Mẹ Mây

Posted: 25/06/2011 in Hà Thúc Sinh, Thơ

Hà Thúc Sinh

Thử tưởng tượng một ngày không xa lắm
Từ trời cao ngó xuống cõi dương gian
Một vừng mây nhân chứng lẫn ân nhân
Thấy nước Việt bỗng biến thành nước lạ
Nhân chứng hoang mang, ân nhân sợ quá
Ôi đâu rồi cái nước khổ, hùng kia
Mấy ngàn năm Mây như mẹ chở che
Ruộng nước cho mưa, rừng xanh cho nắng
Từ Dương Tử hình hài thay bao chặng
Trăm anh em chia hoạn nạn mất còn
Việt một dòng máu chảy mặn về nam
Và từ đó với Tàu thành đối trụ
Ai bằng mẹ Mây, dù giông dù gió
Dù thăng trầm vẫn gắn bó keo sơn
Bắn bi đánh đáo biết từng cậu Hùng
Hiểu cô Trưng, Triệu cười cười mà dữ
Đinh Lê Lý Trần có hay có dở
Đều lập công tiếp mở những trang xanh
Những trang ấy khi đất nước thanh bình
Vàng lúa phơi sân, chổi rơm khom quét
Vì kẻ xổng lưng là kẻ chẳng biết
Lời tổ tiên: hạt ngọc một hạt cơm
Trong lũy tre xanh trên kính dưới nhường
Khinh lễ nghĩa chỉ có phường vô đạo
Chẳng ai đổ đi, chẳng ai giơ gáo
Biết thế nào là đời lá đùm nhau
Kiệm Khiêm Ái thành văn hóa nhiệm màu
Người tin người nên bao phen quốc biến
Các tiền triều đều thẳng lưng mà đứng
Vua hỏi dân, dân thề đánh không hàng
Bình Nguyên, dẹp Tống, phá Minh, diệt Thanh
Bọn đại Hán từng bao phen vãi sợ

°

Ôi thế vậy sao bây giờ chuyện lạ
Biến đi đâu, tan biến mất về đâu
Một giang sơn từng rực rỡ một câu:
“Làm quỷ nước Nam hơn vương đất Bắc!”
Hay lời tổ tiên được sau nhuận sắc
Để trở thành Việt quận tuyên ngôn
(Sáu mươi năm đã chứng giải ngọn nguồn):
“Nam quốc sơn hà nam đế nhược,
Tiệt nhiên định phận tại Trung quốc!”
Cứ yên thân sống nhục chẳng chết ai
Vua dẫu hèn còn giữ được tí ngai
Hơn mất tất không ai ngoài Hán Đế

°

Như mất con Mây nát lòng, bất kể
Lồng lộn bay cực bắc xuống cực nam
Ngửi quen mùi nóng, xích đạo bay vòng
Đã lắm lúc Mây tan như xác pháo
Trên cao dưới thấp, lùng tìm xục xạo
Rồi lại tụ về gào gọi vô thanh
Không âm hao quen từ dưới vọng lên
Chín mươi triệu sao im lìm như thế
Mây đảo điên Mây lạc hồn mất vía
Khóc chan hoà khóc tấm tức khóc điên
Bốn ngàn năm nước Việt như máu xương
Như hồn xác giờ vô phương định vị
Cố hình dung đó núi Nùng sông Nhị
Mà cảnh quan sao như Thái như Hoàng
Kìa có phải chỗ ấy lưng Tây nguyên
Sao loang lổ máu một màu nhớp nháp
Nhìn biển Đông một lưỡi xanh khủng khiếp
Đang ngày đêm sâu liếm mảnh lưng ong
(Đất miền Trung giống phần bụng gái mình)
Với rừng người lạ, nói ồn như chó sủa1
Đâu Sài Gòn ngọc viễn đông một thủa
Chợ Bến Thành treo bảng Phố Không Quen
Quen hay không Mây đã nát ruột gan
Mỏi đôi cánh mỏi cả đầu cả óc
Khát nước lắm và Mây sà xuống thấp
Chảy dật dờ một dòng cạn, sông nào?
Là Cửu Long sao vựa lúa về đâu
Sao toàn những thứ đước, bần, sú, mắm!?
Một chỗ nào đó cháy lên một đám
Giữa Thăng Long Mây xuống sát Mây xem
Vài anh lính lạ đốt chiếc ngai quen
Cho bữa tối đang nấu thơm gì đó
Họ vui nói: “A, ngầu lì hẩu lớ!”2
Họ nói chi Mây có hiểu chữ nào
Chỉ buồn tự hỏi: khuya nay về đâu!

Hà Thúc Sinh
Nguồn: Tác giả gửi


[1] Người Pháp tự hào bảo rằng chỉ họ mới biết nói, còn người Anh thì hát (Anglais qui chantes), và người Tàu thì sủa (Chinois qui aboie).
[2] Lưỡi bò ngon lắm!

Đã đóng bình luận.