Tác Phẩm “ ĐI ” của Hồ Khanh và bản án của Cộng sản với nhà văn Doãn Quốc Sỹ

Posted: 22/09/2011 in Biên Khảo / Phê Bình, Vương Trùng Dương
Thẻ:

Vương Trùng Dương


Nhà văn Doãn Quốc Sỹ qua nét vẽ Đinh Cường

Ngày 10 tháng 12 năm 1970, Hàn Lâm Viện Thụy Điển tuyên bố trao tặng giải Văn Chương Nobel cho nhà văn Alexander Solzhenitsyn. Điểm đặc biệt trong giải thưởng Văn Chương Nobel nầy với nhà văn A. Solzhenitsyn là toàn bộ tác phẩm mô tả đời sống trong lao tù trên toàn cõi Liên Bang Xô Viết được mệnh danh là GULAG (Glavnoye Upravieniye Lagereiy) và xã hội của Liên Xô mà ông là chứng nhân, điển hình qua các tác phẩm: Một Ngày Trong Đời Ivan Denitsovitch (One Day in The Life of Ivan Denitsovich), Khu Ung Thư (Cancer Ward), Tầng Đầu Địa Ngục (The First Circle), Quần Đảo Ngục Tù (The Gulag Archipelago)…

Năm 1941 A. Solzhenitsyn nhập ngũ, phục vụ trong binh chủng Pháo Binh, lập được nhiếu chiến công vì vậy tháng 2-1945, Solzhenitsyn mang cấp bậc Đại úy với nhiều huy chương khen thưởng. Thời gian chiến đấu ở mặt trận Âu Châu, Solzhenitsyn viết thư cho người bạn ở Moscow, bày tỏ mối ưu tư về chính sách độc tài Stalin đưa đẫy đất nước vào vòng khổ đau, thư bị kiểm duyệt. A. Solzhenitsyn bị ngưng chức và giải giao về Moscow. Tòa án với cơ quan mật vụ NKVD xét xử, A. Solzhenitsyn bị kết án với tội trạng phản động. Ông mang số tù 232, lao động khổ sai tại khu xây dựng Lenin. Trải qua 4 năm lao tù ở đó, ông lãnh thêm 3 năm lao động khổ sai ở Kazakhstan, phía Tây Nam của miền Siberia rộng mênh mông, băng giá và đầy khắc nghiệt. Với một lá thư nói lên tâm trạng của bản thân người lính trước hiện tình của đất nước với người bạn nhưng khi bị kiểm duyệt, bị bản án hành hạ gần 8 năm.

Sau khi A. Solzhenitsyn được tuyên bố giải Nobel Văn Chương, nhà cầm quyền Liên Xô tung ra nhiều đòn thâm độc để đe dọa nhưng nhờ sự can thiệp của nhiều chính giới của quốc tế nên ngày 14 tháng 12, 1974, ông được “tước quyền công dân” rời Liên Xô để “lưu đày hải ngoại”. Ông ra đi, để lại người vợ hiền Natalia và hai đứa con thơ Yernolai và Ignat.

Sau tháng 4 năm 1975, nhà giáo Doãn Quốc Sỹ không “đi” được, ở lại Sài Gòn, được “lưu dung” dạy tại Đại Học Sư Phạm Sài Gòn, thế rồi ngày 4 tháng 4 năm 1976, ông bị kết tội trong thành phần “văn nghệ sỹ phản động”, đưa vào trại giam Phan Đăng Lưu rồi chuyển lên trại tù Gia Trung ở núi rừng cao nguyên, cho đến tháng Giêng năm 1980. Ra tù, bản thân ông không bao giờ nghĩ đến chuyện “đi” nếu không có những người thân yêu. Không “đi” được, ông viết “ĐI ” để sang Pháp rồi bị lén lút kiểm duyệt, cũng như A. Solzhenitsyn, ông bị kết án 10 năm tù! Ông thọ án cũng gần 8 năm như A. Solzhenitsyn!

Nhà văn Doãn Quốc Sỹ cho biết: “Năm 1980, sau bốn năm “chém tre đẵn gỗ trên ngàn” tôi được trở về sống với gia đình, bắt được liên lạc với nhà xuất bản Lá Bối, viết những bài báo phúng thích ngắn ký dưới bút hiệu tếu tếu: Củ Hành Khô!

Sau đó là cảnh đau lòng tử biệt sinh ly của chính mình khi chứng kiến cảnh đám con cháu cùng thân bằng cố hữu lần lượt mạo hiểm tổ chức vượt biên. ĐI được sáng tác đúng vào dịp nầy. ĐI chính là một hồi ký tự sự viết dưới hình thức tiểu thuyết. ĐI được bằng hữu thân tình tìm cách chuyền sang Pháp tới nhà Lá Bối. Tên tác giả được ghi là Hồ Khanh. Sự chọn lựa nầy liên tưởng tới những bài phúng thích trước đây được ghi với bút hiệu Củ Hành Khô. Củ Hành Khô khi nói lái lại thành một bút hiệu nghiêm chỉnh: Hồ Khanh”.

Trong dịp tiếp xúc với nhà văn Doãn Quốc Sỹ, ông cho biết, khi viết xong từng chương, ông gởi qua bưu điện sang Pháp, ông cảm thấy được trót lọt nên tiếp tục viết và gởi. Năm 1984, Công An đến nhà ra lệnh bắt, ông hỏi tội gì thì Công An đưa ra những bản đã photocopy bài viết mà ông gởi qua đường bưu điện.

Ông biết mình đã bị theo dõi và kiểm soát rất gắt gao nên đành chấp nhận. Bị nhốt 4 năm cho đến năm 1988 mới ra tòa và bản án: 10 năm. Năm 1991, ông ra khỏi tù, năm 1995, được con cái bảo lãnh sang định cư tại Texas, Hoa Kỳ.

Tác phẩm Đi, gồm 19 chương, trên khổ 5.5 X 8.5 inches, dày 224 trang, là những mẫu chuyện có thật xảy ra trong gia đình, con cháu, người thân… với lối hành văn rất nhẹ nhàng, chân thật bắt gặp trong đời sống người thân và gia đình ông của thời điểm sau năm 1975.

Mở đầu tác phẩm ĐI, chương I ông viết: “Bà nội bảy mươi bảy tuổi chẳng bao giờ ngờ chuyến đi từ Hà Nội vô Sài Gòn này lại chỉ chứng kiến đám con cháu nội ngoại trong Nam ra đi gần trọn ổ. Thật buồn! Nhưng qua kinh nghiệm và cảm nghĩ bản thân, cụ cũng thấy rằng điều đó chẳng thể tránh được.

Đây là lần thứ hai cụ vô Nam đấy. Lần đầu cụ vô Sài Gòn vào tháng 3 năm 1977. Ngày đó thằng con trưởng của cụ (di cư vô Nam từ 1964) đã bị bắt giữ rồi… Tháng Giêng năm 1980 cụ nhận được điện báo tin thằng trưởng của cụ được tha. Thế là cụ tức tốc lo liệu giấy tờ lấy… Mẹ con sau hai mươi sáu năm trời xa cách (trên một phần tư thế kỷ) được gặp nhau trước Tết; lũ cháu nội ngoại được quây quần bên bà ríu rít chuẩn bị đón Xuân… Hạnh phúc mẹ gặp con, bà gặp cháu của một đại gia đình thương yêu hòa thuận không bút nào tả xiết. Vậy mà cụ có ngờ đâu chỉ sau đó ít lâu cụ chứng kiến cảnh chúng nó ra đi dần, có đứa bị bắt giữ rồi được thả rồi lại ra đi nữa…

Từ lúc đột nhiên khám phá ra lũ con cháu trong Nam đang tuần tự ra đi dần cụ chỉ biết niệm Phật, hầu như thường xuyên niệm Phật, kể cả đêm khuya lúc cụ thiếp ngủ tâm tưởng của cụ vẫn hướng về lời niệm…”

Chương II đề cập đến bản thân ông qua hình ảnh ông giáo: “Ông giáo thương lũ con vô cùng. Ngày xưa làm được đồng nào ông nuôi chúng ăn học đầy đủ, ngày nay ông càng thương chúng vì thiếu thốn đủ thứ. Đã đành ông thương chúng như cha thương con, ông còn thương chúng như đạo hữu thương đạo hữu trong pháp nạn, như đám chúng sanh đói khát khổ nạn thương đám chúng sanh đói khát khổ bạn, thương chúng bằng thứ tình nhân bản tinh lọc nhất. Ngay thuở còn trong trại lao động cưởng bách, ông đã viết thư nói với tám con là ông cám ơn Trời Phật đã ban cho ông tám vị bồ tát…”.

Trong những chương kế tiếp, ông nói về hình ảnh người thân, học hành, ra trường, xin việc, mất việc rồi “đi” đường bộ, đường thủy, bị bắt rồi lại “đi”… tin buồn, tin vui lẫn lộn trong lòng thân mẫu ông giáo, vợ chồng ông giáo.

Cuối chương XVI, sau tháng ngày chứng kiến hình ảnh con cháu “Bà cụ nhìn đám cháu còn lại. Cụ biết rôi đây khi cụ đã ra Bắc rồi, nếu có tổ chức gì (ý cụ nghĩ về H.C.R) mà bảo lãnh cho chúng đi tất nhiên chúng sẽ ra đi hết. Có bao giờ cụ quên niệm Phật cầu nguyện cho chúng đâu”.

Rồi những dòng thư của những đứa con xa cha mẹ với bao nỗi nhớ thương, những dòng chữ viết trong nước mắt gởi từ phương trời xa về cho người thân.

Đoạn kết của ĐI khi người thân ra đi ở đảo với nỗi niềm: “Biết bao giờ gặp mặt! Biết bao giờ gặp mặt! Có thể rồi mai đây được bốc đi định cư ở một xứ sở xa xôi nào, rồi ở đâu đó, tiểu gia đình Hoa sẽ mọc rễ đâu đó như bố mẹ trước đây đã di cư vào miền Nam rồi sẽ mọc rễ ở miền Nam. Ông nội mất, bố có được gặp mặt đâu! Biết bao giờ gặp mặt! Biết bao giờ gặp mặt! Hoa ngẩng nhìn trời thăm thẳm và trong suốt như để tìm những vì sao – (lúc đó làm gì có sao) – nhưng là nhìn vào một tiền kiếp xa xưa nào, hồi bố mẹ còn là những vì sao trên trời”.

Với tâm hồn nhà giáo, nhà văn mang nặng tính nhân bản ghi lại những hình ảnh trong ĐI nó bàng bạc trong muôn nghìn gia đình vào thời điểm đó. Ông không phóng đại, cường điệu, dũng chữ “bao to búa lớn” để chửi bới, lên án mà là tâm tình của ông giáo nặng tình yêu thương với người thân trong hoàn cảnh đen tối đành “đứt ruột” chia tay!

Nếu không có hình ảnh “trốn ra nước ngoài theo địch” làm làm gì sau hai thập niên lại thay đổi khẩu hiệu lúc nào cũng rêu rao “nắm ruột nghìn dặm” thế mà khi nhà văn Doãn Quốc Sỹ đề cập thì mang bản án đến mười năm!

Nếu có ngày nào đó, tác phẩm ĐI được phổ biến trong nước, đọc tác phẩm và nhìn lại bản án… đành ngậm ngùi và xót xa.

Vương Trùng Dương
Tháng 9-2006
Nguồn: Văn Đàn Đồng Tâm

Đã đóng bình luận.