng ở báo Ngày Nay số 126 (4-9-1938):

Núi mùa thu.

Ốm lâu, nằm mãi buồn sao!
Sáng nay  ta mới lên cao hỡi lòng.
Màu thu, mây núi lạnh lùng,
Thanh hao nét mặt,  ưa cùng ta đây.
Nằm gối đá, đi vịn dây
Dây xanh đá trắng đẹp thay cảnh tình!
Thú vui trong dạ một mình,
Thâu ngày quên tưởng  cái hình về đâu.

Người ta sống được bao lâu,
Ở trong trời đất  cùng nhau tạm thời.
Mối lo mang lấy nghìn đời,
Một ngày chẳng được  hơi rồi tấm thân.
Bao giờ  giũ sạch bụi trần?
Lại đây đóng cửa vui phần núi non.(1)

Còn tôi , năm 1967, đọc được bài thơ Thu San ( truớc khi lục ra bài dịch của Tản Đà) thì cũng  nổi hứng diễn thơ theo tâm tình của mình bây giờ:

Núi thu.

Ốm lâu đâm ngại ra ngoài,
dịp may ta quyết sáng ngày dạo chơi.
Cảnh thu mây núi lạnh ngời
xanh gầy chẳng khác thân người ta đây.
Cần nằm, đầu gối đá cây.
Cần đi, tay vịn chắc dây leo rừng.
Lòng ta thích thú vô cùng,
suốt ngày vui quá mà không muốn về.

Đời người thoáng chốc rồi đi,
sống là tạm gửi thân kia đất trời
Thế mà lo nghĩ bời bời
cái thân không một ngày ngơi, nhã nhàn.
Bao giờ thoát được lưới trần
về đây đóng cửa riêng phần thảnh thơi./.

Phạm Quốc Bảo.
Nguồn: Tác giả gửi

Chú thích:

(1) Mục đích đăng lại bài dịch của Tản Đà ở đây  là để chúng ta thấy rằng Việt ngữ là một sinh ngữ, nó có thể biến thái sinh động theo thời đại, vì tiến bộ và vì khác môi sinh: Cùng đọc một bài thơ xưa, nhưng cách nhau 8, 9 chục năm thì cảm nhận và ngôn ngữ diễn đạt của hai tác giả đã có thể khác nhau rồi.

xem vào chi tiết ở bài viết ” Golden fall treasure plundered” của Nicholas Riccardi, đăng trong nhật báo L.A. Times, chủ nhật 18 tháng Mười. 2009.

Đã đóng bình luận.