Archive for the ‘Nguyễn Văn Sâm’ Category

Khuyết Danh
Nguyễn Văn Sâm phiên âm và giới thiệu lần đầu tiên

Trong cuốn Vè Nam Bộ của Huỳnh Ngọc Trảng có 4 bài  (các trang 379-389) Vè Bão lụt năm Giáp Thìn do ông Trảng nghe được từ những người dân sống trong vùng quê khác nhau đọc cho, nghĩa là truyền miệngmới được khám phá gần đây thôi. Chỉ riêng bài nầy là chúng tôi  có bản Nôm xưa, rất nhiều xác suất là được viết bởi người sống gần với thời gian sự kiện bão lụt xảy ra. Tài liệu gồm 8 trang chữ Nôm viết tay, khổ lớn, tất cả có 226 câu lục bát nói về hai đề tài  gần như khác biệt:

(1) Giặc Tây tới Việt Nam và những gì họ làm sau đó.

(2) Chuyện bão lụt năm Giáp Thìn 1904.
(more…)

Khuyết Danh
Nguyễn Văn Sâm phiên âm và giới thiệu

Cách nay gần mười năm (2010) một người sưu tập tác phẩm Nôm kỳ cựu ở Sàigòn có nhường tôi vài quyển sách Nôm viết tay, trong đó có một quyển mỏng gồm 10 trang, hình như là phần còn lại của một quyển lớn hơn đã bị hư rách (?). Mười trang nầy thì hai trang cuối không quan trọng vì là những bài thơ không có gì đặc biệt. Riêng 8 trang đầu rất đáng chú ý, đó là 226 câu lục bát nói về hai đề tài gần như khác biệt:

(1) Giặc Tây tới Sơn Chà năm Đinh Tỵ (1857) và những gì họ làm sau đó trên vùng đất Nam Kỳ vừa chiếm đóng. Phần nầy người sáng tác đã nói tốt về giặc Tây hơn là nói xấu. Chuyện nầy cũng dễ hiểu: Mới tới đất lạ, chưa biết mô tê gì lại thấy có nhiều điều cần cải tiến nên họ đã cải tiến và tạo nên sự choáng ngộp, kính phục dưới mắt người dân bản địa.

(2) Chuyện bão lụt năm Giáp Thìn 1904. sự kiện đặc biệt nầy được mô tả khá tỷ mỹ nhứt là những chuyện chết chóc tang thương xảy ra cùng là những đóng góp của thân hào nhân sĩ thời đó.

Tôi coi tác phẩm nầy là phần văn chương khuyết danh của văn học Miền Nam, một phần không thể bỏ qua khi nghiên cứu văn học, văn hóa Miền Nam Kỳ Lục Tỉnh. Bài nầy giới thiệu phần 1. Tôi tạm gọi là: Vè Tây tới, tác giả Khuyết Danh.
(more…)

Nguyễn Văn Sâm

Trên mạng bỗng nhiên thiên hạ bàn ngang tán dọc về chữ Bậu chữ Qua, thôi thì mình cũng bàn qua chơi theo thiển ý.

Chữ Bậu: Tự điển Nguồn Gốc Tiếng Việt của BS Nguyễn Hy Vọng cho biết Người Nùng có tiếng bậu nghĩa là em, dùng trong cách nói thân mật. Người Thái có tiếng phậu cũng theo nghĩa tương tợ.

Tại sao người VN ở Miền Bắc không có tiếng bậu thân thương như ở Miền Nam?

Có lẽ tiếng phậu của Thái vào ngôn ngữ của người Nùng rồi đứng đó không ảnh hưởng lên ngôn ngữ Viêt Nam. Còn tiếng Phậu theo người Miên, theo quân Xiêm La vào Miền Nam tạo thành tiếng bậu trong Nam Kỳ.
(more…)

Nguyễn Văn Sâm

Một tác phẩm có giá trị khi nó được nhiều người nói tới, bàn luận, kể cả tranh cãi và nhất là có nhiều phó phẩm để có thể nói được là nó tạo nên một nguồn văn hóa mới. Trong văn chương Việt Nam có hai tác phẩm lớn được ở vào trường hợp đó, chính là Lục Vân Tiên ở Nam và Đoạn Trường Tân Thanh (tức Truyện Kiều) ở Bắc. Một vài trường hợp khác như Lâm Xanh Xuân Nương, như Lưu Bình Dương Lễ cũng tạo được những phó phẩm tương tự nhưng không nhiều bằng, và nhứt là không có được những bình luận nghiên cứu, ưa thích, sùng thượng như hai tác phẩm trên.
(more…)

Nguyễn Văn Sâm

1.
Những người muôn năm cũ, Hồn ở đâu bây giờ? Câu thơ xót xa cho hình ảnh quá khứ bị vùi chôn chợt hiện lên như phép lạ đánh bật dậy dĩ vãng lâu nay lấp kín dưới sâu thẳm của địa tầng ký ức khi người ca sĩ có vẻ mặt rất trẻ thơ vừa mới được hoan nghênh nồng nhiệt trên sân khấu một hai màn trước rụt rè hỏi tên tôi, rồi mừng rỡ xác nhận nàng từng ngồi trong giảng đường nghe thầy thao thao trên bục giảng.

Thầy giảng hay lắm. Cách nói xác định, trang phục lộng lẫy nổi bật vẻ sang trọng đối diện bộ quần áo bình thường, bày bán trong những tiệm bình dân nhan nhản khắp nước Mỹ trên mình tôi lúc đó, cộng với bộ mặt bơ thờ – chợt nhớ lại khi mình chắc lưỡi chải vội mái tóc trước khi đến đây – khiến tôi mỉm cười, vừa tội nghiệp vừa chua xót. Tội nghiệp cô học trò cũ, thật thà như đếm. Chua xót mình, tang thương, lạc lõng, vẫn còn mang bộ mặt ngái ngủ, dật dờ trong cuộc mộng du mười năm dưới lời trù ếm của những tên phù thủy thời đại.
(more…)

Nguyễn Văn Sâm

Chà, ta bước qua tuổi Tám Mươi rồi!
Tưởng không thể có ngày nay.
Xưa:
Lận đận lao đao với cái rổ hột vịt lộn
lôi thôi quần áo mỗi ngày khi tuổi chưa tròn con số chục,
Ở lứa tuổi 13
Trùng trục mình trần ngồi bán thuốc lẻ từng điếu nhỏ nhoi,
Ai mua nguyên gói thì mừng còn hơn má cho tiền ăn tô hủ tíu chú Tiều,
Đi học thì xa, phải thức sớm mỗi ngày chạy lên bến xe thổ mộ.
Băng qua khu nhị tì nổi tiếng có nhiều ma.
Lắm bữa kiếm chút nghỉ trưa,
Thức dậy bị mặt trời đè,
Ngẩn ngơ như ngỗng đực say ke.  (more…)

Nguyễn Văn Sâm


Nhà thơ Nguyên Sa (1932-1998)

Nguyên Sa (sanh năm 1932) là người trước tôi một thế hệ. Khi thằng bé nhà quê theo học những năm cuối của Trung học, đương bị cuốn hút bởi từng bài trong tạp chí Sáng Tạo với văn phong mới của mấy cây bút di cư vào Nam và với những bài viết về văn học rất đặc biệt… luôn ngóng chờ ngày cuối tháng để tới tòa soạn của tạp chí Sáng Tạo ở một khu xóm bình dân mà đa số là người Tàu tại góc đường Nguyễn Công Trứ và Ký Con gần chợ Cầu Ông Lãnh, Sàigòn. Mua số mới nhất vừa đọc vừa đi bộ về nhà, quên cả trời đất, mê mẩn thưởng thức những bài nóng hổi, còn thơm mùi giấy mực, băng qua đoạn đường đầy người Tàu cho mướn sách hình trên lề đường… thì Trần Bích Lan đã có những bài viết về văn học trong những số đầu của tờ nguyệt San rất được bạn bè cùng lứa chúng tôi ưa thích.
(more…)

Nguyễn Văn Sâm


Nhà văn Elena Pucillo Truong

Những cây bút nữ bất kỳ là ai, có danh hay chưa tạo được chỗ đứng trong văn học của nước mình, theo tôi đều là những cây bút đặc biệt. Họ có những cái nhìn khác với người viết thuộc tính phái khác. Sâu sắc về mặt tình cảm, nhẹ nhàng trong câu văn, lắm khi có những nhận xét tế nhị bất ngờ làm ngạc nhiên người đọc.

Nhà văn nam, kể cả người nghiêng nhiều về mặt thi ca, có khuynh hướng bộc lộ nhiều về mặt lý trí, Phan Khôi trong bài tình già chẳng hạn, trong khi đó người viết nữ, ngay cả những bài phê bình, nhận định văn học, ta cũng thấy chan chứa nhiều điều tình cảm. Ba bài nhận định của ba người phê bình nữ Nguyễn Thị Thanh Xuân, Nguyễn Thị Tịnh Thy, Cao Thị Hồng trong tập Vàng Trên Biển Đá Đen lấp lánh những tình cảm hơn là các suy luận cần nhiều lý trí, nhức đầu.  Đó là cái điều trời cho riêng phái nữ chăng? Cái phong tư trời xếp đặt để nam phái có  điều để so bì ganh tỵ chăng?
(more…)

Nguyễn Văn Sâm
(Bài nói chuyện của tác giả tại Montréal ngày 17 June 2018)

Cách đây gần 60 năm, khi còn theo học bậc Tiểu Học ở trường Trương Minh Ký[1] Sàigòn, tôi đã mê loại truyện thơ bình dân Miền Nam của mấy nhà xuất bản Phạm Văn Thình[2], Phạm Đình Khương và Thuận Hòa ở Chợ Lớn. Đặc biệt về hình thức, mỗi truyện của loại nầy người viết và nhà in xếp đặt sao cho đầy 16 trang. Về hình thức, trang bìa, giấy màu, có hình khắc ván thường kèm theo hai câu lục bát, trang cuối ghi lại tất cả những quyển cùng loại đã xuất bản. Bên trong sự trình bày cũng độc chiêu, mỗi hàng in câu lục và câu bát kế tiếp nhau chớ không xuống hàng giữa câu lục và câu bát như ngày nay. Quán nhỏ của người cô tôi sinh sống và nuôi hai anh em tôi ăn học nằm ở góc nhỏ của Chợ Cầu Ông Lãnh là đường Boresse và đường Quai de Belgique, lúc đó bán tạp hóa, tạp hóa có nghĩa bán nhiều thứ không dính dáng gì với nhau, từ xà-bông Cô Ba, bri-dăn-tin ba số 5 tới tiểu thuyết hay va-li, túi xách, xi-ra Kiwi, mực viên Ara, thuốc tẩy Toàn Trắng, kem đánh răng Gibbs, Kol, phấn trắng  đánh nón đánh giàyEverblanc, dây giày, sữa Con Chim…. Truyện thơ bình dân nói trên và truyện Tàu của nhà in Trí Đức Thư Xã ở đường Sabourin là những món hàng bán chạy, tuy không lời nhiều, nhưng được nhiều người mua. Khách hàng tất cả đều là người lao động ở gần đó hay dân quê miệt vườn theo ghe chài lên Sàigòn bán tam tứ thập vật, có thể là cá, khô, lu, hủ hay mía, thơm, dừa; có thể là bàn ghế, chiếu lát hay cát dùng để trộn hồ, hoặc nước uống[3]. Họ ghé lại mua một vài cuốn truyện cho mình hay mua giùm lối xóm vì đâu phải ai cũng rảnh rang mà cơm ghe bè bạn lên được Sàigòn? Nhiều ông già bà cả tới quán cô tôi, cố gắng nhớ lại được cái tựa mà không biết lựa sách vì không biết chữ, thằng nhỏ mười tuổi là tôi phải lựa giùm. Và tôi đọc hết tất cả mấy chục quyển thơ ấy với mấy chục bộ truyện Tàu dầy cui của nhà Tín Đức Thư Xã đương một mình một chợ lúc nầy. Cứ trốn vô góc sạp coi cho cẩn thận, đừng làm rách, rồi thế nào cũng bán được như là sách mới, bởi vì không phải ai ai cũng có thể đi ra Sàigòn, hay vô Chợ lớn vì một cuốn truyện.
(more…)

Nguyễn Văn Sâm

Mưa phất phới buồn. Cái buồn của một địa phương đìu hiu với những căn nhà rải rác xa xa. Bất động mờ mờ trong làn nước mỏng. Trời trong vắt những cơn mưa quái dị cứ rả rít, lê thê. Con đường đất, bao nhiêu ngàn người khổ công nện đắp mấy tháng trước, gặp cơn mưa nhão ra, sình đỏ kẹo sệt dính vô bánh xe đóng một lớp dày dưới vè làm Tuấn còng lưng hơn dưới sức cản. Tôi áy náy vịn tay lên hông Tuấn vấn đề từ lúc xuống xe đò tới giờ như một thắc mắc liên tục trong trí nhỏ nhẹ đề nghị:

“Tuấn này, hay mình tạt vô đâu đó đụt đỡ,”

“Chuyện! Có cơn mưa này mới dễ bán mua.”
(more…)

Nguyễn Văn Sâm

Nhà bếp rộng, sạch. Trên lò, nồi giò heo hầm lửa riu riu phun khói nhè nhẹ, nắp nồi khua động bằng một âm thanh đều đều, xì xọp, vui vui. Trên tường đồng hồ thánh thót đổ một hồi kẻng dài. Dì Tư ngó lên rồi lại cúi xuống tiếp tục từ tốn cắt cắt thái thái mấy miếng thịt lấy ra từ cái oven. Trong góc bếp, nút nồi cơm điện nhảy từ chữ “nấu” sang nút “giữ ấm” nghe cái “cắc” một tiếng dòn tan, Dì lại ngước lên ngó về phía đó. Bực mình. Già cả nên lẩn thẩn, biết trong bụng là không có chuyện gì mà cứ giựt mình, cứ coi đi coi lại cho chắc. Vô ích hết sức. Như là ba cái vụ điện thoại, reng reng trong tivi mà cứ giựt mình lại coi phải ai gọi không, mặc dầu nếu có người hỏi cũng chỉ biết nói “Họ không có ở nhà”, ngay ý muốn hỏi tên để về nói lại cũng ngại ngùng. Dì giở nắp nồi cơm ra coi. Hơi gạo chín tỏa một mùi thơm dễ chịu. Dì nghĩ tới món thịt kho dưa chua đứa con gái ưa thích từ hồi còn nhỏ tới giờ, thỉnh thoảng được ăn vẫn chắc lưỡi hít hà khen ngon liền miệng.
(more…)

Nguyễn Văn Sâm
(Bài nói chuyện nhân buổi ra mắt sách 45 năm sống ở Mỹ: Được Gì, Mất Gì? của GS Lê Thanh Hoàng Dân)

Năm mươi lăm năm trước (1964), Lê Thanh Hoàng Dân và tôi, hai người bạn đồng nghiệp vừa mới bước chưn vào giáo giới, cùng chung lý tưởng viết lách đàng hoàng để giao truyền những kiến thức có ích lợi cho đời, cùng mục tiêu tranh đấu chánh trị (Phong Trào Quốc Gia Cấp Tiến), hầu tạo nên một xã hội tốt đẹp cho Miền Nam Việt Nam. Rồi cả hai đứa, cũng như cả nửa dân tộc phía Nam vĩ tuyến, bị cuốn hút vào ngã rẽ nghiệt ngã sau cơn lốc quốc biến 75. Chúng tôi cách xa nhau từ đó, sau nầy vì định cư ở xa nhau, vì nghề nghiệp khác biệt, mới gặp lại nhau chớp nhoáng 1, 2 lần vài năm trở lại đây.
(more…)

Nguyễn Văn Sâm


GS Trần Ngọc Ninh

Chúa nhựt 1 tháng Bảy 2018 tôi nghĩ mình đã làm một việc hữu ích cho mình khi tham dự buổi thuyết trình của Giáo sư Trần Ngọc Ninh, cố vấn của Viện Việt-Học, CA về Ngữ học.

Giáo sư Ninh trước quốc nạn 1975 là GS môn giải phẫu tại trường Đại Học Y Khoa Sàigòn và là nhà văn hóa có những sách viết về đạo Phật, Đức Phật giữa chúng ta (Lá Bối, Sg, 1972), về cấu trúc của tiếng Việt, Cơ cấu Việt ngữ (Lửa Thiêng, Sg, 1972, 1975) theo cái nhìn mới mẻ về hai vấn đề này mà nay gần nửa thế kỷ sau chưa thấy có quyển sách nào cùng loại vượt được.
(more…)

Nguyễn Văn Sâm

Chút đăng đắng trong cuộc sống
cũng là chút hương vị đời. (NVS)

1.
Thằng Chà hí hửng cầm hai cuốn truyện Tàu bước qua ngạch cửa khi trời vừa hừng sáng. Bữa nay chúa nhựt ba nó ở nhà nhưng đã cho phép nó đi đổi truyện. Ngày thường ông đạp xe máy ra Trà quít làm việc tối mịt mới về, lợi dụng giờ giấc nó tự ý đi không cần phép tắc, nhưng khi ông ở nhà thì phải hỏi phải thưa.  Nó bước nhè nhẹ ngang qua chuồng gà tính mở cửa ngỏ thì con Ô nhảy ra chuồng hồi nào không biết lật đật chạy theo quấn quít bên chưn.  Con Ô thân thiện thiệt tình nhưng sáng nay sự thân thiện đó không làm cho thằng Chà khoái chí chút nào. Hai cuốn truyện Tàu được đưa ra quơ quơ làm  võ khí nhưng con Ô chỉ cần né đầu là tránh được dễ dàng rồi cứ lẩn quẩn theo cản chưn trở cẳng. Thằng Chà tức khí đứng lại tính ăn thua đủ thì con Ô cũng khựng lại, ngóng cao cổ đập cánh phành phạch rồi cất tiếng gáy. Không khí đương yên tĩnh bỗng sôi động lên, đàn gà mái nhao nhao vừa cục tác vừa gục gặc đầu đủng đỉnh đi tới đi lui trong chuồng hay chõ mỏ qua khe rào kêu réo. Thằng Chà thừa cơ hội, lận hai cuốn truyện vô bụng,  kéo áo phủ xuống, cuốn nào cũng đã được chủ nhơn đóng bằng giấy dầu nên nó không sợ mồ hôi làm ướt.  Mau chưn nó phóng ra ngoài. Con Ô sau một giây ngơ ngác, chạy đuổi theo chủ chừng 5, 7 thước thì bỏ cuộc, quay vô bay đậu lên hàng rào chuồng chừng một vài phút rồi nhảy xuống hăm hở rượt đuổi bầy thê thiếp, không còn tha thiết gì tới chủ nữa.
(more…)

Nguyễn Văn Sâm

Sau một vòng dạo đường sách, con đường nay được coi như bộ mặt văn hóa của thủ đô Sàigon, với nam thanh nữ tú, với du khách thanh lịch, với người có nhiều ái lực với văn chương… chúng tôi vào quán cà phê ngồi vừa nói chuyện về những quyển sách xưa nay mà cả hai cùng thích vừa ngắm hoạt cảnh sau cửa kiếng. Người chơi sách trẻ đi cùng chợt hỏi giọng rụt rè ‘Bác có quen với nữ văn sĩ Nguyễn thị Hoàng không, cháu nghĩ là cô Hoàng đồng thời với bác’.
(more…)

Nguyễn Văn Sâm

Làm thơ đã nhiều ở Việt Nam, Luân Hoán qua tập thơ đầu tiên ở hải ngoại, sau hơn một năm thoát khỏi thiên đường Đỏ, đã ghi lại những sự kiện, trạng huống, thảm cảnh, cái cười ra nước mắt, niềm phẩn uất, sự tạm chấp nhận chờ thời… của những người kẹt vướng trong vòng lao lý thênh thang nơi quê nhà.

Là chứng nhân nói lên điều mắt thấy, bằng thơ, là người tố cáo tội trạng kẻ bôi đen đời sống dân tộc, bằng ngôn ngữ. Ông, người chép những sự kiện từ hai phiá: cầm quyền tham lam ngu muội và người dân chấp nhận oằn mình lại như con sâu để tự tồn. Mỗi hành vi, mỗi thái độ đều không qua khỏi mắt nhà thơ. Từ điều nhỏ nhặt xảy ra, đến điều lớn lao, biến chuyển trong tâm hồn con người. Phải có một cảm xúc mảnh liệt, phải có một cặp mắt quan sát tinh vi, Luân Hoán mới có được tập thơ, mà điều nói đến trải dài như vậy.
(more…)

Nguyễn Văn Sâm
Vỉết cho người anh mà tôi quý mến: Nguyễn văn Trường


Giáo sư Nguyễn Văn Trường (1930-2018)

Anh bỏ trái đất ra đi sau một đời làm văn hóa.
Thương mến học trò, sống đời vị tha
Giữ phương châm căn bản:
Không đánh mất nhân phẩm, bản sắc con người
Trên bục giảng cũng như trong cuộc đời
Anh cung cấp cho lớp đàn em hành trang Tiết Tháo
Để tiếp nối chuỗi dài: nghề nghiệp thanh cao
Sống mòn bằng cách đem phổi mình ra nấu cháo.
Giữa dòng đời lao xao, anh vững bước thong dong
(more…)

Nguyễn Văn Sâm
Tặng Võ Kỳ Điền

Sáng sớm tàu qua khỏi chòi đáy cửa Ba Động hướng về phía đông. Cả ngày lênh đênh trên biểm nhắm hướng mặt trời. Biển láng trơn như tờ giấy trải trên bàn. Lấp lánh ánh nắng càng lúc càng diụ lần, rọi một lằn đỏ lợt lăn tăn chạy song song với con tàu, xuất phát ra từ mặt trời vàng ối núp nửa mình dưới đường giao tiếp giữa không gian và mặt nước. Ngoài xa kia minh mông một màu xanh lờ lợ đẹp vô song. Thỉnh thoảng từng đàn cá nhám lội đua, phô bày những cái lưng gù, cong quá độ. Ngó chúng phóng nhảy bơi đua, cả bọn ai nấy đều không nháy mắt, tưởng chừng như nắm bắt được sự thành thơi của đàn cá mà dân đất liền không dễ gì có dịp thưởng thức. Tiếng máy tàu xình xịch trầm trầm vẫn hồn nhiên phát ra âm thanh cố hữu của mấy ngày ru đoàn người vô giấc ngủ dật dờ.
(more…)

Nguyễn Văn Sâm

Trong một tập sách Nôm mỏng sưu tầm được ở Miền Tây mà chúng tôi cho là được viết vào những năm cuối của thế kỷ 19 có bài văn tựa đề là Giác Mê Phú. Bài văn có tư tưởng Phật giáo hiểu theo cách của người bình dân, nhấn mạnh trên sự tu tâm để thành chánh quả và ăn ngay ở thẳng theo giáo lý của đạo Nho. Sự phối hợp nầy tạo nên những ngành nhỏ của Phật giáo địa phương như Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa ban đầu và Phật Giáo Hòa Hảo sau nầy như ta đã biết. Xin được giới thiệu bài văn chưa bao giờ được nhắc đến trong sách vỡ quốc ngữ từ trước đến giờ.
(more…)

Nguyễn Văn Sâm


GS Lê Hữu Mục (1925-2017)

Anh Mục lớn hơn tôi quá một con giáp. Khoảng cách đó, với số tuổi của chúng tôi ngày nay, không quan trọng lắm, nhưng ngày xưa lúc tôi mới bắt đầu học Tú Tài I (1957-58) thì là vấn đề lớn. Tôi nhìn anh còn hơn cả bậc thầy mình. Anh lúc đó đã có giảng khoa ở Đại Học Huế, đã có sách về Nhất Linh, về Tự Lực Văn Đoàn rất có giá trị mà chính tôi đã nghiền ngẫm để đi thi. Khi tôi mới bước vào ngưỡng cửa của trường Đại Học Văn Khoa thì anh Mục đã có những công trình làm ngẩn ngơ người đọc là bản dịch rất nhuần nhuyễn hai quyển truyện ký viết bằng chữ Hán của người xưa là  Lĩnh Nam Chích QuáiViệt Điện U Linh Tập. Hai tập truyện xưa này anh dịch đã rất tài tình, chính xác và rõ ràng lại thêm tài hoa trong cách hành văn. Phần quan trọng bậc nhất là phần dẫn nhập ở đầu sách, giới thiệu toàn bộ nội dung để người đọc nắm bắt được những gì tác giả muốn chuyển giao cho người đọc. Tôi rất khâm phục hai công trình sáng giá này của anh.
(more…)

Nguyễn Văn Sâm

1.
Sáng nay là tới ngày hẹn, tuần trước Tuấn hứa sáng sẽ ghé nhà thăm ba má tôi và ra mắt Ông Ngoại. Tôi thẹn thùng lí nhí báo tin với má, bà cười hiền không nói gì nhưng từ hai ba bữa trước đã đi chợ hơi sang, thoáng lắm. Tôi biết tánh má, đã sỡi lỡi mà lại cứ sợ người ta chê cười mình bỏn xẻn, không biết cách tiếp khách. Tuấn nói úp úp mở mở là sẽ có món quà cho tôi và cả gia đình. Tôi không trông quà, tôi biết ý nghĩa của thành ngữ há miệng mắc quai nên từ trước tới giờ từ chối tất tần tật mọi biếu xén nầy quà nọ của bất kỳ anh chàng nào. Tôi trông chờ từng phút vì ngại Tuấn mất điểm với các trưởng thượng trong nhà. Thành kiến ban đầu dễ để lại ấn tượng, tôi muốn ai tới nhà nầy cũng đều được ấn tượng tốt trước tiên. Đó là lẽ công bình.

Thế mà! Anh cứ hẹn nhưng anh đừng đến nhé, để lòng buồn em dạo khắp quanh sân. (Hồ Dzếnh).
(more…)

Nguyễn Văn Sâm

Hai hôm trước tin thầy Trần Thượng Thủ ra đi ở tuổi 89 ở Houston. Con số phải nói là thọ, nhưng sao tôi thấy buồn buồn, mình phải viết gì đó mà mình biết về Thầy. …

Tôi không được hân hạnh học với Thầy Thủ trong ba năm học ở trường Petrus Ký (các lớp G từ 1954 tới 1957), vậy mà ấn tượng tuổi thời mới vào Trung học của tôi về thầy Thủ thiệt là sâu đậm. Nguyên nhân là ông anh tôi, anh Nguyễn Văn Thơm, vào trường trước tôi một năm (các lớp C từ 1953 tới 1957), có môn Lý Hóa với Thầy Thủ ở lớp Đệ Thất, đêm nào anh cũng học bài thiệt khuya. Anh học những môn chánh nhưng về môn Lý Hóa anh ‘tụng’ tới không còn mở mắt nữa được mới thôi, anh nói môn nầy lạ và khó hiểu mà thầy dạy lại rất khác thường. Anh nhắc tới cái tên đặt biệt bắt đầu bằng ba chữ T mà anh nói thầy gọi là T tam thừa hay Tam Tê với giọng nói kèm theo chút gì sờ sợ: ‘cả trường học sinh nào nếu đã hay đang học với thầy đều cũng sợ.’
(more…)

Nguyễn Văn Sâm


Quốc trưởng Phan Khắc Sửu (1905-1970)

Cụ Sửu’ là tiếng thân kính toàn thể 116/117 dân biểu Quốc Hội Lập Hiến (Sàigòn, 1966-1967) gọi cụ Phan Khắc Sửu, những đồng viện trẻ thì không nói làm gì, cả những đồng viện ngang tuổi cụ như DB Huỳnh Thành Vị, đơn vị Sàigòn hay DB Huỳnh Bình Yên đơn vị Vũng Tàu hoặc DB Nguyễn Văn Tho của đơn vị Cần Thơ hay DB Nguyễn Bá Lương đơn vị Phước Long cũng vậy. Tiếng gọi thân kính nầy tôi cũng nghe từ những người bạn tranh đấu với cụ Sửu như DB Trần Văn Văn đơn vị Sàigòn, DB Phan Quang Đán đơn vị Gia Định hay những người có thành tích cách mạng ở miền Trung như DB Trần Điền đơn vị Thừa thiên, DB Phan Thiệp đơn vị Quảng Nam (Ngãi ?)…

Sự thân kính đến từ đâu vậy? Không phải chỉ vì cụ lớn tuổi, không phải vì cụ thân thiện với những đồng viện mà căn bản là vì sự kiên cường trong quá khứ khi tranh đấu với thế lực ngoại bang (thực dân Pháp) hay đối đầu với những người theo phương cách cai trị mà theo cụ sẽ đưa nước nhà đến chỗ tồi tệ, nguy hại. Vì vậy khi cụ bị thực dân Pháp giam ở Khám Lớn trước 1945, mỗi ngày họ dẫn tù đi ngang qua một văn phòng có treo cờ tam tài họ bắt toàn thể tù nghiêm chỉnh cúi đầu chào thì Cụ Sửu phản đối sự kiện nầy và hình như mỗi ngày cụ ‘đều ăn một vài ba-trắc lên đầu, khiến cho đầu tôi u nần không bao giờ lặn’. Cụ Sửu kể lại chuyện nầy với nụ cười hiền nhưng đầy vẻ ngao ngán khi nói chuyện thân tình với các DB trẻ.
(more…)

Nguyễn Văn Sâm


Nguyễn Trãi (1380-1442)

Ai cũng biết bài thơ gọi là ‘Ghẹo Thị Lộ’ tương truyền là của Nguyễn Trãi:

Ả ở đâu bán chiếu gon,
Hỏi xem chiếu ấy hết hay còn?
Xuân thu nay được bao nhiêu tuổi
Đã có chồng chưa được mấy con?

Và bài thơ trả lời tương truyền là của thiếu nữ Thị Lộ:

Em ở Hồ Tây bán chiếu gon,
Việc chi ông hỏi hết hay còn,
Xuân thu nay được trăng tròn lẻ,
Chồng còn chưa có, có chi con!
(more…)

Nguyễn Văn Sâm

Quyển Chuyện Đời Xưa của Trương Vĩnh Ký là quyển sách bán chạy nhứt và đi vào lòng dân chúng nhiều nhứt trong số hàng trăm tác phẩm của nhà văn nầy. In tới lui nhiều lần, năm 1914 đã in tới ngàn thứ chín trong một quốc gia lúc đó dân số chưa đầy 15 triệu với đường xá lưu thông không thuận tiện, sách báo in ở Sàigòn lưu hành ra Trung và Bắc không phải là chuyện sanh lợi. Những lần in không đề tái bản lần thứ mấy và in với số lượng bao nhiêu thì phải nói là cơ man. Khi chữ quốc ngữ phát triển đã vững vàng thì quyển sách nầy lại là món hàng được các nhà xuất bản ưa chuộng.

Tại sao quyển truyện khổ nhỏ mỏng chưa tới 100 trang nội dung thì chẳng có gì gọi là hấp dẫn lại có sức thu hút như vậy?
(more…)

Nguyễn Văn Sâm


Nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh (1930-2017)

Nhiều lần khách ghé vô địa chỉ thâm tình đó, nơi có ngôi nhà ấm cúng trên một con đường gần khu đô hội Bolsa nhưng khuất sau một ngõ cụt như lánh mình khỏi đám đông thế tục. Chủ nhơn, một người to lớn, có giọng nói vui vẻ, sau khi mời khách vào, đóng cửa lại, giới thiệu khách với vợ, quay về ngồi sau bàn viết xong xuôi mới bắt đầu câu chuyện. Phu nhân ông, nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh nhỏ thó thu gọn người trong cái ghế bành rộng thinh thường mỉm cười thân thiện, bắt tay khách. Khách nam thì là câu thường nghe: Lúc này khỏe không. Khách nữ là câu: Đẹp quá, đẹp quá! Chào xong, chị vẫn giữ nguyên nụ cười trẻ con cố hữu, hai tay xoa xoa nhau, chờ đợi khách nói, nói gì thì chị cũng chỉ mỉm cười, không bao giờ góp ý. Người văn sĩ lừng danh một thời bây giờ như thế đó, có mặt nhưng đứng ngoài cuộc đời, tiếp xúc nhưng xa cách với nhân gian. Thân tình trong nụ cười, trong ánh mắt, trong cái bắt tay, dầu thường là nhẹ và mềm, nhưng khách không dám quyết chắc chị nhớ mình là ai.
(more…)

Nguyễn Văn Sâm

1.
Nhiều xe Cảnh Sát Dã Chiến phóng mau tới hiện trường. Họ lục đục xuống, bắc loa kêu gọi ‘Xin anh em hãy giải tán! Xin anh em hãy giải tán…’. Một số tham dự biểu tình lật đật chạy vô đứng lẫn lộn với bạn hàng trong chợ. Vài ba thanh niên cuốn vội những tấm biểu ngữ nhét vô chỗ nào đó khuất khuất rồi trở lại nhập vô đám đông đứng dưới những tấm biểu ngữ còn chưa nghiêng ngửa. Nhóm người nầy mỗi lúc một đông, toàn là thanh niên thiếu nữ trong tuổi đôi mươi, áo quần tươm tất, sơ-mi bỏ vô quần, áo dài thướt tha, giơ tay cao la hét những khẩu hiệu cáo buộc người cầm quyền đã được viết trên biểu ngữ. Họ có xao động đôi chút khi nhân viên công lực tiến tới gần. Hai bên đứng chỉ cách nhau chừng 2 thước, bên nầy hô to khẩu hiệu bên kia kêu gọi giải tán. Những chiếc dùi cui có đưa ra nhưng với mục đích hổ trợ vài ba người muốn rời khỏi tay níu kéo của đồng bọn hơn là đánh đập hay cố ý bắt hốt. Tiếng loa phóng thanh kêu gọi ồn ào hơn. Đoàn biểu tình lần lần bị tách rời với những người hiếu kỳ. Họ, lực lượng áo trắng, tay không, lúc nầy còn không có bao nhiêu, dầu vậy tiếng la hét đả đảo, kể tội Tổng Thống tham nhũng vẫn còn vang vội, và những tấm biểu ngữ còn lại vẫn hiên ngang đứng vững.
(more…)

Nguyễn Văn Sâm

Sau cơn mưa, đường ngập linh láng như biển. Chiếc xe 14 chỗ ngồi của chúng tôi vừa lội vừa thở phì phò, xém tắt thở nhiều lần mới thoát được vùng ‘biển hồ’ Minh Phụng để quẹo vô đường 3 Tháng Hai. Khúc nầy tương đối ít ngập, chỉ tới nửa bánh, xe cộ vì vậy cũng nhiều hơn. Nước không còn tạt vũ bão ra hai bên hông như trước mà phóng ra với vẽ hiền thục dễ thương. Sau thời gian đụt mưa thiên hạ gấp về, nhiều anh vọt lẹ, lắm khi xẹt qua đầu xe lớn đương ngon trớn mà coi như không, khiến anh tài xế lâu lâu lại chắc lưỡi lắc đầu.

Bỗng nhiên có tiếng thắng mạnh. Mọi người bị giựt ngược, tỉnh ngủ. Tài xế mím môi, la lớn:

‘Khiến!’

Rồi anh xuống giọng như nói với mình:

‘Không mau chưn mau cẳng thì bà hú nó rồi!’

Hành khách trong xe nhớn nhác ngó nhau. Hai ba người đàn bà đưa tay vuốt ngực.
(more…)

Nguyễn Văn Sâm

Đã hơn nửa thế kỷ trôi qua kể từ ngày Hòa Thượng Thích Quảng Đức tự thiêu. Ý nghĩa của hành động bi hùng nầy có nhiều nhưng ngay lúc đó không ngoài việc Ngài đã dùng chính thân xác mình để đốt đuốc soi đường cho những ai dính dáng xa gần đến cuộc đàn áp và tranh đấu của Phật giáo dưới thời Tổng Thống VNCH, Ngô Đình Diệm. Hơn 50 năm qua, thời gian đủ để chúng ta bình tâm nhìn lại sự kiện lịch sử nầy không phải như một kỷ niệm đau buồn, hay bi hùng, cũng không phải như một kiến thức lịch sử cần phải biết mà là để rút ra bài học cho những bước tiến tương lai của dân tộc và cho chính mỗi con người nhỏ bé chúng ta trong cõi ta bà mê muội này.
(more…)

Nguyễn Văn Sâm

Thơ anh báo tin Mẹ từ trần,
ẩn trong đó muôn ngàn đau đớn với long lanh lệ ngấn,
muôn nỗi héo don.
tình nào hơn Mẹ thương con?
lòng nào đau hơn con mất Mẹ?
anh không được quì bên quan tài,
lạy Người Xẻ Thịt Banh Da nuôi anh nên hình nên vóc,
anh không được đi sau linh cửu,
khóc tiễn đưa vào đất lạnh,
Đấng Sanh Thành nặng nhọc vì con.
anh không được đứng nhìn thi thể Mẹ
mõi mòn thân cò lặn lội bờ ao.
anh ở đây trắng đêm nhìn những ánh sao
đón từng bức thơ nói Mẹ bịnh thuyên bịnh giảm,
chờ mọi tin tức báo Mẹ lúc tỉnh lúc mê
bồi hồi
cắt dạ
(more…)