Góp vài liên tưởng thú vị về tục ngữ – ca dao

Posted: 08/06/2011 in Phạm Quốc Bảo, Tùy Bút / Tản Mạn / Tạp Ghi

Phạm Quốc Bảo

Mới đây tôi đuợc đọc bài viết có tựa đề: “Mối tương đồng lý thú giữa tục ngữ Việt Nam và tục ngữ nước ngoài” của tác giả Đàm Trung Pháp (theo chú thích thì tác giả này hiện là giáo sư Ngôn Ngữ Học thuộc phân khoa Giáo Dục, của Texas Woman’s University), đăng trong nguyệt san Khởi Hành, số 154 ra tháng 8. 2009. Đối với cá nhân độc giả như  tôi đặc biệt ở chỗ  đúng lúc đọc đến thì tự dưng tôi nhận thấy bài này gợi ra trong tôi một loạt những liên tưởng, khiến tôi hứng khởi suy diễn đến mấy điểm thú vị chính yếu khác.

Xin ghi lại đây vài nét đáng kể nhưng sơ sài, để chia xẻ với quí vị:

Phản ứng ra sao với mấy chữ nghĩa còn sót trong trí nhớ?

Tôi đọc đến đoạn nguyên văn trong bài viết nói trên: “…Khi so sánh nội dung của tục ngữ trong các ngôn ngữ khác nhau, chúng ta sẽ thấy những tương đồng, tốt phần do bản chất đại đồng của kinh nghiệm đời sống loài người. Thí dụ: để nhắn nhủ người đời không nên hấp tấp mà hỏng việc, tiếng Việt có câu

đi đâu mà vội mà vàng
để vấp phải đá, để quàng phải dây?

Cùng một nội dung ấy là các câu sau đây: more haste less speed (Anh: vội bao nhiêu chậm bấy nhiêu); plus on se hâte moins on avance (Pháp: vội bao nhiêu càng ít tiến bấy nhiêu); chi va piano va lontano (Ý: ai đi chậm thì đi xa); và dục tốc tắc bất đạt (Hán: muốn mau chóng thì không thành được)…”, tôi đã phải khựng lại ít nhất là hai lần:

– Từ hồi nhỏ, tôi đã nhớ đến thuộc lòng mấy câu tục ngữ – ca dao(1), trong đó có câu:

Đi đâu mà vội mà vàng
mà vấp phải đá mà quàng phải dây“(2)

Nhưng ở đây tác giả Đàm Trung Pháp đã thay hai chữ “mà” của câu dưới thành hai chữ “để”. Thật tình thì cứ theo nếp quen: Chữ đọc được bao giờ cũng tức khắc gợi nhớ ngay ra những chữ vốn đã sẵn nằm trong ký ức. Cho nên tôi đọc tới đấy thì đương nhiên phải khựng lại, xoát xét một lần nữa trong trí nhớ. Rồi tôi tự nhủ “mình đinh ninh rằng cặp ca dao này có đủ bốn chữ “mà”; còn tác giả bài viết đã thay hai chữ “để ” vào chỗ của hai chữ “mà” ở câu dưới.. Muốn cho biết chắc là mình nhớ đúng hay là tác giả viết hoàn toàn y nguyên câu ca dao – tục ngữ ấy đã được in trong các sách cũ, tôi chỉ cần bước lại gần kệ sách lục ra, là rõ trắng đen ngay!

Ấy thế mà cái tật lười biếng ( Cái tật này bắt đầu nẩy sinh trong độ khoảng mười năm trở lại đây, và mỗi lúc mỗi trở thêm nặng ở cái cá nhân ‘xấu tính’ là tôi!) đã trì níu tôi ngồi yên một chỗ, ngại đứng lên… Và tôi tự nhủ tiếp:

“Đúng như tác giả bài viết bảo rằng câu tục ngữ – ca dao này có nội dung ‘nhắn nhủ người đời không nên hấp tấp mà hỏng việc’. Nên ông ta thay thế hai chữ “mà” bằng hai chữ “để”  là khế hợp với nghĩa lý ông ấy muốn viết ra, mặc dù thay thế như vậy là ‘sáng tác’ thêm luật bằng-trắc truyền thống của thể thơ lục bát. Chứ cái câu tôi còn nhớ như in là một cặp thơ lục- bát, nó gồm đủ bốn chữ “mà”…

“Xét cho cùng ra thì đây là câu thơ trước hết diễn tả một cách linh hoạt cái hành động, cái hành vi của nguời đời nếu làm việc gì một cách sốc nổi, vội vã quá thì thường vấp váp, dễ bị hỏng việc. Mục đích của câu thơ này, theo tôi nghĩ, là để  đánh động trực tiếp vào ‘trí não – tâm can’ độc giả nào có cơ hội đọc đến câu ca dao – tục ngữ này đã. Rồi bước tiếp ngay sau đó, chữ “mà” được lập đi lập lại của cặp lục bát này còn có dụng ý, theo chất văn hoá Việt,  là muốn cho ai  đọc tới sẽ nhận thêm được  một tác dụng ‘gián tiếp’ có tính cách khuyên nhủ (nặng hơn một chút nữa thì là ‘răn bảo’). Cái chiều sâu nhằm mục đích nhắc nhớ, mà nguời đời có chịu hiểu đến mức ấy hay không thì lại còn tuỳ thuộc vào từng đối tượng đọc, có thấm chất văn hoá sâu xa hay không khi đọc đến câu ca dao – tục ngữ này!..”

Thế hoá ra nhờ tình cờ đọc được bài viết trên, tôi có dịp đào sâu để hiểu được một cách phong phú thêm nhiều ở cái nội dung ý nghĩa và dụng ý của nguời xưa đã (có thể?) đặt để  cụ thể vào câu ca dao – tục ngữ ấy.

– Đấy là cái khựng lại thứ nhất. Còn tôi cũng phải khựng lại một lần nữa là khi đọc đến “Chi va piano va lontano”. Câu ngạn ngữ này của dân Ý (Italian) tôi nhớ mang máng rằng truớc đây cũng cả nửa thế kỷ rồi: Tôi đã từng tra cứu ở tự điển Petit Larousse, câu này đuợc in là ” Vi” chứ không “Chi” và nghĩa của nó là: ‘Đi thong thả (thư thái) thì đi xa.’

Tôi khập khựng, không đọc được tiếp nữa và cố ôn lại trong trí nhớ như trên…. Rồi tôi cũng chẳng chịu đứng lên,  đi lại kệ sách mà tra cứu. Bởi tôi.. lười. Và trong óc tôi lúc ấy còn nghĩ rằng loại Petit Larousse bây giờ tuyệt bản rồi, lấy đâu mà tra cứu!

Thêm nữa, tôi đâu có biết tí gì về ngôn ngữ của dân Ý: ‘vi’ hay ‘chi’ chính thực chữ ấy có nghĩa là gì? Tôi mù tịt!

Đến nước này thì cái mức độ thắc mắc tò mò (hiếu kỳ) ở trong tôi nó cứ mỗi lúc một chồng chất lên, nó cứ mỗi lúc một thêm sức thúc giục mạnh mẽ hơn lên, đến nỗi khiến con người tôi không thể nào chịu đựng được nữa. Nó phá vỡ cái thói tật lười biếng của tôi một cách dễ dàng, và bắt buộc tôi bật dậy mau chóng mở computer, vào internet  của Google..

Và cuối cùng có đến mấy điểm mới khám phá ra, tôi xin tạm ghi lại tóm tắt  sau đây:

– Không. Petit Larousse chẳng những không bị cho tuyệt bản mà loại từ điển này hiện còn được phát triển phong phú hơn xưa nhiều nữa, thành những cuốn tập hướng dẫn du lịch khắp mọi nơi trên thế giới!

– “Chi (đọc là ‘qui’) va piano va sano e va lontano..”: He who goes slow and steady wins the race: Ai đi chậm và chắc thì thắng cuộc đua.

– Đây là một loại ‘ngạn ngữ’, saying, nói chung.

– Mặt khác nếu đọc phớt qua, chúng ta sẽ phải có ngay một nhận xét rất khách quan: Câu ‘dục tốc bất đạt’ của người Trung Hoa hay câu ca dao’ Đi đâu mà vội mà vàng, mà vấp phải đá mà quàng phải dây’ của dân Việt có vẻ là lời khuyên tiêu cực và xem ra còn có tính cách răn đe, dạy bảo. Trong khi ấy, những câu ngạn ngữ (ngạn ngữ là một trong nhiều thể loại nằm trong tục ngữ ) na ná cùng một nội dung của các dân cư ở  phương tây. Chẳng hạn như tác giả Đàm Trung Pháp dẫn chứng ở bài viết nói trên, như  more haste less speed (Anh: vội bao nhiêu chậm bấy nhiêu); hay  plus on se hâte moins on avance (Pháp: vội bao nhiêu càng ít tiến bấy nhiêu). Mấy câu ngạn ngữ tây phương này xem ra trình bày một cách khách quan sự kiện sự việc, rồi lại là những lời  khuyên tích cực, khuyến khích người ta nên mạnh dạn tiếp nhận kinh nghiệm và có khuynh hướng xui khiến người ta thật sự muốn thực nghiệm hơn.

Tương đồng chữ nghĩa nhưng lại khác biệt rất là thú vị.

Ngày nay chúng ta thấy hiện tượng chữ nghĩa của các dân tộc nói tiếng âm na ná giống nhau là một vấn đề hết sức bình thường , thường thấy và thường gặp. Chẳng hạn  công ty sản xuất xe hơi nổi tiếng của dân Đại Hàn (Nam Hàn, Korean) hiện nay là Huyndai, nguời Đại Hàn phát âm ‘hiên đai’, viết sang chữ Trung Hoa ‘hiện đại’; chúng ta nguời Việt cũng đọc ‘hiện đại’. Công ty sản xuất dụng cụ điện tử cũng đang nổi danh thế giới của nước họ lấy tên là Sam Sung, viết ra chữ Trung Hoa là Tam Tinh, ba ngôi sao, và huy hiệu của hãng này là ‘ba ngôi sao’! Như vậy rõ rệt, qua hai thí dụ cụ thể nêu trên, dân Đại Hàn và dân Việt Nam chúng ta đôi khi sử dụng chữ nghĩa cũng như phát âm ra tiếng na ná như nhau, vì cùng chịu ảnh hưởng từ nghĩa ngữ Trung Hoa.

Tuy nhiên, nói như thế không có nghĩa ngôn ngữ hai dân tộc Đại Hàn và Việt Nam ta hoàn toàn giống nhau, mà hai dân tộc này đương nhiên có những quá trình lịch sử  lẫn những nét văn hoá khác biệt hẳn nhau. Khác nhau đến độ chúng ta… cũng không cần phải bàn thảo dài dòng ở đây làm gì, thêm rườm rà vô ích. Hơn thế nữa, theo tôi nhận xét, quan trọng ở vấn đề là có những cái tương đồng mà thực ra rất dị biệt, đấy mới là điều thú vị!

Chúng ta đọc tiếp phần dẫn giải của tác giả Đàm Trung Pháp trong bài viết nói trên của ông :

“..Nếu nội dung các tục ngữ tương đương trong các ngôn ngữ cùng gốc (như Pháp và Tây ban nha, hoặc như Anh và Đức) giống nhau như đúc thì cũng dễ hiểu thôi. Chẳng hạn, mang máng với câu ‘vặt đầu cá vá đầu tôm’ của chúng ta là các câu découvrir saint Pierre pour couvrir saint Paul (Pháp: lột quần áo thánh Pierre để mặc vào thánh Paul), desnudar a uno santo para vestir a otro (Tây ban nha: lột quần áo một vị thánh để mặc vào một vị thánh khác), rob Peter to pay Paul (Anh: cướp tiền Peter để trả Paul), và ‘dem Peter nehmen und dem Paul geben’ (Đức: lấy của Peter và đưa cho Paul). Vì vậy, tôi thấy thú vị hơn nhiều mỗi lần gặp các câu tục ngữ tương đương giữa tiếng Việt và một ngoại ngữ chẳng liên hệ họ hàng gì với tiếng Việt cả (thí dụ như tiếng Anh trong trường hợp này), như các cặp tục ngữ “được đằng chân lân đằng đầu” và give him an inch and he will take a mile (cho hắn một tấc thì hắn đòi một dặm); gieo gió gặt bão và sow the wind and reap the whirlwind (gieo gió gặt gió lốc); một giọt máu đào hơn ao nước lã và blood is thicker than water (máu đặc hơn nước lã); lắm thầy thối ma và too many cooks spoil the broth (quá nhiều người nấu bếp thì hư nồi canh); và thờn bơn méo miệng chê trai lệch mồm và the pot calling the kettle black (cái nồi mà chê cái ấm đen)…”

Chúng ta chắc hẳn cũng đồng ý với tác giả họ Đàm rằng mấy câu tục ngữ của dân Anh, Pháp, Tây Ban Nha và Đức quá giống nhau. Nhưng xét ở những phương diện khác, mấy câu ấy mà so với câu ” Vặt đầu cá, vá đầu tôm” của nguời Việt chúng ta thì xem ra có nhiều điểm khác biệt, mà cụ thể nhất là, hiểu theo văn hoá Việt thì mấy câu tục ngữ kia có cách diễn tả trực diện hơn và ít nhất là so với câu tục ngữ dân tộc khác khi được diễn nghĩa sang chữ Việt thì chúng ta nhận thấy ‘ví von có phần hơi thô’, nguời Việt ta ít khi muốn nói hay diễn đạt như thế .

Thứ hai nữa, những câu “Được đằng chân, lân đằng đầu” , “Gieo gió gặp bão”, “Một giọt máu đào hơn ao nước lã”, “Lắm thầy thối ma” và “Thờn bơn méo miệng chê trai lệch mồm” mà so với những câu tương tự nghĩa của dân Anh quốc thì ‘chủ quan’ tôi nhận xét: những câu tục ngữ của người Việt ta vừa vần vèo thông suốt mà lại vừa ý nhị, ẩn náu cái nụ cuời tếu vui hơn chứ!

Tương đồng ý nghĩa nhưng khác biệt xã hội nên diễn tả khác nhau:

Ở những đoạn khác,  chúng ta lại nhận ra những câu tục ngữ góm ghém các nhận xét tương đồng về ý nghĩa nhưng vì khác xã hội nên được nguời ta diễn tả một cách dị biệt với nhau. Như tác giả Đàm Trung Pháp viết:

“..Tục ngữ phản ánh những điều xảy ra hàng ngày trên bàn cờ xã hội và cung cấp cho thế gian những lời khuyên khôn ngoan  để đối phó với cuộc sống. Câu “cá lớn nuốt cá bé” mô tả một lối sống hung bạo trong xã hội ngày nay, khi biết bao công ty nhỏ đang bị các công ty lớn hơn ăn sống nuốt tươi trong một thế giới mà người Mỹ tả chân là a dog-eat-dog world! Trong mọi liên hệ, phải có đi có lại thì mối giao tình mới bền, theo châm ngôn “bánh ít đi, bánh quy lại” của người Việt hay châm ngôn you scratch my back, I’ll scratch yours (anh gãi lưng tôi, tôi sẽ gãi lưng anh) của người Mỹ. Và xin chớ quên là trong một cuộc tranh chấp, kẻ có tiền thường có nhiều lợi điểm, vì “nén bạc đâm toạc tờ giấy”, “đa kim ngân phá luật lệ (Hán: nhiều tiền bạc phá luật lệ), và money talks (Anh: tiền nói dùm).

Kín đáo là một biện pháp an toàn, vì “tai vách mạch rừng”, hoặc las paredes oyen (Tây ban nha: những bức tường biết nghe), hoặc những câu sau đây mà ý nghĩa đều là tường có tai: walls have ears (Anh), les murs ont des oreilles (Pháp), i muri hanno orecchi (Ý), die Waende haben Ohren” (Đức), và cách tường hữu nhĩ (Hán). “Tránh voi chẳng xấu mặt nào”  là lời cổ nhân khuyên chúng ta nên hành động, mỗi khi bị kẻ vũ phu đe dọa tấn công. Nếu tiếng Việt ví kẻ vũ phu như voi thì tiếng Tây ban nha ví hắn như bò mộng hoặc kẻ khùng điên, như trong câu “al loco y al toro darles corro (với kẻ khùng điên và bò mộng, hãy nhường chỗ)…”

Tương đồng ý nghĩa nhưng thổ ngơi khác, nếp sống của con nguời  cũng khác

Các câu tục ngữ của các sắc dân sống ở những lãnh thổ có thổ ngơi khác nhau và nếp sống không giống hệt như nhau thì cách diễn tả và ví von cũng dĩ nhiên phải khác nhau, mặc dù nội dung ý nghĩa có thể na ná giống nhau. Chẳng hạn như mấy đoạn viết của tác giả Đàm Trung Pháp xin đựơc trích lại sau đây:

“…Trong số các tục ngữ được coi như châm ngôn cho một nếp sống đạo đức, tiếng Việt có câu “khôn ngoan chẳng ngoại thật thà / lừa thưng, tráo đấu chẳng qua đong đầy”(3) để nhắc nhở người đời tránh xa sự lươn lẹo. Nội dung châm ngôn này được diễn tả bộc trực hơn trong tiếng Anh qua câu honesty is the best policy (lương thiện là chính sách tốt nhất). Ý nghĩa câu Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng(4) rõ như ban ngày. Câu này chắc là do các cụ nhà nho khi xưa đã chuyển ngữ thật sát nghĩa từ câu chữ Hán: Cận mặc giả hắc, cận đăng tắc minh. Những kẻ chỉ thích “gần mực”  hoặc “cận mặc” thôi thì sẽ liên kết thành một bầy để cùng nhau làm những chuyện không hay, như được ám chỉ trong câu tục ngữ Hán-Việt đã hoàn toàn Việt hóa “ngưu tầm ngưu mã tầm mã” (trâu tìm trâu ngựa kiếm ngựa), và trong các câu “birds of a feather flock together” (Anh: chim cùng thứ lông tụ tập thành bầy), “dis-moi qui tu hantes, je te dirai qui tu es” (Pháp: nói tôi nghe anh giao du với ai, tôi sẽ cho anh biết anh là loại người nào), “cada cual con los suyos” (Tây ban nha: kẻ nào đi với phường nấy), “xú vị tương đầu” (Hán: những mùi xú uế quyện vào với nhau), gleich und gleich gesellt sich gern (Đức: hai kẻ giống nhau kết hợp dễ dàng), và dio li fa e poi li appaia (Ý: thượng đế sinh ra họ rồi kết hợp họ với nhau).

Tiểu nhân hay đắc chí, và mỗi khi đắc chí họ cười lâu lắm. Tiếng Việt dành cho những tiểu nhân có đầu óc nông cạn ấy lời nhắc nhở này: cười người chớ vội cười lâu / cười người hôm trước, hôm sau người cười(1). Trong vài ngôn ngữ khác, lời khuyên ấy ngắn gọn hơn và cũng đều dành thắng lợi cho người cười sau cùng: he laughs best who laughs last (Anh: người đáng được cười nhất là người cười sau cùng), “wer zuletzt laecht, laecht  am besten” (Đức: ai cười sau cùng là người cười xứng đáng nhất), ride bene che ride l’ultimo (Ý: cười xứng đáng là người cười sau cùng), và rira bien qui rira le dernier (Pháp: người sẽ cười xứng đáng là người sẽ cười sau chót)…”

Hay: “..Tục ngữ cũng khá rành khoa tâm lý  và cung cấp những khuyến cáo thực dụng. Con người phải biết rằng nhiều khi ‘sự thật mất lòng’, một ý niệm được gói ghém bộc trực trong câu the truth hurts (Anh: sự thật làm đau lòng) cũng như trong câu khuyên răn tế nhị toute vérité n’est pas bonne à dire (Pháp: không phải sự thực nào cũng nên nói ra đâu). Vì “lời nói chẳng mất tiền mua,”  người khôn ngoan phải “lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”(2).

Châm ngôn dành cho những ai ăn nói vụng về để mất lòng người khác một cách vô tích sự này tương ứng với câu cortesía de boca vale mucho y poco cuesta (Tây ban nha: sự nhã nhặn bằng miệng có nhiều giá trị và chẳng tốn bao nhiêu). Người Việt khôn ngoan ít khi thả mồi bắt bóng vì họ biết rõ “một con nằm trong tay hơn mười con bay trên trời.”  Người phương tây cũng diễn tả sự khôn ngoan đó một cách dễ hiểu, như câu trong tiếng Anh a bird in the hand is worth two in the bush (một chim trong tay đáng hai chim trong bụi), hoặc như câu trong tiếng Ý meglio un uovo oggi che una gallina domani (một trái trứng hôm nay tốt hơn một con gà mái ngày mai), hoặc như câu thi vị hơn trong tiếng Đức là ein Spatz in der Hand ist besser als eine Taube auf dem Dach (một chim sẻ trong tay tốt hơn một bồ câu trên nóc nhà)…”

Diễn tả khác còn do ở sử dụng những đồ vật sinh hoạt hằng ngày nữa

Đây, chúng ta thử đọc thêm  mấy đoạn ông Đàm Trung Pháp viết tiếp mà tôi mạn phép trích ra là:

“..Khi đã bị nạn một lần rồi thì người ta trở nên sợ bóng sợ gió, thấy cái gì na ná với nguyên nhân gây ra tai nạn cũ thì vội lánh xa. Đó là điều câu “đạp vỏ dưa, thấy vỏ dừa cũng sợ” ám chỉ trong tiếng Việt. Người Tàu diễn tả sự sợ bóng sợ gió ấy bằng câu tục ngữ nên thơ “kinh cung chi điểu kiến khúc mộc nhi cao phi” (con chim sợ cây cung thấy khúc cây cong thì vội bay cao), trong khi các ngôn ngữ tây phương sử dụng nội dung cụ thể hơn, như “once bitten, twice shy (Anh: một lần bị cắn, hai lần nhát), chat échaudé craint l’eau froide (Pháp: mèo bị bỏng sợ nước lạnh), gato escaldado del agua fría huye (Tây ban nha: mèo bị bỏng chạy xa nước lạnh), “gebrannte Kinder scheuen das Feuer (Trẻ nít bị bỏng sợ hãi lửa).

Và: “…Người viết xin kết luận bài này với nhận định rằng  tục ngữ cũng mang lại hy vọng cho người đời. Thực vậy, cuộc đời này không hẳn lúc nào cũng xấu đâu, vì “sau cơn mưa trời lại sáng”, một mối lạc quan được diễn tả qua câu chữ Hán “khổ tận cam lai” (hết đắng thì đến ngọt), câu tiếng Pháp “après la pluie le beau temps” (sau cơn mưa trời đẹp), và câu tiếng Anh after a storm comes a calm (sau trận bão yên tĩnh trở lại).  Nếu trời lại sáng và cho ta một cơ hội,  ta đừng để mất cơ hội ấy. Đó là lời nhắn nhủ của câu “cờ đến tay phải phất” cũng như của câu tiếng Anh “strike while the iron is hot” (đập khi thỏi sắt đang nóng) và câu tiếng Tây ban nha al hierro caliente, batir de repente (vừa khi sắt nóng, đập nó bất thình lình). Nhưng khi phất cờ hoặc đập thỏi sắt đang nóng ấy, ta chớ quên rằng  tinh thần hợp tác là điều không thể thiếu, vì “một cây làm chẳng nên non”. Câu này mang ý nghĩa thật gần với các câu “cô thụ bất thành lâm” (một cây không thể thành rừng) trong tiếng Hán, une hirondelle ne fait pas le printemps (một con én không làm nên mùa xuân) trong tiếng Pháp, và eine Schwalbe macht keinen Sommer  (một con én không làm nên mùa hạ) trong tiếng Đức…”

Theo tôi được hiểu, tục ngữ là những câu nói ngắn gọn;  ca dao thì thường dài hơn, vần điệu phong phú hơn và cũng văn chuơng hơn. Do đó, nếu bàn về thời điểm xuất hiện và trong dòng phát triển của ngôn ngữ nói chung thì tục ngữ mộc mạc và thường xuất hiện trước hơn; trong khi ấy, ca dao đa số trau chuốt và dài hơi hơn.

Điểm đặc biệt cần phát biểu ở đây là những câu tục ngữ ,dù của bất cứ dân tộc nào, có thể có những nhận xét tương đồng về ý nghĩa; nhưng cạnh đó, những câu tục ngữ đó cũng đuợc diễn đạt (cho người ta hiểu một cách cụ thể và chân thật) từ những hiện tượng, những nếp sống và hình thái sinh hoạt thời đại – xã hội, và thuờng ví von qua vật dụng đã được dân cư địa phương đó sử dụng phổ biến hằng ngày.

Thế cho nên, những câu tục ngữ-ca dao sở dĩ còn tồn tại qua thời gian là vì chúng còn bao gồm những nét tiêu biểu của cái nếp văn hoá rất riêng, ở từng giai đọan xã hội và ở từng dân tộc khác nhau, trải dài theo lịch sử của từng giống dân một ấy. Có như thế thì  kho tàng tục ngữ – ca dao của nhân loại mới phong phú mãi, sống động mãi.

Tục ngữ- ca dao là phương tiện phát biểu căn bản nhất về ngôn ngữ của chung nhân loại.

Khi khai quật kho tàng này, chúng ta thấy rằng nếu tục ngữ – cao dao có cái chung (thí dụ như  điểm tương đồng về nội dung ý nghĩa) thì đồng thời cũng phải có những dị biệt (về cách thế diễn đạt, về từ ngữ, về âm điệu phát thanh… và ngay cả cái ý nhị duyên dáng riêng, tức là cái dáng vẻ văn chương – nghệ thuật nữa). Tôi cho đây mới là điều lý thú, khi chúng ta có dịp tìm hiểu về tục ngữ- ca dao của các dân tộc.

Tôi xin chân thành cảm tạ  ông Đàm Trung Pháp, tác giả đã viết ra bài “Mối tương đồng lý thú giữa tục ngữ Việt và tục ngữ nuớc ngoài”: Hành nghề giáo sư  ngôn ngữ học lâu năm ở hải ngoại, ông đã có cơ hội sống và suy tư giữa những ngôn từ của các dân tộc khác nhau. Và bài viết của ông, theo tôi, thực ra cũng chỉ thể hiện chút đỉnh nào đó những hiểu biết lý thú sâu xa của ông mà thôi.

Nhưng thêm nữa, cho cá nhân tôi thì đây là một điều kiện may mắn: Chính nhờ được đọc bài viết của ông mà tôi mới có cơ hội để viết ‘ké’ vào đôi dòng thô thiển, đóng góp đôi ba điều thú vị này./.

Phạm Quốc Bảo
Nguồn: Tác giả gửi

Chú thích:

(1) Theo Việt Nam Tự Điển (của hai ông Lê Văn Đức & Lê Ngọc Trụ, và của Hội Khai Trí Tín Đức thì Tục Ngữ là câu nói gọn ghẽ thường dùng trong dân gian, & Ca Dao là câu thơ hay khúc hát ngắn độ một vài câu phổ thông trong dân gian.

(2) Đây là ca dao thì chính xác hơn.

(3) Câu ca dao này dùng từ ngữ của người xưa:
Khôn ngoan chẳng lọ thật thà
Lừa thưng  tráo đấu chẳng qua đong đầy.

(4) Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng (nhờ ánh sáng của đèn mà đuợc ‘sáng’ra).

Đã đóng bình luận.