Phong trào Nhân Văn Giai Phẩm – Chương 15: Phan Khôi – Vì sao Phan Châu Trinh phó thác “đại sự” cho Phan Khôi?

Posted: 25/08/2011 in Biên Khảo / Phê Bình, Thụy Khuê
Thẻ:,

Thụy Khuê


Phan Châu Trinh (1872-1926)

Năm 1922 là năm bản lề, đánh dấu ngõ quặt của nhóm Ngũ Long: Bắt đầu về nước tranh đấu. Người đầu tiên là Nguyễn An Ninh.

Về bối cảnh chung, 1922 có một số sự kiện xẩy ra:

Hội chợ đấu xảo Marseille mở cửa ngày 16/4/1922.

Đầu năm1922, Phan Châu Trinh xuống Marseille để làm việc tại hội chợ.

Pháp cử 7 phái viên Bắc Kỳ đi dự đấu xảo. Đại diện quan trường: Tuần phủ Cao Bằng Vi Văn Định và ông huyện Phong Doanh Trần Lưu Vị; đại diện Tư vấn nghị viện: Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Duy Tốn; đại diện thương mại: Hoàng Kim Bảng; đại diện canh nông: Nguyễn Hữu Tiệp, và dại diện Khai Trí Tiến Đức: Phạm Quỳnh. (Phạm Quỳnh, Hành trình nhật ký, Ý Việt, Paris, 1997, trang 208).

Tháng 2/1922, Phan Châu Trinh gửi thư ngỏ cho Nguyễn Ái Quốc.

Tháng 5/ 1922, Phan Châu Trinh gặp gỡ các nhà trí thức sang Pháp dự hội chợ.

Tháng 6/1922, Vua Khải Định tới Pháp. Một phong trào bài kích nhà vua nổi lên với Thất điều thư của Phan Châu Trinh (kể bảy tội của vua Khải Định) với các bài báo và vở kịch Dragon de bambou (Rồng Tre) ký tên Nguyễn Ái Quốc. Nhóm Ngũ Long đả kích vua Khải Định là lẽ tất nhiên, tuy lời lẽ có hơi quá đáng vì sự thực thì nhà vua cũng không còn quyền hành gì cả. Nhưng có hai sự kiện đáng chú ý hơn là việc:

1- Phan Châu Trinh viết bức thư ngỏ gửi Nguyễn Ái Quốc đề ngày 18/2/1922.

2- Phan Châu Trinh gặp gỡ Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Quỳnh.

I- Lá thư ngỏ của Phan Châu Trinh gửi Nguyễn Ái Quốc

Trước hết, tại sao Phan Châu Trinh lại gửi cho Nguyễn Ái Quốc, mà không gửi cho Nguyễn Tất Thành? Dù ông thừa biết Nguyễn Tất Thành không phải là tác giả những bài ký tên Nguyễn Ái Quốc.

Lý do nằm trong nội dung lá thư: Phan Châu Trinh viết chung cho các tác giả ký tên Nguyễn Ái Quốc và có đoạn viết riêng cho Tất Thành, người chính thức nhận tên Nguyễn Ái Quốc.

Khi nhắn các tác giả viết bài ký tên Nguyễn Ái Quốc, ông viết:

“Thực trạng dân tình thế thái bên nhà, bọn mình biết rõ, bấy lâu nay, bọn mình ở bên này có đăng báo chương, hô hào các hạng người Pháp có lương tâm ngõ hầu giúp người An Nam đánh đổ cường quyền áp chế, nhưng kết quả chẳng được là bao. Cái khát vọng bình đẳng, tự do, bác ái mà ông Mạnh Đức Tư Cưu [Montesquieu], ông Lư Thoa [Rousseau] khởi xướng chẳng nhỏ được giọt nào trên đất An Nam mình” (Theo bản dịch của Hoàng Xuân Hãn, in trong cuốn Những hoạt động của Phan Châu Trinh tại Pháp 1911/1925 của Thu Trang, Đông Nam Á 1983 trang 135-140).

Trong một đoạn khác, ông viết:

“Bấy lâu nay, tôi cùng anh và Phan [Văn Trường] đàm đạo nhiều việc, mãi tới bây giờ anh cũng không ưa cái phương pháp khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh của tôi. Còn tôi thời lại không thích cái phương pháp ngọa ngọa chiêu hiền, đãi thời đột nội [ngồi ngoài đợi thời] của anh và cả cái dụng lý thuyết thâu nhân tâm của Phan. Bởi phương pháp bất hoà mà anh đã nói với anh Phan là tôi là hạng hủ nho, thủ cựu. Cái điều anh gán cho tôi đó, tôi chẳng giận tý nào cả, bởi vì suy ra thì tôi đã thấy rằng: Tôi đọc chữ Pháp bập bẹ, nên không am tường hết sách vở ở cái đất văn minh này. Cái đó tôi đã thua anh xa lắm, đừng nói gì đọ với anh Phan.”

Tuy Tây Hồ dùng chữ anh, nhưng lời nhắn vẫn hướng về cả ba người trẻ Ninh, Truyền và Thành (hai ông Phan cùng thế hệ), ông trách họ dám coi ông là hủ nho, thủ cựu, và hướng về Tất Thành, còn có ý mỉa mai: Tôi đọc chữ Pháp bập bẹ, nên không am tường hết sách vở ở cái đất văn minh này. Cái đó tôi đã thua anh xa lắm, đừng nói gì đọ với anh Phan.”

Rồi ông tiếp tục mắng mỏ lối viết báo tiếng Tây: “Tôi coi lối ấy phí công mà thôi. Bởi vì, quốc dân đồng bào mấy ai biết chữ Tây, chữ quốc ngữ, cầm tờ báo mà đọc nổi”.

Và ông kiên quyết trở về với chủ trương của mình: “Theo ý tôi thì mình mà học hỏi lý thuyết hay, phương pháp tốt, tóm thâu được chủ nghiã, có chí mưu cầu lợi quyền cho quốc dân, đồng bào thì đừng có dùng cái lối nương náu ngoại bang để rung chuông gõ trống, mà phải trở về ẩn náu trong thôn dã, hô hào quốc dân đồng bào, đồng tâm hiệp lực đánh đổ cường quyền áp chế, ắt là thành công. Anh không nghe lời tôi nói, anh ở hoài bên này, cứ cái lối đó thì tài năng của anh khác gì công dã tràng”.

Để nhắn riêng Nguyễn Tất Thành, ông nhấn mạnh những điểm sau đây:

“Tôi biết anh hấp thụ được cái chủ nghiã của ông Mã Khắc Tư [Karl Marx] ông Lý Ninh [Lénine] nên tôi cũng đem chuyện hai ông ấy mà giảng dẫn cho anh rõ“. Rồi ông kể lại việc cả Karl Marx lẫn Lénine đều có một thời bị đuổi ra nước ngoài, nhưng sau đó họ đều tìm cách trở về nước để tranh đấu và ông kết luận: “Cứ xem hai ông Mã, Lý mà anh tôn thờ chủ nghĩa, có ông nào dùng cái lối nương náu đất người mà làm quốc sự cho mình, như anh đâu? Bởi vậy, quả như anh tôn thờ lý thuyết hai ông ấy thì anh nghe tôi mà về quảng cáo cho quốc dân đồng bào.”

Rồi ông nói về những hình phạt dành cho đường lối bạo động: “Ông Đề Thám bị bêu đầu giữa chợ, Ông Phan Đình Phùng bị đào mả ném xuống sông, ông Hàm Nghi, Duy Tân, Thủ Khoa Huân bị đầy biệt xứ và nhiều không kể xiết sự đầu rơi máu chảy”.

Cuối cùng ông khuyên Tất Thành nên về nước để “mưu đồ đại sự”.

Lá thư ngỏ này, chắc Phan Châu Trinh đã đưa cho Nguyễn Văn Vĩnh một bản để dịch sang tiếng Pháp vì chúng tôi thấy bản tiếng Pháp và bản dịch ra quốc ngữ (từ bản tiếng Pháp) trong tập tài liệu tựa đề Kỷ niệm 115 ngày sinh ông Nguyễn Văn Vĩnh, do gia đình ấn hành năm 1997. Bản dịch được trích dẫn trên đây là bản dịch của Hoàng Xuân Hãn do Thu Trang tìm thấy trong hồ sơ mật thám, và theo Hoàng Xuân Hãn thì đây cũng chỉ là một bản chép lại.

Lá thư này rất quan trọng, vì nó xác định những điểm khác biệt tư tưởng trong nhóm Ngũ Long do chính ngòi bút của Phan Châu Trinh viết ra:

1- Phan Châu Trinh không đồng ý với đường lối tranh đấu của nhóm Tây học: theo ông, việc viết các bài báo tiếng Pháp đả kích thực dân trên báo Pháp là vô ích. Tư tưởng của Rousseau và Montesquieu không thể đến được với dân Việt Nam.

2- Ông xác định một lần nữa phương pháptranh đấu của ông: khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh.

3- Ông chống lại cách mạng bạo động và kêu gọi về nước tranh đấu bất bạo động.

Xin nhắc lại: Con đường đấu tranh chung của nhóm Ngũ Long là đuổi Pháp, giành độc lập và dân chủ hoá đất nước. Nhưng họ khác nhau ở cách thực hiện các mục đích này:

– Phan Văn Trường, Nguyễn An Ninh và Nguyễn Thế Truyền, chủ trương dùng ngòi bút (tiếng Pháp) để đấu tranh trên đất Pháp (và sau này trên đất Việt), vạch tội ác của chính quyền thực dân, đánh động người Pháp dân chủ, để họ bãi bỏ chế độ thuộc địa.

– Phan Châu Trinh viết nhiều kiến nghị cho toàn quyền Albert Sarraut, yêu cầu thay đổi chính sách cai trị.

– Nguyễn Tất Thành chủ trương cách mạng bạo động theo con đường cộng sản.

Trong ba điểm chính mà Phan Châu Trinh nêu ra trong lá thư ngỏ gửi Nguyễn Ái Quốc, chỉ có điểm thứ nhất là hoàn toàn khác biệt với đường lối của nhóm Tây học: Họ chủ trương vạch tội ác của thực dân trên báo, tìm sự hưởng ứng của người Pháp dân chủ, để nước Pháp bãi bỏ chế độ thực dân; nhưng Phan Châu Trinh lại cho rằng cách ấy vô ích. Ngược lại Phan Văn Trường cho rằng việc Phan Châu Trinh viết thư yêu cầu toàn quyền và chính quyền thực dân thay đổi chính sách là vô ích.

Còn hai điểm sau, khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh và về nước tranh đấu bất bạo động của Phan, đều được sự hưởng ứng của Trường, Ninh và Truyền. Có thể bốn người đã bàn bạc với nhau để thành lập kế hoạch “Ngũ Long tề khởi”. Duy Nguyễn Tất Thành hành động khác.

Phan Châu Trinh công bố thư ngỏ tháng 2/1922. Nguyễn An Ninh là người về nước đầu tiên, mùa thu 1922. Ra báo La cloche fêlée ngày 10/12/23. Phan Văn Trường về tới Sàigòn ngày 21/1/1924. Năm 1924, Ninh sang Pháp ở lại khoảng một năm và đón Phan Châu Trinh về nước tháng 6/1925. Năm 1927, Ninh lại sang Pháp, lo liệu mua vé tàu cho gia đình Nguyễn Thế Truyền về nước.

Vậy chương trình “Ngũ Long tề khởi” mà Phan Châu Trinh đề xướng, đã được nhóm Tây học thực hiện. Dĩ nhiên là họ không làm theo cách của Tây Hồ mà làm theo cách của họ: Đem tư tưởng tự do dân chủ của Pháp về truyền bá tại Việt Nam và chống thực dân bằng báo tiếng Pháp trên đất Việt. Nguyễn An Ninh là người “theo sát” nguyện ước về nước tranh đấu trong lòng dân tộc của Phan Châu Trinh. Nguyễn Thế Truyền khi bỏ báo Le Paria để làm báo Việt Nam Hồn, có thể đã nghe lời Phan Châu Trinh.

Các sự kiện này được Hồ Hữu Tường ghi lại trong hồi ký, như sau:

“Theo lời cụ Phan Văn Trường thuật lại, thì năm 1922, khi Nguyễn An Ninh sắp sửa về nhà mà sáng lập tờ báo La Cloche fêlée, thì cụ Phan Châu Trinh có đưa ra một phân công, gọi là “ngũ long tề khởi”. Tại quê nhà, bầu không khí thực dân và phong kiến còn quá nặng, Ninh lãnh sứ mạng đem tư tưởng dân quyền của Pháp ra mà “dĩ di diệt di”. Nên chi báo của Ninh nêu lên đường lối là “cơ quan tuyên truyền cho tư tưởng Pháp” (organe de propagande des idées françaises).(…) Còn hai cụ Phan thì chờ Ninh xung phong, dọn dẹp chông gai bên nhà, hai cụ sẽ về góp sức mà tiến lên gây một phong trào dân chủ. Nhưng mà theo kế hoạch nầy, phân ra thì có, mà tụ lại thì chưa. Năm 1925, quả Ninh có rước hai cụ Phan về xứ. Nhưng sang năm 1926, cụ Tây Hồ lìa trần, Ninh lo tổ chức quần chúng, giao cho cụ Trường đứng mũi chịu sào tờ L’Annam. Rồi Ninh vào tù, cụ Trường ba chìm bẩy nổi, bị án tù, sang Paris chịu vào khám. Còn Tất Thành mang tên chung là Nguyễn Ái Quốc, theo cộng sản luôn, một đi không trở lại.

Nguyễn Thế Truyền vào đảng cộng sản Pháp, mượn phương tiện mà thành lập Việt Nam Hồn, sau đổi lại là Hồn Việt nam, rồi Phục Quốc… ” (Hồ Hữu Tường, 41 năm làm báo, Đông Nam Á, Paris, 1984, trang 24-25).

II – Phan Châu Trinh gặp Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Quỳnh tại Pháp năm 1922

Hội chợ đấu xảo ở Marseille là cơ hội để Phan Châu Trinh hành động. Ông xuống Marseille đầu năm 1922, để làm việc và cũng để tiếp xúc với những người Việt sang Pháp dự đấu xảo. Quan trọng nhất là những buổi gặp gỡ giữa Phan Châu Trinh và Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh.

Theo Phạm Quỳnh trong Pháp du hàng trình nhật ký, thì ông lên tàu từ Hải Phòng ngày 10/3/ 1922 đến Marseille ngày 9/4/1922, và gặp Phan Châu Trinh ngày 11/4/1922, ông ghi như sau:

“Hôm nay [11/4/1922] gặp cụ Phan Tây Hồ, là một nhà chí sĩ nước ta, nay biệt xứ bên quý quốc. Hồi cụ khởi nghiệp, tôi còn nhỏ tuổi, nên chỉ biết tiếng mà không được biết người. Nay sang đến đây mới được gặp cụ, trong lòng ngổn ngang nhiều nỗi, không sao nói xiết. Cùng nhau đàm luận trong mấy giờ. Viêc cụ làm chánh đáng hay không chánh đáng, tôi đây không muốn phẩm bình, nhưng xét cái thân thế cụ, dẫu ai có chút lương tâm cũng phải ngậm ngùi. Ừ, làm người ai chẳng muốn vợ đẹp, con nhiều, cửa cao, nhà rộng, bạc đầy tủ, thóc đầy kho; thế mà có người không muốn như thế, thời con ngưòi ấy, dẫu hay dở thế nào, tưởng làm kẻ quốc dân cũng không nên a dua nhẹ miệng mà gia tiếng thị phi vậy…” (Phạm Quỳnh, Hành trình nhật ký, Ý Việt, Paris, 1997, trang 252

Đây là điều ông ghi trong những ngày đầu mới đến Marseille. Nên hiểu rõ bối cảnh: Nhật ký này viết và gửi bưu điện về đăng từng kỳ trên báo Nam Phong (từ số 58 đến số 100). Phạm Quỳnh đi Pháp 6 tháng, đi từ Hải Phòng ngày 10/3/1922, đến Marseille ngày 9/4/1922 và về lại Hải Phòng ngày 11/9/1922); 2 tháng đi về; ở Marseille 1 tháng; Paris 3 tháng. Khi lên Paris, ông viết thận trọng hơn. 13/7/1922 ghi: “Chiều hôm nay ăn cơm An Nam với mấy ông đồng bang bên này. Mấy ông này là tay chí sĩ, vào hạng bị hiềm nghi, nên bọn mình [ông Quỳnh và ông Vĩnh] đến chơi, không khỏi có trinh tử [thám tử] dò thám. Lúc ăn cơm trong nhà, chắc lúc đó đứng ngoài như rươi; nhưng họ cứ việc họ, mình cứ việc mình, có hề chi!” (Sđd, trang 485).

Ngày 16/7/1922, Phạm Qùynh ghi:“Trưa, mấy ông chí sĩ cùng ăn cơm bữa trước lại chơi ở nhà trọ [Phạm Quỳnh ở khu La tinh, Rue Berthollet], nói chuyện giờ lâu. Nghe nói các ông đi đâu cũng có trinh tử đi theo, chắc bọn đó đã đứng đâu ngoài cửa cả”. (Sđd, trang 491)

Qua những tài liệu khác, có hai lần gặp được ghi lại: một lần ở Marseille và một lần tại Paris.

1- Theo một mật báo gửi về sở An Ninh Marseille ngày 11/5/1922, có cuộc gặp gỡ giữa ba người: Phan Châu Trinh, Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Quỳnh. Trong cuộc họp này, Phan Châu Trinh ngỏ ý muốn lật đổ Nam triều, lập Quốc hội An Nam với các dân biểu để cai trị cùng với chính phủ Pháp. Nhưng Nguyễn Văn Vĩnh khuyên không nên, vì người trí thức và người dân vẫn còn gắn bó với nền quân chủ. Vả lại vua nước Nam không giống như vua Louis 14 hay 16 của Pháp đã áp bức làm khổ dân; và người dân An Nam cũng chưa đủ trình độ để sử dụng quyền Quốc hội. Phải chờ. Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh nói sẽ suy nghĩ xem có thể đóng góp gì cho chương trình hành động của Phan Châu Trinh. (Theo Thu Trang, Những hoạt động của Phan Châu Trinh tại Pháp 1911/1925, Đông Nam Á 1983, trang 160).

2- Một buổi họp mặt khác, được ông Lê Thanh Cảnh ghi lại trong tập Ký ức về trường Quốc học (đăng trong đặc san của Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Quốc Học), và in lại trong tập tài liệu tựa đề Kỷ niệm 115 ngày sinh ông Nguyễn Văn Vĩnh, do gia đình ấn hành năm 1997, tập III, trang 21. Rất tiếc người biên tập không ghi rõ nguồn tham khảo: nội san số mấy, năm tháng nào v.v… Tuy nhiên, nếu dựa vào mấy chữ “câu chuyện năm mươi năm trước” mà tác giả ghi trong “Lời người viết”, thì có thể đoán bài này được viết vào khoảng 1970-1975 ở trong Nam, vì tác giả dùng hai chữ “anh Quốc” rất tự nhiên.

Dưới tựa đề “Thử đi tìm một lập trường tranh đấu cho dân tộc Việt nam”, trước hết ông Lê Thanh Cảnh thuật lại bối cảnh cuộc họp mặt: Nhân dịp phái đoàn Nam triều đi dự cuộc triển lãm do Pháp Quốc Sử Địa tổ chức tại Ba Lê “Ô. Trần Đức nói khẽ vào tai tôi, bảo hai anh em chúng mình mời bốn cụ Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Trần Ngọc Thiện, Cao Văn Sến đến chiều hôm ấy dùng cơm tại khách sạn Montparnasse. Chúng tôi nhân mời thêm cụ Phan Tây Hồ, anh Quốc, vợ chồng Trần Hữu Thường và ông Hồ Đắc Ứng”.

Đáng chú ý nhất là đoạn tác giả ghi lại cuộc tranh luận giữa năm nhân vật: Phan Châu Trinh, Nguyễn Ái Quốc, Cao Văn Sến, Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh. Chúng tôi trích lại những đoạn chính, lướt qua ý kiến Phan Châu Trinh (giống như những điều ông đã viết trong thư gửi NAQ) mà chú trọng vào ý kiến những người khác:

“Cụ Tây Hồ bắt đầu nói: Tôi đã gặp Nguyễn Ái Quốc từ 10 năm trước đây mà tôi thấy anh chủ trương cách mệnh triệt để quá táo bạo nên tôi không thể theo anh được, và anh cũng không chấp nhận đường lối của tôi. (…)

Anh Quốc tiếp lời: Mấy hôm nay anh Cảnh qua đây có tiếp xúc nhiều với tôi và có nói cho tôi một câu ước mơ của cụ Trần [Cao] Vân: Nếu cuộc khởi nghiã của vua Duy Tân thành công thì sau này việc đầu tiên của chúng ta sẽ làm là viết chữ Việt Nam không phải chữ “Tuất” một bên, mà phải viết chữ Việt là Phủ Việt, “Rìu Búa”, mới kiện toàn được sự nghiệp cách mệnh. Sở dĩ tôi chủ trương cách mệnh triệt để là xưa nay muốn giành độc lập cho tổ quốc và dân tộc thì không thể nào ngã tay xin ai được mà phải dùng sức mạnh như cụ Trần Cao Vân đã nói là phải dùng BÚA RÌU.

Ô. Nguyễn Văn Vĩnh cướp lời ngay, đã bênh vực chủ trương của mình và cũng để giác ngộ anh Quốc – Tôi đã từng đứng trong hàng ngũ Đông Kinh Nghiã Thục cùng các bậc tiền bối và rất đau đớn thấy hàng ngũ lần lượt tan rã và hầu hết phần tử ưu tú chiến sĩ quốc gia bị tiêu diệt: Hết phong trào Đông Kinh Nghiã Thục, đến chiến khu Yên Thế của Đề Thám ở Bắc, rồi đến vụ xin thuế ở miền Trung… (…) Bao nhiêu chiến sĩ đều gục ngã hoặc còn vất vưởng sống ở Côn Đảo, Thái Nguyên, Lao Bảo hay Banmêthuột. Bạo động như anh Quốc nói là thậm nguy! (…) Sở dĩ tôi theo lập trường TRỰC TRỊ (administration directe) là kinh nghiệm cho tôi thấy Nam Kỳ trực trị tiến bộ quá xa hơn Trung Bắc. Mà Bắc Kỳ nhờ chế độ mập mờ, nửa Bảo Hộ nửa Trực Trị (không công khai) mà còn hơn Trung Kỳ quá xa. (…). Cứ trực trị cái đã rồi sau khi được khai hoá theo đà tiến bộ thì tức khắc dân chúng tự có sức mạnh mà trồi đầu lên. Nói Trực trị tôi chẳng khi nào chịu giao nước Nam cho Tây đâu. Quá khứ đường lối tranh đấu của tôi, cuộc đời thiếu thốn của tôi đã hùng hồn bảo đảm cho lời nói của tôi hôm nay.

Ô. Phạm Quỳnh tiếp: Có lẽ ngay trong tiệc này tôi đã thấy có rất nhiều lập trường tranh đấu chống lại chủ thuyết mà tôi hoài bão: “QUÂN CHỦ LẬP HIẾN”. Nói đến quân chủ thì phần đông tỏ vẻ lo sợ chế độ chuyên chế. Nhưng xin đồng bào trương mắt nhìn hai nước Anh và Nhật. Với nền Quân chủ họ đã văn minh tột mức và dân chủ còn hơn các nền dân chủ cộng hoà khác nhiều lắm. (…) Vua chỉ là người đứng lên “thừa hành” bản hiến pháp mà chính nhân dân toàn quốc được triệu tập dự thảo và quyết định (…)”

Sau lời Phạm Quỳnh biện hộ cho chế độ quân chủ lập hiến, đến lời Cao Văn Sến biện hộ cho việc dùng văn minh Tây phương để tiến hành dân chủ; và nhìn nhận rằng ở Nam Kỳ đồng bào tiến bộ hơn nên thực dân không dám ăn hiếp như ở Trung và Bắc. Ông Lê Thanh Cảnh viết tiếp:

“Tôi khẩn khoản xin quý cụ là bậc tiền bối nên thảo luận ngay một kế hoạch hay hệ thống nào để làm việc cho có hiệu quả về sau.

Anh Quốc nóng nẩy bảo ngay: Thì xin Chú nói ngay ý kiến của Chú ra.

Tôi tiếp lời: Cũng như anh đã trả lời cho cụ Phan mấy hôm trước đây, tôi muốn nghe ngóng tất cả để sau này áp dụng một chủ nghiã thực tiễn, lấy Văn hóa Việt Nam làm gốc. Có thế mới hợp với tính tình dân tộc Việt Nam: Hành động gì bây giờ là thất bại ngay, mà cũng như cụ Phan Tây Hồ đã trịnh trọng cảnh cáo hai anh em chúng tôi mấy kỳ gặp gỡ trước đây, mà tôi rất bái phục: “Vô bạo động, bạo động tắc tử, vô vọng ngoại, vọng ngoại tắc ngu. Dư hữu nhất ngôn dĩ cáo ngộ đồng bào. Viết: Bất như “Học”.

Anh Quốc quát to tiếng: “Nầy cụ Tây Hồ, nếu Cụ qua làm Toàn Quyền Đông Dương thay mặt thực dân cũng chỉ nói như thế thôi. Bó tay mà chịu lầm than sao? Không được!

Tôi sợ anh Quốc đi quá trớn, đứng lên thưa, ôn hoà: Tôi xin anh suy nghĩ thêm về lời khuyên của Cụ Tây Hồ. Nếu chúng ta khôn khéo thì “bất chiến tự nhiên thành”.

Anh Quốc lại quát lớn: “Lại thêm chú này nữa kìa!”

Tôi được dịp kịch liệt bác bỏ luận điệu anh Quốc và bênh vực chủ thuyết của cụ Tây Hồ”.

Lời lẽ trong cuộc tranh luận này được ông Cảnh ghi lại theo trí nhớ, có thể không đúng nguyên văn, nhưng phản ảnh được không khí buổi họp và xác định một số thông tin sau đây:

– Chủ trương trực trị của Nguyễn Văn Vĩnh dựa trên sự quan sát tình hình dân trí trong Nam cao hơn Bắc và Trung. Việc này được chứng minh qua tình hình báo chí mở rộng tại Nam Kỳ và những phong trào chống Pháp rất mạnh trên báo ở trong Nam do Nguyễn An Ninh, Phan Văn Trường, rồi nhóm Trốt kít… viết.

– Nguyễn Tất Thành phản đối Phan Châu Trinh bằng lời lẽ nặng nề, khác hẳn cung cách “chú cháu” ngày trước, nhưng lại không có phản ứng gì đối với quan điểm của Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Cao Văn Sến.

– Để bảo vệ quan niệm bạo lực cách mạng, Nguyễn Tất Thành đưa ra biểu tượng Búa Rìu, của đảng cộng sản,nhưng lại giải thích bằng Hán tự và dùng ý nghiã Búa Rìu của Trần Cao Vân. Sau này Trần Huy Liệu cũng đề cao vai trò Trần Cao Vân nhưng bị Phan Khôi phản bác, Phan Khôi cho rằng Thái Phiên mới là người chủ chốt trong vụ vua Duy Tân, Trần Cao Vân chỉ là “nửa là nhà nho gàn, nửa là thầy bói kiêm thầy pháp”. (Trong bài Địa vị của Thái Phiên và Trần Cao Vân trong cuộc biến ở Huế năm 1916, Sông Hương số 7, năm 1936).

Những sự kiện này, mới xem qua, gần như không đáng lưu ý, nhưng sự thực nó có tầm quan trọng: Việc đề cao Trần Cao Vân là để nâng cao biểu tượng Búa rìu của đảng cộng sản, gắn liền Búa Rìu với hình ảnh cách mạng của vua Duy Tân. Và có lẽ Phan Khôi đã thấy chủ đích ấy, ông thấy nó trái ngược với sự thật lịch sử nên ông phản bác lại bằng loạt bài trên báo Sông Hương năm 1936.

Hai buổi họp mặt ở Marseille và Paris năm 1922, chứng tỏ Phan Châu Trinh sửa soạn con đường về nước, ông muốn chia sẻ quan điểm đấu tranh của mình và tìm sự hợp tác của Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Quỳnh.

Lá thư của Phan Châu Trinh và sự phản bác kịch liệt Tây Hồ của Tất Thành ở Montparnasse, chứng tỏ sự đoạn tuyệt giữa Phan Châu Trinh và Nguyễn Tất Thành, từ 1922.

Nguyễn Tất Thành, người (ban đầu) Phan thân nhất, coi như cháu, lại cùng chung một nền giáo dục nho học như ông, có thể Phan đã hy vọng Tất Thành sẽ “nối nghiệp”, nhưng Tất Thành lại theo con đường trái ngược: chủ trương bạo động cách mạng và không về nước theo kế hoạnh “Ngũ Long tề khởi” do ông đề xướng.

Năm 1925, Phan Châu Trinh về nước tìm người thừa kế. Một câu hỏi được đặt ra: Tại sao Tây Hồ không chọn Nguyễn An Ninh? Mặc dù, Nguyễn An Ninh là nhà cách mạng nổi tiếng từ thời niên thiếu mà thành tích chống Pháp đã trở thành huyền thoại: “Thi đậu bằng Brevet Elémentaire [tương đương với Trung học phổ thông], nhà ái quốc đi làm báo tiếng Pháp, do người Pháp điều khiển. Trong thời gian làm báo, dù chỉ là một cộng sự viên tầm thường, lượm tin chó cán, nhưng Ninh đã nổi tiếng rồi, vì sự bất khuất, hay đập lộn với người Pháp, hay chưởi người Pháp. Chính trong thời gian nầy, trong nước xẩy ra nhiều chuyện bạo động, nào Phan Xích Long khởi nghiã, Trần Cao Vân rước vua Duy Tân rời kinh thành Huế, Lương Ngọc Quyến bạo động ở Thái Nguyên. Dù những phong trào ấy bị thất bại, song gieo vào lòng người dân thời đó một mầm mống sâu đậm trong cõi lòng, trong số đó có nhà ái quốc thanh niên Nguyễn An Ninh” (Nhà cách mạng Nguyễn An Ninh, Phương Lan Bùi Thế Mỹ, trang 10).

Nhưng Nguyễn An Ninh Tây quá, sôi động quá. Phan Châu Trinh muốn một người nho học, điềm tĩnh, gần gụi với tư tưởng của ông hơn, và ông đã tìm thấy trong nhà nho Phan Khôi.

III. Đám tang Phan Châu Trinh- Sự xuất hiện của Phan Khôi

Phan Châu Trinh chủ trương “Ngũ Long tề khởi” từ năm 1922, nhưng đến tháng 6/1925, ông mới về được nước, và đến tháng 3/1926, ông mất.

“Cụ Phan Châu Trinh về Sàigòn một lượt với Ninh, đương ở nhà Ninh tại Quán Tre, kẻ thăm, người viếng rần rần rộ rộ” (Lê Văn Thử, Hội kín Nguyễn An Ninh, trang 25).

Nguyễn An Ninh bị bắt hôm trước (đêm 20/3/1926) thì hôm sau Phan Châu Trinh mất (24/3/1926). Phương Lan Bùi Thế Mỹ thuật lại như sau:

“Chính Đặng Văn Ký, theo sự uỷ thác của Ninh, vào tù, lo săn sóc bịnh tình cụ Phan Châu Trinh. Khi cụ Phan bịnh nặng, Ký cùng với các bạn đem dời cụ Phan lên nhà cụ Nguyễn An Cư; chú ruột của Ninh trị bịnh rồi cụ Phan mất tại đấy. Đặng Văn Ký hợp với Huỳnh Đình Điển, Phan Khôi đem cụ Phan về khách sạn Bá Huê Lầu, đường Pellerin giờ là Pasteur do Huỳnh Đình Điển là chủ nhơn khách sạn, thành lập ủy ban làm quốc táng, Phan Khôi đảm nhận viết lời hiệu triệu quốc dân. Đặng Văn Ký nhóm Jeune Annam lo liên lạc tìm đất chôn”. (Nhà cách mạng Nguyễn An Ninh, Phương Lan Bùi Thế Mỹ, trang 130). Bùi Thế Mỹ viết nhầm một chi tiết: Ninh uỷ thác cụ Phan cho Đặng Văn Ký từ trước, trước khi vào tù. Vì khi Ninh vào tù thì cụ Phan mất.

“Lễ quốc táng của nhà chí sĩ Phan Châu Trinh được tổ chức châu đáo vĩ đại. Quàn xác gần một tuần, tại Bá Huê Lầu của Huỳnh Đình Điển, người chen chúc vô dâng hương nhà chí sĩ không biết bao nhiêu mà đếm. Nườm nượp ra vô cả ngày lẫn đêm. Ngày đưa đám thiên hạ trùng trùng điệp điệp từ bốn phương xa gần tụ họp tới. Sấp hàng từ đầu cầu Mống, cái cầu ở tận trên đường Thống Nhất. Câu đối, tràng hoa tiễn đưa vô số kể.” (Phương Lan Bùi Thế Mỹ, trang 164).

Sự thành công trong việc tổ chức đám tang vĩ đại của Phan Châu Trinh là do nhiều yếu tố hợp lại, chúng tôi sẽ bàn đến trong một dịp khác. Ở đây chỉ xin nhắc đến sự đóng góp của một người, ở hậu trường, đã nổi trội, có “công” hơn: Nhiều dấu hiệu cho thấy từ khi về nước, Phan Châu Trinh đã tìm Phan Khôi để gửi gấm “đại sự”.

Về việc này, Nguyễn Q. Thắng viết: “…năm 1925 khi về nước, Phan Châu Trinh đã cho vời Phan Khôi vào Sàigòn để viết một quyển sách về đời hoạt động và sách lược cứu nước của Tây Hồ. Phan Khôi đã viết xong bản thảo có tên “Phan Châu Trinh” nhưng bị phủ toàn quyền Đông Dương cấm in. Bản thảo đã thất lạc (theo “mật báo về tác phẩm Phan Châu Trinh của Phan Khôi” của sở mật thám Nam Kỳ, gởi thống đốc Nam Kỳ ký ngày 1/6/1926). Sách “Phan Châu Trinh” dày 94 trang đánh máy, do nhà in Xưa Nay của Nguyễn Háo Vĩnh xuất bản nhưng không phát hành được.” (Nguyễn Q. Thắng, Phong Trào Duy Tân, những khuôn mặt tiêu biểu, trang 478).

Vậy Phan Khôi là ai? Năm 1925, Phan Khôi chưa phải là một tên tuổi nổi trội trong giới báo chí tranh đấu như Nguyễn An Ninh, Phan Văn Trường. Nhưng Phan Khôi đã bắt đầu sự nghiệp làm báo với hai nhà báo lừng danh Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Quỳnh, những người mà Phan Châu Trinh tìm gặp năm 1922 ở Pháp.

Phan Khôi được Phan Châu Trinh giao cho việc viết lại lịch sử đời mình.

Từ trọng trách ấy, Phan Khôi đảm nhiệm viết lời Hiệu triệu quốc dân trong đám tang Phan Châu Trinh.


Trả lời ông Mai Thái Lĩnh

Trong bài Mối quan hệ giữa Phan Châu Trinh và Phan Văn Trường viết ngày 30/11/2010 tại Đà-Lạt, được phổ biến trên Internet, ông có nhã ý đề cập đến loạt bài viết về Nhân Văn Giai Phẩm của chúng tôi trên RFI, chủ yếu là những đoạn viết về quan hệ giữa Phan Văn Trường và Phan Châu Trinh. Xin thành thật cảm ơn ông. Bài viết của ông đề đạt đến một số vấn đề quan trọng, nên chúng tôi thấy cần phải giải thích:

1- Về Hội Đồng Bào Thân Ái, ông cho rằng Phan Châu Trinh là người lập Hội, vì Phan Văn Trường và Phan Châu Trinh đã gặp nhau từ 1911 và Phan Châu Trinh có mặt trong buổi lễ ra mắt của hội tại trường Parangon ngày 18/1/1912. Và ông kết luận: “Salles nhận định rằng: “Hội đồng bào thân ái do Phan Châu Trinh thành lập với Phan Văn Trường làm chủ tịch”. Ý kiến này rõ ràng là một nhận định dựa vào thực tế, căn cứ vào một quá trình theo dõi suốt gần một năm trời, không phải là một nhận xét vu vơ”. André Salles là người mà học trò trường Parangon được (hay phải) gọi là “papa”, và Phan Văn Trường gọi là thứ “quyền lực đen tối”.

Giả sử hai sự kiện mà ông đưa ra trên đây đều đúng, nó cũng không chứng minh được rằng Phan Châu Trinh là người lập hội. Để chứng minh điều đó, ông dùng một nhận định của Salles: “Salles nhận định rằng: “Hội đồng bào thân ái do Phan Châu Trinh thành lập với Phan Văn Trường làm chủ tịch”.

Chúng ta khác nhau vì sự lựa chọn các chứng từ: Ông tin lời nói của Salles. Chúng tôi tin những điều Phan Văn Trường viết trong hồi ký: “Tôi chưa bao giờ gặp ông [Phan Châu Trinh] ở trong nước. Tôi quen biết ông tại Paris năm 1912″ (trang 68) và ông xác nhận chính mình là người lập hội và đặt tên là Thân Ái (trang 87-88), dù ông không ghi rõ ngày tháng sự việc này.

Trong việc lựa chọn các chứng từ, chúng tôi thường ưu tiên cho những điều mà các nhân vật trong cuộc viết ra. Ví dụ việc Trần Dân Tiên ghi rằng khi lên tàu đi Pháp năm 1911, ông mới học tiếng Pháp và khi đến Paris, ông chưa viết được tiếng Pháp phải nhờ Phan Văn Trường viết hộ. Thì chứng từ này được ưu tiên trên tất cả các chứng từ khác. Vì không có lý do gì Trần Dân Tiên viết sai về việc này. Còn những gì và mật thám hoặc người khác viết lại, có khả năng họ nhầm người này với người kia, như chúng tôi đã viết trong bài. (3)

2- Về việc Ai là tác giả bản thỉnh nguyện thư (Revendications du Peuple Annamite) gửi hội nghị Versailles năm 1919, ông cho rằng Phan Châu Trinh viết bản chữ Hán và Phan Văn Trường dịch ra tiếng Pháp. Vì theo ông, 8 điều khoản trong bản thỉnh nguyện, đã có 5 điều được Phan Châu Trinh nêu lên trong 5 lá thư khác nhau gửi cho toàn quyền Albert Sarraut.

Chúng tôi cho rằng Phan Văn Trường viết bản tiếng Pháp và Phan Châu Trinh dịch sang chữ Hán, vì hai lẽ:

– Phan Văn Trường đã có buổi diễn thuyết với đề tài Les revendications indigènes (Những thỉnh nguyện của người bản xứ) tháng 3/1914 ở trường Cao Đẳng Xã Hội.

– Lời văn trong bản thỉnh nguyện 1919 phù hợp với lối viết của Phan Văn Trường: Kín đáo, kiêu kỳ, châm biếm. Nay xin nói thêm: trong khi văn Phan Châu Trinh là lối trực bút, không châm biếm, không có ẩn nghĩa. Tây Hồ khi viết về Tây phương thường có giọng khiêm tốn trong khi Phan Văn Trường có niềm kiêu hãnh của người Phương đông.

Sự so sánh văn bản này dựa trên đoạn đầuđoạn cuối của bản thỉnh nguyện, hai đoạn văn ngắn và cô đọng chứng tỏ văn tài của tác giả: vừa khiêm tốn đòi hỏi chủ quyền, lại vừa kẻ cả, tự xưng nước mình là một Đế quốc lâu đời, ngầm ý mắng bọn thực dân là mọi rợ, cướp nước. Tác giả tìm cách thu phục lòng người Pháp dân chủ tiến bộ, kích động niềm tự hào dân tộc của họ, để họ thấy xấu hổ mà bãi bõ chế độ thuộc địa tàn ác, không xứng đáng với truyền thống dân chủ của họ. Cách vận động này, trong bức thư ngỏ gửi Nguyễn Ái Quốc, Phan Châu Trinh gọi là “cái dụng lý thuyết thâu nhân tâm của Phan”, mà Tây Hồ không đồng ý.

Còn tám điều khoản trong bản kiến nghị, chỉ là những lời kê khai, không có giá trị văn học, ai viết cũng được, có lẽ cả bốn hoặc năm “rồng” đã bàn tán kỹ càng trước khi đưa ra đề nghị tám điểm này.

3- Vì chúng tôi trích một đoạn Phan Văn Trường phê phán Phan Châu Trinh trong hồi ký, cho nên ông đưa ra lập luận: hồi ký Phan Văn Trường viết để phê phán Phan Châu Trinh từ năm 1923 mà sao không đăng ngay lúc Phan Châu Trinh còn khỏe, mà lại chờ đến lúc Phan Châu Trinh bệnh nặng sắp lìa đời, không có khả năng đối đáp được, mới đưa lên báo.

Sự thực không phải như thế.

Cuốn hồi ký này, dưới bài tựa, tác giả ghi: Paris, Octobre 1923. Vậy tạm coi đó là thời điểm Phan Văn Trường viết xong cuốn sách. Tháng 12/1923, ông xuống tàu về Việt Nam. Ông tới Sài Gòn cuối tháng giêng 1924. Sau đó ông ra Bắc một thời gian dài thăm gia đình sau 16 năm xa cách, đến 1925 mới trở lại Sài Gòn và lo việc lập văn phòng luật sư. Vì lẽ đó mà cuốn hồi ký chỉ bắt đầu đăng trên báo Chuông Rè từ ngày 30/11/1925.

Nội dung tác phẩm không phải để “đánh” Phan Tây Hồ, mà trình bày hành trình tư tưởng và con đường tranh đấu của Phan Văn Trường. Kêu gọi người dân nô lệ phải đứng lên làm người. Đừng sợ kẻ khác. Dù phải trả giá thế nào đi chăng nữa. Ông thuật lại vụ án mà ông và Phan Châu Trinh bị thực dân dàn dựng để ghép hai người vào tội âm mưu lật đổ chính quyền Pháp.

Sử gia Ngô Văn, người in lại tác phẩm ở Paris năm 2003, cho biết: Ở thời điểm xuất hiện trên báo Chuông Rè, tác phẩm gây chấn động trong lòng người dân nô lệ như một luồng điện giật.

Phan Văn Trường đã dành nhiều trang hồi ký cho Phan Châu Trinh, người bạn của mình. Ông viết theo lối Tây học, có gì nói thẳng, cả cái hay lẫn cái dở của bạn. Một nhận xét: Phan Văn Trường không hề nhắc đến Nguyễn Tất Thành, mặc dù Tất Thành ở nhà ông trong 2 năm (từ tháng 6/1919 đến tháng 7/1921).

Sở dĩ chúng tôi trích lại đoạn Phan Văn Trường phê phán Phan Châu Trinh (trong bài viết trên RFI), là để chứng tỏ rằng tuy họ bất đồng ý kiến ngay từ đầu, nhưng vẫn làm việc với nhau cho đến chết. Ngoài ra, dù bất đồng ý kiến, vẫn không có sự phân hóa giữa bốn người Trinh, Trường, Ninh và Truyền, vì họ hoạt động liên đới cùng nhau cho tới khi người thì chết, người thì đi tù.

© Copyright Thụy Khuê [http://thuykhue.free.fr]
Nguồn: Tác giả gửi


Mời đọc:

Đã đóng bình luận.