Russell Drysdale với Joe và Maria

Posted: 06/02/2019 in Nguyễn T. Long, Tùy Bút / Tản Mạn / Tạp Ghi
Thẻ:

Nguyễn T. Long


Russell Drysdale (1912 – 1981)

Cho tới giữa thế kỷ XX, cộng đồng thế giới vẫn nhìn nước Úc ở Nam bán cầu (có hỗn danh là down under) như một phó bản mờ nhạt của Vương quốc Anh cho dù Úc đã trở thành một Liên bang độc lập theo quân chủ lập hiến từ 1901.

Người Anh qua Úc thì hoá thành người Úc như một lý đương nhiên (cho dù vẫn nghĩ mình là người Anh) nhưng người Anh sống ở xứ Úc qua nhiều thế hệ thì có còn là người Anh nữa không? Đây trở thành vấn đề của bản sắc, của căn cước dân tộc; người ta đi tìm một cái “Úc tính” (một thời được gọi là “Australianness”, một ý niệm mà ngày nay chẳng còn ai nhắc đến nữa). Không biết khi người Việt từ miền Bắc và miền Trung trở thành những lưu dân trong cuộc Nam tiến vào đất Chiêm Thành từ 4/5 thế kỷ trước, tổ tiên ta cũng có những phức cảm tâm lý tương tự như vậy chăng?

Russell Drysdale sinh tại Sussex, Anh quốc, năm 1912. Năm 11 tuổi, Tas (như nickname được gọi trong gia đình và những người thân thuộc) theo gia đình qua Úc định cư vì gia tộc ông có đất đai, nông trại ở đấy từ cuối thế kỷ XIX. Theo học trường Trung học Anh giáo ở Geelong, tiểu bang Victoria, đến năm 17 tuổi thì Tas bị phát giác mang chứng bong võng mạc (detachment of retina) ở mắt trái và theo một phương pháp trị liệu thời đó, cậu có 5 buổi học vẽ trong tuần: viễn cảnh, hình thể 3 chiều, nghệ thuật ký ức và thiết kế sơ đồ.

Phải chăng các thực tập đó đã dẫn Tas vào hội họa và sự nghiệp họa sĩ sau này? Sau hai lần mổ mắt không thành công, nhìn lại các bức họa với không gian sâu thẳm mới thấy sự cố gắng kiên trì, phi thường của người họa sĩ chỉ nhìn được có một mắt từ khi mới 23 tuổi.

Nguyện vọng của gia đình là mong cho sau này Tas sẽ nối nghiệp cha, trông nom các vườn cây, quản lý các nông trại… nhưng công việc này không hề gây hứng khởi gì cho người trẻ tuổi. Tas đi học vẽ với nhiều bậc thầy nổi tiếng ở Úc lúc bấy giờ, trong đó có người trở thành bạn và sau cùng lại là một đối thủ trong nghệ thuật vì quan điểm khác biệt. Tas được nhiều khuyến khích của bạn bè hay những người quen biết, thấy được năng khiếu hội họa tiềm ẩn của cậu vào năm 20 tuổi.

Cho tới khi Thế chiến Thứ hai bùng nổ (1939), ông chỉ trở lại Âu châu có 3 lần ngắn ngủi, lần dài nhất cũng chỉ hơn nửa năm nhưng hai chuyến sau cùng (1932-34 và 1938-39), ông dồn hết năng lượng vào việc học vẽ tại các trường tại London và Paris; thăm viếng các viện bảo tàng; vẽ lại những tác phẩm của các họa sư danh tiếng thời trước như một phương pháp thực tập cổ điển và nhất là có dịp tiếp xúc với nghệ thuật và các họa sĩ đương đại.

Thập niên 40 ghi dấu những dằng co, phấn đấu đi tìm một phong cách vẽ riêng cho mình, Drysdale đã để lại nhiều tranh với các đường lối khác nhau mà các nhà phê bình tha hồ xếp loại, từ ấn tượng đến siêu thực, hiện thực…, qua ảnh hưởng của Modigliani hay H. Moore… và thậm chí cả Pierro della Francesca từ thời Phục hưng. Lý do của các cuộc tranh luận dường như bất tận này bởi vì Drysdale là người kiệm lời, rất thận trọng khi (phải) nói về tranh của mình trong các cuộc phỏng vấn. Sau cùng hết, Drysdale đã dừng lại và chọn lối vẽ có thể cho ông diễn bày tư tưởng, cảm xúc… trọn vẹn nhất: người-trong-cảnh (figure-in-landscape), lối vẽ mà ông theo đuổi cho đến khi buông cọ. Phần lớn các họa phẩm của Drysdale đều được vẽ trong studio dựa theo các bức phác họa hay hình chụp của ông với những cân nhắc về phong cách, bố cục, đường nét, mầu sắc… cẩn thận. Thật cũng khó mà hoàn tất một bức họa ngoài trời (en plein air) như kiểu những họa sĩ Ấn tượng bên trời Âu khi mà nhiệt độ ngoài trời ở vùng nhiệt đới Bắc Úc có thể lên đến trên 40 độ Celsius, đủ để tráng trứng trên mui xe hơi.

NGƯỜI VÀ CẢNH TRONG TRANH CỦA DRYSDALE


Ennui – 1944 (40.7 x 50.8 cm)

Ennui là bức tranh duy nhất mang tựa đề bằng tiếng Pháp (Nỗi phiền muộn) trong số khoảng 400 tranh Drysdale đã để lại sau sự nghiệp hội họa dài hơn 40 năm nhưng bức tranh có thể nói là gắn liền với tên tuổi của R. Drysdale là bức The Cricketers vẽ năm 1948, nổi tiếng ít nhất là trong giới thưởng ngoạn mỹ thuật gần gũi với Anh quốc.

Nghe tiếng Drysdale ở Úc, một nhà xuất bản ở Luân Đôn, W. Hutchinson, năm 1948 đã đặt Drysdale vẽ cho bộ sưu tập của ông ta (gồm tranh vẽ về các bộ môn thể thao của Anh) bức họa một trận cricket với giá 150 bảng Anh (tương đương với khoảng $US 7,840 theo hiện giá).


The Cricketers – 1948 (76.2 x 101.6 cm)

Dã côn cầu là trò thể thao được coi như linh hồn của nước Anh, với sân chơi được bao bọc bởi những thảm cỏ xanh mướt và các đấu thủ đều mặc đồng phục trắng ủi thẳng nếp, trang trọng kiểu qúy tộc, thông thường ở một xứ có truyền thống quân chủ lâu đời.

Khi nhận được bức tranh gửi từ Melbourne qua, nhà sưu tầm đã bị một cú sốc nặng, tí nữa thì ông đã định đem bán đấu giá, tống khứ bức tranh này đi cho rồi! (như một người bạn thân của ông ta kể lại). Drysdale diễn bày trò chơi cricket với hai thanh niên và một cậu đứng xem; cả ba xuất hiện như những cái bóng. Khung cảnh được chọn lấy từ Hill End, phía Tây tiểu bang New South Wales, một thị trấn bỏ hoang được dựng lên thời đổ xô đi tìm vàng (gold rush) vào thập niên 50 thế kỷ thứ XIX. Trời ửng đỏ, xám mầu chì. Đất nâu, vàng, như nóng bỏng, bụi và cát, khô cằn. Đó là bản thể hoang vu của vùng outback (nội địa gần sa mạc của) nước Úc, không thể diễn tả khác hơn được nữa!

Bức tranh này ngày nay do công ty đầu tư JGL ở Melbourne làm chủ, được trưng bầy lần cuối cho công chúng vào năm 1998 và được ước lượng theo thời giá tương đương với 6 triệu đô la Úc. Nếu so với tác phẩm Reclining Nude của Modigliani được nhà Sotherby’s bán trong tháng Năm 2018 vừa qua với giá gần 160 triệu $US thì chắc sở hữu chủ của The cricketers còn phải đợi cả thế kỷ nữa… .

Về giá trị nghệ thuật của bức tranh, giám đốc Phòng tranh Quốc gia Úc đại lợi ở thủ đô Canberra đã có một nhận định thường được trích dẫn: Đây là một trong những hình ảnh nguyên sơ và đầy ám ảnh nhất trong tất cả nghệ thuật của Úc. Báo Sydney Morning Herald (06/06/2009) cho rằng đây có thể là bức tranh nổi tiếng nhất của Úc trong thế kỷ XX.

Riêng Drysdale lúc sinh thời chẳng phát biểu gì nhiều về bức tranh này. Có lẽ đối với ông, mỗi bức họa đều có một truyện kể khi được tạo hình mà lời thì không diễn hết được ý.

JOE và MARIA

Nước Úc với diện tích 7,7 triệu km2, lớn xấp xỉ gần bằng Hoa Kỳ, cũng rộng 4 múi giờ, nhưng vào năm 1950 chỉ có 8,2 triệu dân. Không có thêm di dân thì không thể nào phát triển nổi; các đạo luật về di dân do vậy cũng phải nới rộng dần.

Trong khi đó, sau Đệ nhị Thế chiến (1939-45), Âu châu tan hoang, dân chúng ở những nước nghèo vùng Nam Âu phải đi tìm đất sống mới cho dù phải đi xa cả nửa trái cầu. Hy Lạp và Ý là những cộng đồng đông nhất, họ là những người di dân da trắng đầu tiên đến Úc mà không phải là thần dân (được gọi là subject!) của Vương quốc Anh. Phần lớn di dân từ miền Nam nước Ý trở lại với nghề nông cũ của họ trên giải đất mới và người Hy Lạp vào làm việc trong các xưởng hãng, một số ít theo nghề bán buôn. Họ lưu lạc đến các vùng outback xa xôi, gần với sa mạc, trong các thị trấn nhỏ như những trạm tiếp tế ở dọc theo đường dây thép. Tại đó, họ mở các cửa hàng tạp hóa, quán trọ, tiệm ăn… .

Joe và Maria đã xuất hiện trong tranh của Drysdale năm 1950 với bối cảnh như thế.


Evening – khoảng 1945 (50 x 60.5 cm)

Có thể xác quyết ngay từ đầu: Joe không phải là “người thật”; hẳn nhiên thì cũng không phải là một cyborg, biorobot hay android… quen thuộc ngày nay mà Joe chỉ là hình ảnh một hỗn hợp những ấn tượng trong ký ức thị giác (visual memory) của Drysdale qua những cuộc du hành vào vùng outback mà ông đã tiếp xúc với họ. Trước Joe-1950 đã có nhiều Joe khác xuất hiện trong tranh của Drysdale rồi nhưng ông vẫn cẩn thận vẽ thêm các bức phác họa làm nền cho tác phẩm chung cuộc bằng sơn dầu.


Joe – 1950 (71.1 x 91.5 cm)

Bố cục rất là chặt chẽ: một người chủ tiệm đang trầm tư bên cửa sổ. Nhìn theo viễn cảnh thì khung cửa sổ và mặt bàn hun hút ở đằng trước lại không có cùng một điểm nhắm, khủyu tay trái của Joe có vẻ như lơ lửng bên ngoài khung cửa hơn là tựa vào đó như vẫn thường được diễn tả về bức tranh này, nhưng không hề gì, mầu sắc ở đây mới là quan trọng. Các khoảng mầu tối như đen, nâu, xám của không gian xung quanh Joe dường như bao bọc thế giới nội tâm của ông trong khi bầu trời bên ngoài lại hực sáng, từ xanh thẫm đến xanh nước biển với các gợn mây rồi chuyển dần qua mầu đất nhạt. Đất trời chỉ là một mà Joe bây giờ thì không ở đây, ông đang mặc tưởng những gì? Ta chỉ có thể phỏng đoán: hoài niệm về một cố hương xa vời bên bờ Địa trung hải hay câu hỏi vẫn thường trở lại dằn vặt trong những giấc mơ: có đáng để đánh đổi những vườn olive xanh ngắt, trĩu qủa cho mảnh đất nóng bỏng, khô cằn, hoang dã này không?

Chẳng ai biết được Joe nghĩ gì nhưng có mang tâm thức lưu đầy thì sẽ hiểu và cảm cho ông. Bỗng dưng chạnh lòng, lại nhớ đến thơ Cao Tần và Thư gửi về Bloomington của Lê tất Điều ở Mỹ vào cuối thập niên 70 thế kỷ trước.

Maria và Joe không biểu hiện một cách tình cờ. Drysdale đã muốn mang một khía cạnh của di sản lịch sử (mà người Anh đã để lại trên đất Úc) tới cuộc triển lãm ở Phòng tranh Leicester tại Luân Đôn vào tháng 12. 1950.

Cũng như Joe, Maria chưa chắc đã là cái tên trong buổi Lễ rửa tội và đặt tên thánh tại một ngôi nhà thờ làng nào đó thuộc Chính thống giáo ở Hy Lạp… , nó chỉ là cái giả danh, tên gọi một sắc tướng. Nhưng Maria đã được diễn bày trong tư thế và tâm cảnh trang trọng hơn nhiều.


Maria – 1950 (99.0 x 76.5 cm)

Mầu sắc cũng vẫn là những sắc tối đóng khung cho nội tâm dưới hàng hiên, nhưng Maria đã bước ra ngoài, đã tiếp xúc với đất trời, đối diện với con đường như tương lai xa thẳm, mất hút ở cuối chân trời. Cái dáng tư lự biểu lộ qua đôi bàn tay mà khuôn mặt lại rất là bình thản. Khác với bức phác họa làm mẫu (vẽ bằng bút sắt với mực đen và mầu nước) cho thấy Maria đứng khoanh tay, dựa lưng vào tường thì trong tranh sơn dầu, Maria đã đứng sững như một pho tượng, uy nghi và vĩ đại dù là với trang phục làm việc sơ sài hết cỡ.

Trong một luận án tiến sĩ (Doctor of Philosophy) với đề tài “Hội họa Úc trong thế kỷ XX” của J.S. Baitz tại đại học Tây Úc, 2017, lối vẽ thời Quattrocento từ thế kỷ XV ở Ý đã được nhận xét như là ảnh hưởng đến cách diễn đạt nhân vật trông như tượng đài trong tranh của Drysdale kể từ 1945.

Lou Klepac, tác giả cuốn tiểu sử đồ sộ viết về cuộc đời và sự nghiệp của Drysdale, đã đưa ra lời giải thích thuẩn lý, cụ thể và thuyết phục hơn, cho rằng Drysdale đã sử dụng máy ảnh Rolleiflex để lưu trữ tài liệu mà khi chụp hình, người ta phải giữ nó ngang ngực và cúi xuống nhìn vào màn hình. Từ một góc độ thấp như thế, khi chụp gần, hình người sẽ được phóng lớn, quá khổ và Drysdale đã dựa vào đó, đưa nhân vật của mình vào trong các bức họa của ông.

Thật ra, chắc hẳn Drysdale cũng chẳng hề muốn biến những người đàn bà vùng quê hiu quạnh của xứ Úc đến từ Hy Lạp, Ý, Ái nhĩ lan, Tô cách lan… trong tranh của mình thành những nữ thần karyatides được tạc tượng để nâng những mái đền Hy Lạp thời cổ đại. Họ chỉ là những con người bình dân, mộc mạc, chưa bao giờ biết đến những tiện nghi giản đơn nhất của người phụ nữ nơi phố thị. Cuộc sống đối với họ chỉ có nghĩa là thích nghi, chấp nhận mọi hoàn cảnh, xoay sở trong những điều kiện chật vật nhất để sống còn, cho chồng, cho con, cho thế hệ tương lai.


Woman in a landscape – 1948 (101 x 66.3 cm)
Giải thưởng Melrose, Adelaide 1949

Dưới đây là lời phát biểu hiếm hoi, luôn luôn khiêm nhường và cô đọng của Drysdale về tranh vẽ những người đàn bà vùng outback của ông: Tôi đã nhìn, đã thấy và đã cố trình bầy bản chất tâm hồn của họ. Đó là sự vững chãi, thái độ tự tin vào sức mạnh nội tại, tính kiên trì, sẵn sàng đối đầu và vượt qua mọi thử thách trong cái nóng và nỗi cô đơn bất tận. Chính họ là những người đã tạo nên đất nước này.


The Drover’s wife – 1945 (51.5 x 61.5 cm)

Trong ý nghĩa đó, Maria đã trở thành một biểu tượng, âm thầm và dai dẳng, nhẫn nại chịu đựng trong cõi Ta bà (vốn có nghĩa là “kham nhẫn”) như những kỳ hoa dị thảo không ai biết tên mà vẫn nở rộ. Biết đâu, nếu còn sống thêm hai thập niên cuối cùng của thế kỷ XX, có thể Drysdale sẽ còn vẽ thêm những bà Lý, Lê, Trần… nào đó, đã từng xả thân đóng góp trong các hãng xưởng để xây dựng thành đất Úc trù phú ngày nay.

Phần lớn tranh của Drysdale đều được mua ngay trong các buổi triển lãm bởi các nhà sưu tầm tư nhân nên Joe và Maria đã “biến mất” ngay sau đó. Mãi đến sau 1960, Joe và Maria cũng đã có lần “đoàn tụ” trong triển lãm qua thương lượng giữa ban tổ chức và sở hữu chủ của hai bức tranh này song không có tư liệu nào nói về “liên hệ” thật sự của hai nhân vật trong tranh mà Drysdale có thể chỉ muốn diễn tả người-trong-tâm cảnh chứ không chỉ đơn thuần người-trong-phong cảnh.

Sách vở Anh-Úc nói về nghệ thuật của Drysdale thường ít chú ý đến hai bức tranh này nhưng trong cái nhìn hồi cố (in retrospective) về sự nghiệp của ông, trong gần hai thập niên cuối cùng của cuộc đời (60’s và 70’s), ông đã chuyển đề tài qua vẽ tranh về người thổ dân với sự chia sẻ và lòng cảm thông sâu đậm cùng những con người bị tước đoạt tất cả, lưu vong trên chính quê hương mình. Nhưng đây lại là chuyện của một chương khác.

***

Chỉ mong trong ít dòng và trong tranh, giới thiệu và chia sẻ với bạn đọc về một họa sĩ từ một xứ sở xa xôi, có cái nhìn nhân bản, rộng mở, không phân biệt, ý thức rất rõ chính ông và tất cả chúng ta cũng chỉ là những di dân trong ngôi làng địa cầu giữa cuộc hồng trần phù thế này thôi. Vũ trụ được giải thích bằng Big Bang rồi lại Big Crunch nhưng hiểu được cái phần tâm thức sâu thẳm nhất của một con người, kỹ năng hiện đại của nhân loại hãy còn xa lắm.

Sir George Russell Drysdale, Companion of the Order of Australia (như được ghi chép trong Từ điển về Tiểu sử của Úc với đầy đủ tước hiệu ghi nhận những công trình đóng góp của ông cho văn hóa, nghệ thuật nhân loại) tạ thế ngày 29 tháng 6, 1981 tại Sydney, thọ 69 tuổi.

Nguyễn T. Long
Úc Đại Lợi, tháng Giêng 2019 – Cuối năm Mậu Tuất

SÁCH THAM KHẢO

– “Australia – The Painter’s Vision” – Graeme Sturgeon – Bay Books / Sydney & London – 1987

– “A pictorial history of Australian painting” – P. Quartermaine & Jonathan Watkins – Bison Books Ltd – 1989

– “R. D. – Defining the modern Australian landscape” – C. Heathcoate – TWMA / Wakefield Press – 2000

– “Russell Drysdale” – Lou Klepac – Murdoch Books – First published 1983/ revised edition – 2009

– “Looking at paintings – A private view” – Richard Cottrell – Murdoch Books – 2009

– “A history of pictures” – David Hockney and Martin Grayford – Thames and Hudson – 2016

Nguồn: Tác giả gửi

Đã đóng bình luận.