Archive for the ‘Nguyễn Văn Sâm’ Category

Nguyễn Văn Sâm

1.
‘Ngày mai em lên thành phố làm phụ bếp cho tiệm ăn của dì Sáu. Anh ở đây đừng lộn xộn với cô nào nha. Họ ỏng ẹo, trêu ngươi quá làm em sợ.’

‘Đừng sợ! Anh hứa.’

‘Mấy con nhỏ đú đởn trong cái quán cà phê võng kia phải tránh xa nha.’

‘Ừ! Tánh xa!’

‘Tránh xa suốt đời nha. Họ ma quái lắm, vướng vô là chết đó.’

‘Hứa là tánh xa tới chết.’
(more…)

Nguyễn Văn Sâm

Người đàn bà trẻ để nhẹ cái thau đồ giặt xuống kế bên miệng giếng rồi đặt đứa con nhỏ nảy giờ chị xốc nách đứng hơi xa xa một chút. Chị vừa kéo nước vừa ngó chừng con bé. Giặt quần áo dơ của con mà chị nhăn nhăn mũi kiểu tiểu thơ nhà giàu phải săn sóc con so khi chưa quen cực khổ. Đứa nhỏ lẩn quẩn bên mẹ. Con bé chừng 4 tuổi kháu khỉnh, mặt mày rất dễ thương. Thằng Tín nằm dựa lưng vô gốc mít nghỉ trưa tránh nắng thấy hết cảnh tượng. Nó đưa hai ngón tay búng ‘tróc tróc’ con bé để hai đứa cùng cười.  Rồi nó thiu thiu ngủ gà ngủ gật khi một vài cơn gió mát thổi qua.

Trong mơ màng nó cảm giác như ai đó bỏ gàu kéo nước mà nhấp cái gàu gần đầy xuống mặt nước quá mạnh. Nó vẫn chập chờn giửa mê và tỉnh của cơn nắng trưa chói chang muốn làm nổ màn tang người. Rồi nó tỉnh giấc hẵn hòi, mắt ráo hoảnh khi nghe tiếng khóc kể của người đàn bà trẻ. Không cần suy nghĩ nhiều nó cũng biết chuyện gì đã xảy ra. Buổi trưa nắng nóng, quanh giếng không có bao nhiêu người, chắc nịch là chẳng ai có thể giúp gì cho chị ta: vợ chồng ông thầy giác lể thì khỏi nói, yếu nhớt như sên, ba bà cụ quá già người Bắc di cư, mới tới Xóm Giếng không được bao lâu.
(more…)

Nguyễn Văn Sâm


Nhà văn Túy Hồng (1938-2020)

Người sinh viên so se tập truyện
Thở Dài! Thở Dài! Thở Dài!
Những lê thê con gái thời gian vào đời,
Mấy bâng khuâng mệt mỏi trước mắt Vua chúa đất thần kinh.
Lề lối bó rọ bao năm chưa bỏ xuống.
Sông Hương, núi Ngự, cung thành buồn tẻ tháng ngày.
Nhúm rau muống chẻ, những gánh hàng đặc biệt Bún Bò của Huế trầm tư,
Vài mươi o già bán hàng gánh mặc áo dài trang nhã trong nghèo khó.
Vui với ly chè kho.
Thoải mái qua phà Đập Đá,
Nhìn lên xóm Vỹ Dạ
Thấy mình bao bọc bởi khung trời giam hãm thế kỷ vừa qua.
(more…)

Nguyễn Văn Sâm

Để làm tròn nhiệm vụ lịch sử của giai đoạn thi ca cũng như tản văn ở miền Nam khoảng 1945-1950 đã bắt đầu cựa mình, lớn mạnh và hình thành một khuynh hướng rõ rệt: tranh đấu. Khuynh hướng nầy mới mẻ đối với nền văn chương cận đại miền Bắc, nhưng đối với quá khứ văn nghệ miền Nam, thì thiệt là quá cũ. Khuynh hướng tranh đấu đã bộc phát từ giữa thế kỷ XIX với những nhà thơ tiền phong miền Nam như Nguyễn Đình Chiểu, Huỳnh Mẫn Đạt, Nguyễn Thần Hiến, Phan Văn Trị, Bùi Hữu Nghĩa, Thủ Khoa Huân…

Những nhà thơ miền Nam, giai đoạn 45-50, chỉ đi theo một con đường đã được cha anh vạch sẵn, cùng cố gắng hoàn thành một công trình lịch sử dở dang.

Nói tóm, thi ca tranh đấu miền Nam, có một sắc thái đặc biệt, không phải bộc phát một cách tự nhiên, không phải thừa hưởng di sản tinh thần của nền văn chương cổ điển mà Hà nội được coi như trung tâm sinh hoạt văn nghệ dân tộc mà là tiếp nối một truyền thống đối kháng kiêu hùng đã khai mào tại miền Nam nầy từ giữa thế kỷ XIX.
(more…)

Nguyễn Văn Sâm


Nhà văn Nguyễn Mạnh An Dân (1945-2019)

Mồng 5 Tết Canh Tý 2020, một người bạn viết lách bên Houston điện thoại qua nói đương tụ họp bạn bè làm lễ trăm ngày cho Nguyễn Mạnh An Dân. Lạ quá, như một thần giao cách cảm, lúc đó cái tựa bài mới vừa được đánh máy xong trên computer, người viết đương nhẫm trong trí coi mình sẽ viết gì về bạn văn nầy. Không có đầy đủ tác phẩm của anh, nghĩ rồi lúc nào đó cũng sẽ thủ đắc được thôi nên chỉ mới làng nhàng viết được mấy dòng, còn đương tìm ý. Lời báo tin khiến tôi hăn hái hơn trong việc hoàn thành dự định viết về một người thơ mới mất. Những đóng góp văn chương trước đó của anh rất có ý nghĩa, nói gì về anh cũng là đem về sự công bình cần thiết cho người sanh ra đã lỡ cầm trong tay lá bài xấu.
(more…)

Nguyễn Văn Sâm


Hoa lục bình
dinhcuong

Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai.
(Tản Đà, dịch Hoàng Hạc Lâu)

Ngày cuối tuần nào cũng như ngày hội, đường phố khu thủ đô tỵ nạn nầy đông khách lạ lùng. Thiên hạ các vùng chung quanh đổ xô đến, thi đua cùng với du khách từ những tiểu bang khác về. Nam thanh nữ tú thướt tha. Áo quần màu mè đủ vẻ đủ dáng. Những tiếng cười dòn tan yêu đời khắp chốn. Quán ăn được mọi người chiếu cố tận tình. Tiếng ồn ào đầy ngập buổi làm tạo nên một âm giai đinh tai điếc óc Chuyên. Nhiều khi vừa bưng thức ăn ra tiếp đãi khách Chuyên vừa tự hỏi không biết mình có thể tiếp tục công việc một vài tháng nữa hay không. Chẳng nặng nề cực nhọc gì, tiền típ lại khá, nhưng sao như có vẻ gì đè nặng tâm tư. Nhìn cử chỉ của tục khách càng thêm chán ngán: ăn uống vung vải, tung tóe, tăm xỉa răng và thức ăn vụn vất đầy trên bàn, giấy lau tay bung thừa, đổ tháo. Lại còn ơi ới kêu gọi mỗi khi thấy bóng dáng nàng bưng thức ăn lên cho bàn khác. Như là những kẻ có quyền, như là những ông chủ bự. Nhiều anh còn cố gằng giương cổ kêu to như sợ thực khách chung quanh không nhận ra tiếng mình trong đám đông ồn ào.
(more…)

Nguyễn Văn Sâm


Nhà văn Phan Tấn Hải

Giới văn học nghệ thuật cũng như giới tu học thường đọc sách về đạo Phật, ít nhứt là ở Mỹ, đều biết một người viết lách rất khiêm cung và thiệt là đặc biệt: đó là nhà thơ Phan Tấn Hải.

Phan Tấn Hải đầu tiên bước vào làng văn bằng thi ca nên người đời gọi anh là thi sĩ. Cái danh vị đó theo anh, dính luôn dầu sau nầy anh viết văn xuôi nhiều hơn, hay những năm gần đây anh cống hiến cho đời nhiều đầu sách về những vấn đề của Phật học, của kinh điển, những vấn đề mà nhiều vị thượng tọa, hòa thượng có nhiều năm tu tập chưa chắc đã thấu hiểu hay trình bày mạch lạc như anh.

Tôi nói anh đặc biệt vì ngoài đời anh nho nhã, khiêm nhượng, đối với ai cũng hết lòng thân thiết, giúp đỡ chân tình nếu có dịp. Trong sách vở anh viết cả chục cuốn sách về đạo Phật mà quyển nào quyển nấy cũng hình thành do sự tham khảo nhiều nguồn sách về vấn đề sẽ trình bày và đều được ký tên một cách khiêm nhường: Nguyên Giác, không có chữ gì trước đó hay sau đó.
(more…)

Nguyễn Văn Sâm

Khánh Trường viết mau và truyện của anh thu hút, mặc dầu anh ở trong tình trạng mà người khác đã bỏ cuộc nhiều thứ từ lâu, kể cả tự lo cho mình. Anh phải lọc thận tuần ba lần và ngồi xe lăn hơn hai chục năm nay. Vậy mà con người ấy từ chối quyết liệt chuyện bỏ cuộc văn nghệ. Anh vẽ bìa cho bạn bè, anh vẽ tranh cho mình, anh viết truyện và lên facebook trao đổi nầy nọ với nhiều người.

Sức sống của anh mãnh liệt để không bị căn bịnh hủy diệt. Anh có mặt với đời sống văn nghệ. Anh đào sâu những ký ức được xây dựng bằng vốn sống gian nan và lầy lội của một nạn nhân, chứng nhân trong một xã hội tan rã do chiến tranh và hậu quả sau cuộc chiến của bên thua trận để tạo nên tác phẩm của mình.
(more…)

Nguyễn Văn Sâm


Hoa lục bình
dinhcuong

Trong đời, tôi thương cậu Bảy tôi nhiều, gần gũi cậu nhiều nhưng cũng chán cuộc đời bỏ cho trôi chìm làng nhàng của cậu. Tôi chịu ảnh hưởng nhiều nơi cậu, có thể nói hầu hết cách đối xử và phản ứng của tôi tạo nên do những cử chỉ học được từ cậu. Cho tới bây giờ đầu đã hai thứ tóc, tôi chưa bao giờ trách mình đã quá gần gũi cậu lúc tâm hồn mình còn như một nắm đất sét ướt thiên hạ chung quanh muốn nặn hình thể gì thì cứ tự tiện. Trái lại với tôi, đó là lúc có ý nghĩa nhứt đời mình, lúc tâm hồn mới vừa tương hình đã được ươm trong vùng đất nhiều mầu mỡ nhân ái và tưới bằng thứ nước năng động, thương yêu… May thay tôi chỉ giống cậu những phần tôi chấp nhận được, phần làng nhàng, phần tình lụy của cậu, tâm hồn tôi không đủ yếu tố lãng mạn đáng yêu mà cũng đáng trách đó…
(more…)

Nguyễn Văn Sâm

Thanh Hoa huyện nổi tiếng hai chàng Trương, Trần chăm học. Thường đóng cửa tạ khách dùi mài kinh sử đến quá nửa đêm hay tới khi trời hừng sáng. Nếu cần tham vấn bậc cao nhân điều chi về học thuật thì dù phải đứng đợi cửa ngoài tuyết rơi ngập chân vẫn chờ. Mùa Xuân năm ấy vua mở khoa thi, cả hai đều danh chiếm bảng vàng. Cờ lộng vinh qui rồi mỗi người một phương trấn nhậm ai lo việc nấy tuy vẫn giao tình bằng hữu qua thư tín.

Sau vài mươi năm cố công ích nước lợi dân, lưu phong vang lừng xa gần đều nghe biết, cả hai về trí sĩ với gia sản khiêm nhường, thậm chí còn thua xa mấy nhà phú hộ vùng quê.
(more…)

Nguyễn Văn Sâm
Tặng bạn Phạm Xuân Hy, Paris.

Mình đi Pháp một tháng mà thời gian ngọa du cũng hơn mười ngày, đó là chưa kể thời gian nghĩ về những quyển sách vừa được thủ đắc từ người quen văn nghệ hay ở một kệ tủ lâu đời của tiệm bán sách cũ.

– Nhà văn Phan Thị Trọng Tuyến tặng bộ sách dầy cộm công phu của nhóm Nghiên Cứu về Đệ Tứ CS: Đời Mình: Lép Trốtski, in năm 1999 tại Hungary, mình từng nghe nhắc tới nhưng chưa bao giờ được thấy. Người dịch là nhà cách mạng lão thành Hoàng Khoa Khôi nay đã quá vãng. Quyển sách khá ích lợi để hiểu về một vấn đề trọng đại của thế giới cả thế kỷ nay. Tương đối khó đọc.

– Ông bán sách Việt độc nhất ở Paris bán giá văn nghệ cuốn Sức Sống Đang Lên của nhóm SVVN ở Pháp chịu ảnh hưởng đỏ, xuất bản năm 1955 ở thủ đô nước nầy, kỷ niệm về người đã chia cắt đất nước, có truyện của anh Phác Văn nào đó viết tưởng tượng về hành vi của Phan Đình Giót người Quân Đội Nhân Dân Anh Dũng lấy mình lấp lỗ châu mai – rồi thiên hạ sau nầy cứ coi như là thiệt nói tới nói lui rồi còn đem ra quảng bá lung tung như một huyền thoại anh hùng để làm gương binh lính.
(more…)

Nguyễn Văn Sâm


Nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ
Tranh: Hoàng Tường

Đầu thập niên sáu mươi, tôi bước chân vào nghề giáo. Dạy giờ. Trường Nguyễn Đình Chiểu Mỹ Tho. Dạy học để có tiền sống đời sinh viên như phần đông đồng cảnh khác. Mỗi tuần hơn chục giờ, thời gian còn lại phải chú tâm vào việc làm luận văn cao học. Nghề giáo môn Việt Văn ai cũng vậy, theo dõi con đường văn học đương thời khá đầy đủ coi như giải trí đồng thời là bổn phận là không được tụt hậu quá đáng về sinh hoạt văn học nước nhà đối với bạn bè và đồng nghiệp. Tác giả nổi tiếng hoặc không, hễ thấy tác phẩm là mua. Đọc hoặc để đó tính sau tùy thời giờ có được. Thường là đọc. Những bài viết trên các tạp chí Văn, Văn Học, Bách Khoa đều sưu tập, đọc, nhiều khi cắm đầu ngấu nghiến trên chuyến xe lô Minh Chánh chạy đường Sàigòn Mỹ Tho.
(more…)

Nguyễn Văn Sâm

Tù cải tạo có nhiều tâm sự, chuyện trong tù kể thì vô vàn, cách thế kể về những ngày đói nhục cũng khác nhau. Nguyễn Văn Thu kể lại bằng thơ mà là thơ chữ Hán. Đặc biệt ở chỗ đó. Người làm thơ chữ Hán ngày nay không nhiều. Ta chỉ biết Trần Văn Lương với những bài thơ rất xúc động, thỉnh thoảng ông phóng ra một bài thì ai cũng nao nao lòng khi thưởng thức vì ông nói về thời thế và tâm tư trước nghịch cảnh của con dân đất Việt. Một người làm thơ chữ Hán khác là nữ sĩ Hạt Cát, thơ rất hay, dầu ít khi phổ biến, ý tưởng thường nghiêng về đường tu dưỡng… Có thể còn có nhiều người khác nữa, nhưng vì hoàn cảnh chúng ta chưa có dịp thưởng thức thơ chữ Hán của họ.
(more…)

Nguyễn Văn Sâm


Tác giả và Em

Cuối năm 1963 tôi được bổ nhiệm về trường trung học Hoàng Diệu Ba Xuyên (Sóc Trăng ngày nay) với tư cách GS dạy giờ vì là dân Đại Học Văn Khoa Sàigòn. Cầm Sự Vụ Lệnh trên tay, leo lên chiếc xe đò cọc cạch chạy hàng mấy trăm cây số về nhiệm sở đầu đời, qua 2 chuyến bắc bờ xa mút mắt… Chiếc xe lôi đạp bỏ tôi xuống con hẻm sau lưng trường, ngôi nhà mái ngói rêu xưa, nơi thằng bạn đang dạy nơi đây ở trọ… Vài ngày ở đây tôi gặp và biết thêm Hưởng Toán, Sơn Lý Hóa, Thiên Nhạc, Thiện Vẽ.. Tất cả đều là những ông Thầy còn trẻ.

Buổi tối theo bạn bè ra Cầu Quay uống cà-phê, ngắm trời đêm. Tỉnh lỵ buồn hiu với những ngọn đèn đỏ quạch dọc theo đường Hai Bà Trưng, nhìn xuống dòng sông nước đục ngầu… Một tuần chờ trường xếp thời khóa biểu, tôi phụ trách vài lớp không đi thi: 2 đệ tam, 2 đệ ngũ.. Đêm nằm nghe tiếng tắc kè kêu não nuột, thêm nãn lòng khi nghĩ đến chặng đường hun hút sắp tới nhữ glúc đi-về. Sàigòn xa lắc xa lơ. Có lẽ lúc đó tôi chưa gặp em. Mà em đang ở đâu vậy? Chắc là đang nhảy dây, búng thun, đánh đủa ở một sân trường tiểu học nào đó trong tỉnh lỵ nầy…
(more…)

Đạt Giả Nguyễn Văn Sâm

Tập sách mỏng nhưng nặng ký Kinh Pháp Cú Tây Tạng do Nguyên Giác dịch và ghi nhận đến với tôi không gây bất ngờ vì Nguyên Giác viết về những vấn đề có tính cách chuyên sâu về Phật giáo cũng đã nhiều. Cuốn nầy là cuốn thứ 9, đó là chưa kể những bài báo liên quan đến vài vấn đề thuộc về kinh kệ Phật giáo rải rác chưa in thành sách.

Kinh Pháp Cú tức là bản gom góp lại những câu ngăn ngắn lời Đức Phật dạy khi ngài còn tại thế. Những đệ tử của Phật sau đó kết tập lại và xếp theo từng loại cho người đời sau dễ học, dễ thấm. Với sự bành trướng của đạo Phật, Kinh Pháp Cú được viết lại, diễn dịch ra nhiều ngôn ngữ mà chúng ta biết nhiều nhất qua:

  1. Chữ Pali, Việt dịch có vài bản, bản quan trọng nhứt do Hòa Thượng Thích Minh Châu, Viện Trưởng Viện Đại Học Vạn Hạnh Sàigòn, trước 1975.
  2. Chữ Hán, Việt dịch có thể tới mấy chục bản dịch, đầy đủ hay không, bản được chú ý nhứt là bản của Thiền Sư Nhất Hạnh, người nổi tiếng là có nhiều ảnh hưởng lên tín đồ Phật giáo Âu Mỹ.
  3. Chữ Sanskrit, chưa có bản Việt dịch trực tiếp hay gián tiếp nào, thiền hữu Nguyên Giác – tôi thích gọi ông là thiền hữu vì ông có một đời sống và sự làm việc về Phật học quá hơn một cư sĩ – dịch gián tiếp qua ba bản Anh Ngữ.

(more…)

Nguyễn Văn Sâm
Để nhớ tuần lễ Lao Động Xã Hội ở Củ Chi, 1976 – Riêng nhớ về hương hồn bạn Trần Quang Huy.

Tối nay Thanh khó ngủ kỳ cục. Anh trằn trọc đến hơn nửa khuya trên tấm nylon giờ đây đã rin rít mồ hôi. Bực mình, Thanh ngồi dậy lấy miếng lá chuối khô lau những chỗ ướt rồi nằm xuống, cố vỗ giấc. Tại sao đêm nay mình như thấy có gì bức rức? Mỗi đêm hễ ngã lưng xuống là vùi giấc vì ban ngày quá cực nhọc. Không phải Thanh luôn luôn ngủ theo tiếng kẻng. Nhiều đêm anh nằm mắt mở trao tráo để sáng thức dậy đầu như búa bổ, mắt cay xè, chân đứng muốn không vững. Nhưng những bữa đó đều có lý do. Hoặc quá đói, hoặc quá buồn bã, tức giận vì ban ngày chứng kiến nhưng chuyện não lòng.
(more…)

Khuyết Danh
Nguyễn Văn Sâm phiên âm và giới thiệu lần đầu tiên

Trong cuốn Vè Nam Bộ của Huỳnh Ngọc Trảng có 4 bài  (các trang 379-389) Vè Bão lụt năm Giáp Thìn do ông Trảng nghe được từ những người dân sống trong vùng quê khác nhau đọc cho, nghĩa là truyền miệngmới được khám phá gần đây thôi. Chỉ riêng bài nầy là chúng tôi  có bản Nôm xưa, rất nhiều xác suất là được viết bởi người sống gần với thời gian sự kiện bão lụt xảy ra. Tài liệu gồm 8 trang chữ Nôm viết tay, khổ lớn, tất cả có 226 câu lục bát nói về hai đề tài  gần như khác biệt:

(1) Giặc Tây tới Việt Nam và những gì họ làm sau đó.

(2) Chuyện bão lụt năm Giáp Thìn 1904.
(more…)

Khuyết Danh
Nguyễn Văn Sâm phiên âm và giới thiệu

Cách nay gần mười năm (2010) một người sưu tập tác phẩm Nôm kỳ cựu ở Sàigòn có nhường tôi vài quyển sách Nôm viết tay, trong đó có một quyển mỏng gồm 10 trang, hình như là phần còn lại của một quyển lớn hơn đã bị hư rách (?). Mười trang nầy thì hai trang cuối không quan trọng vì là những bài thơ không có gì đặc biệt. Riêng 8 trang đầu rất đáng chú ý, đó là 226 câu lục bát nói về hai đề tài gần như khác biệt:

(1) Giặc Tây tới Sơn Chà năm Đinh Tỵ (1857) và những gì họ làm sau đó trên vùng đất Nam Kỳ vừa chiếm đóng. Phần nầy người sáng tác đã nói tốt về giặc Tây hơn là nói xấu. Chuyện nầy cũng dễ hiểu: Mới tới đất lạ, chưa biết mô tê gì lại thấy có nhiều điều cần cải tiến nên họ đã cải tiến và tạo nên sự choáng ngộp, kính phục dưới mắt người dân bản địa.

(2) Chuyện bão lụt năm Giáp Thìn 1904. sự kiện đặc biệt nầy được mô tả khá tỷ mỹ nhứt là những chuyện chết chóc tang thương xảy ra cùng là những đóng góp của thân hào nhân sĩ thời đó.

Tôi coi tác phẩm nầy là phần văn chương khuyết danh của văn học Miền Nam, một phần không thể bỏ qua khi nghiên cứu văn học, văn hóa Miền Nam Kỳ Lục Tỉnh. Bài nầy giới thiệu phần 1. Tôi tạm gọi là: Vè Tây tới, tác giả Khuyết Danh.
(more…)

Nguyễn Văn Sâm

Trên mạng bỗng nhiên thiên hạ bàn ngang tán dọc về chữ Bậu chữ Qua, thôi thì mình cũng bàn qua chơi theo thiển ý.

Chữ Bậu: Tự điển Nguồn Gốc Tiếng Việt của BS Nguyễn Hy Vọng cho biết Người Nùng có tiếng bậu nghĩa là em, dùng trong cách nói thân mật. Người Thái có tiếng phậu cũng theo nghĩa tương tợ.

Tại sao người VN ở Miền Bắc không có tiếng bậu thân thương như ở Miền Nam?

Có lẽ tiếng phậu của Thái vào ngôn ngữ của người Nùng rồi đứng đó không ảnh hưởng lên ngôn ngữ Viêt Nam. Còn tiếng Phậu theo người Miên, theo quân Xiêm La vào Miền Nam tạo thành tiếng bậu trong Nam Kỳ.
(more…)

Nguyễn Văn Sâm

Một tác phẩm có giá trị khi nó được nhiều người nói tới, bàn luận, kể cả tranh cãi và nhất là có nhiều phó phẩm để có thể nói được là nó tạo nên một nguồn văn hóa mới. Trong văn chương Việt Nam có hai tác phẩm lớn được ở vào trường hợp đó, chính là Lục Vân Tiên ở Nam và Đoạn Trường Tân Thanh (tức Truyện Kiều) ở Bắc. Một vài trường hợp khác như Lâm Xanh Xuân Nương, như Lưu Bình Dương Lễ cũng tạo được những phó phẩm tương tự nhưng không nhiều bằng, và nhứt là không có được những bình luận nghiên cứu, ưa thích, sùng thượng như hai tác phẩm trên.
(more…)

Nguyễn Văn Sâm

1.
Những người muôn năm cũ, Hồn ở đâu bây giờ? Câu thơ xót xa cho hình ảnh quá khứ bị vùi chôn chợt hiện lên như phép lạ đánh bật dậy dĩ vãng lâu nay lấp kín dưới sâu thẳm của địa tầng ký ức khi người ca sĩ có vẻ mặt rất trẻ thơ vừa mới được hoan nghênh nồng nhiệt trên sân khấu một hai màn trước rụt rè hỏi tên tôi, rồi mừng rỡ xác nhận nàng từng ngồi trong giảng đường nghe thầy thao thao trên bục giảng.

Thầy giảng hay lắm. Cách nói xác định, trang phục lộng lẫy nổi bật vẻ sang trọng đối diện bộ quần áo bình thường, bày bán trong những tiệm bình dân nhan nhản khắp nước Mỹ trên mình tôi lúc đó, cộng với bộ mặt bơ thờ – chợt nhớ lại khi mình chắc lưỡi chải vội mái tóc trước khi đến đây – khiến tôi mỉm cười, vừa tội nghiệp vừa chua xót. Tội nghiệp cô học trò cũ, thật thà như đếm. Chua xót mình, tang thương, lạc lõng, vẫn còn mang bộ mặt ngái ngủ, dật dờ trong cuộc mộng du mười năm dưới lời trù ếm của những tên phù thủy thời đại.
(more…)

Nguyễn Văn Sâm

Chà, ta bước qua tuổi Tám Mươi rồi!
Tưởng không thể có ngày nay.
Xưa:
Lận đận lao đao với cái rổ hột vịt lộn
lôi thôi quần áo mỗi ngày khi tuổi chưa tròn con số chục,
Ở lứa tuổi 13
Trùng trục mình trần ngồi bán thuốc lẻ từng điếu nhỏ nhoi,
Ai mua nguyên gói thì mừng còn hơn má cho tiền ăn tô hủ tíu chú Tiều,
Đi học thì xa, phải thức sớm mỗi ngày chạy lên bến xe thổ mộ.
Băng qua khu nhị tì nổi tiếng có nhiều ma.
Lắm bữa kiếm chút nghỉ trưa,
Thức dậy bị mặt trời đè,
Ngẩn ngơ như ngỗng đực say ke.  (more…)

Nguyễn Văn Sâm


Nhà thơ Nguyên Sa (1932-1998)

Nguyên Sa (sanh năm 1932) là người trước tôi một thế hệ. Khi thằng bé nhà quê theo học những năm cuối của Trung học, đương bị cuốn hút bởi từng bài trong tạp chí Sáng Tạo với văn phong mới của mấy cây bút di cư vào Nam và với những bài viết về văn học rất đặc biệt… luôn ngóng chờ ngày cuối tháng để tới tòa soạn của tạp chí Sáng Tạo ở một khu xóm bình dân mà đa số là người Tàu tại góc đường Nguyễn Công Trứ và Ký Con gần chợ Cầu Ông Lãnh, Sàigòn. Mua số mới nhất vừa đọc vừa đi bộ về nhà, quên cả trời đất, mê mẩn thưởng thức những bài nóng hổi, còn thơm mùi giấy mực, băng qua đoạn đường đầy người Tàu cho mướn sách hình trên lề đường… thì Trần Bích Lan đã có những bài viết về văn học trong những số đầu của tờ nguyệt San rất được bạn bè cùng lứa chúng tôi ưa thích.
(more…)

Nguyễn Văn Sâm


Nhà văn Elena Pucillo Truong

Những cây bút nữ bất kỳ là ai, có danh hay chưa tạo được chỗ đứng trong văn học của nước mình, theo tôi đều là những cây bút đặc biệt. Họ có những cái nhìn khác với người viết thuộc tính phái khác. Sâu sắc về mặt tình cảm, nhẹ nhàng trong câu văn, lắm khi có những nhận xét tế nhị bất ngờ làm ngạc nhiên người đọc.

Nhà văn nam, kể cả người nghiêng nhiều về mặt thi ca, có khuynh hướng bộc lộ nhiều về mặt lý trí, Phan Khôi trong bài tình già chẳng hạn, trong khi đó người viết nữ, ngay cả những bài phê bình, nhận định văn học, ta cũng thấy chan chứa nhiều điều tình cảm. Ba bài nhận định của ba người phê bình nữ Nguyễn Thị Thanh Xuân, Nguyễn Thị Tịnh Thy, Cao Thị Hồng trong tập Vàng Trên Biển Đá Đen lấp lánh những tình cảm hơn là các suy luận cần nhiều lý trí, nhức đầu.  Đó là cái điều trời cho riêng phái nữ chăng? Cái phong tư trời xếp đặt để nam phái có  điều để so bì ganh tỵ chăng?
(more…)

Nguyễn Văn Sâm
(Bài nói chuyện của tác giả tại Montréal ngày 17 June 2018)

Cách đây gần 60 năm, khi còn theo học bậc Tiểu Học ở trường Trương Minh Ký[1] Sàigòn, tôi đã mê loại truyện thơ bình dân Miền Nam của mấy nhà xuất bản Phạm Văn Thình[2], Phạm Đình Khương và Thuận Hòa ở Chợ Lớn. Đặc biệt về hình thức, mỗi truyện của loại nầy người viết và nhà in xếp đặt sao cho đầy 16 trang. Về hình thức, trang bìa, giấy màu, có hình khắc ván thường kèm theo hai câu lục bát, trang cuối ghi lại tất cả những quyển cùng loại đã xuất bản. Bên trong sự trình bày cũng độc chiêu, mỗi hàng in câu lục và câu bát kế tiếp nhau chớ không xuống hàng giữa câu lục và câu bát như ngày nay. Quán nhỏ của người cô tôi sinh sống và nuôi hai anh em tôi ăn học nằm ở góc nhỏ của Chợ Cầu Ông Lãnh là đường Boresse và đường Quai de Belgique, lúc đó bán tạp hóa, tạp hóa có nghĩa bán nhiều thứ không dính dáng gì với nhau, từ xà-bông Cô Ba, bri-dăn-tin ba số 5 tới tiểu thuyết hay va-li, túi xách, xi-ra Kiwi, mực viên Ara, thuốc tẩy Toàn Trắng, kem đánh răng Gibbs, Kol, phấn trắng  đánh nón đánh giàyEverblanc, dây giày, sữa Con Chim…. Truyện thơ bình dân nói trên và truyện Tàu của nhà in Trí Đức Thư Xã ở đường Sabourin là những món hàng bán chạy, tuy không lời nhiều, nhưng được nhiều người mua. Khách hàng tất cả đều là người lao động ở gần đó hay dân quê miệt vườn theo ghe chài lên Sàigòn bán tam tứ thập vật, có thể là cá, khô, lu, hủ hay mía, thơm, dừa; có thể là bàn ghế, chiếu lát hay cát dùng để trộn hồ, hoặc nước uống[3]. Họ ghé lại mua một vài cuốn truyện cho mình hay mua giùm lối xóm vì đâu phải ai cũng rảnh rang mà cơm ghe bè bạn lên được Sàigòn? Nhiều ông già bà cả tới quán cô tôi, cố gắng nhớ lại được cái tựa mà không biết lựa sách vì không biết chữ, thằng nhỏ mười tuổi là tôi phải lựa giùm. Và tôi đọc hết tất cả mấy chục quyển thơ ấy với mấy chục bộ truyện Tàu dầy cui của nhà Tín Đức Thư Xã đương một mình một chợ lúc nầy. Cứ trốn vô góc sạp coi cho cẩn thận, đừng làm rách, rồi thế nào cũng bán được như là sách mới, bởi vì không phải ai ai cũng có thể đi ra Sàigòn, hay vô Chợ lớn vì một cuốn truyện.
(more…)

Nguyễn Văn Sâm

Mưa phất phới buồn. Cái buồn của một địa phương đìu hiu với những căn nhà rải rác xa xa. Bất động mờ mờ trong làn nước mỏng. Trời trong vắt những cơn mưa quái dị cứ rả rít, lê thê. Con đường đất, bao nhiêu ngàn người khổ công nện đắp mấy tháng trước, gặp cơn mưa nhão ra, sình đỏ kẹo sệt dính vô bánh xe đóng một lớp dày dưới vè làm Tuấn còng lưng hơn dưới sức cản. Tôi áy náy vịn tay lên hông Tuấn vấn đề từ lúc xuống xe đò tới giờ như một thắc mắc liên tục trong trí nhỏ nhẹ đề nghị:

“Tuấn này, hay mình tạt vô đâu đó đụt đỡ,”

“Chuyện! Có cơn mưa này mới dễ bán mua.”
(more…)

Nguyễn Văn Sâm

Nhà bếp rộng, sạch. Trên lò, nồi giò heo hầm lửa riu riu phun khói nhè nhẹ, nắp nồi khua động bằng một âm thanh đều đều, xì xọp, vui vui. Trên tường đồng hồ thánh thót đổ một hồi kẻng dài. Dì Tư ngó lên rồi lại cúi xuống tiếp tục từ tốn cắt cắt thái thái mấy miếng thịt lấy ra từ cái oven. Trong góc bếp, nút nồi cơm điện nhảy từ chữ “nấu” sang nút “giữ ấm” nghe cái “cắc” một tiếng dòn tan, Dì lại ngước lên ngó về phía đó. Bực mình. Già cả nên lẩn thẩn, biết trong bụng là không có chuyện gì mà cứ giựt mình, cứ coi đi coi lại cho chắc. Vô ích hết sức. Như là ba cái vụ điện thoại, reng reng trong tivi mà cứ giựt mình lại coi phải ai gọi không, mặc dầu nếu có người hỏi cũng chỉ biết nói “Họ không có ở nhà”, ngay ý muốn hỏi tên để về nói lại cũng ngại ngùng. Dì giở nắp nồi cơm ra coi. Hơi gạo chín tỏa một mùi thơm dễ chịu. Dì nghĩ tới món thịt kho dưa chua đứa con gái ưa thích từ hồi còn nhỏ tới giờ, thỉnh thoảng được ăn vẫn chắc lưỡi hít hà khen ngon liền miệng.
(more…)

Nguyễn Văn Sâm
(Bài nói chuyện nhân buổi ra mắt sách 45 năm sống ở Mỹ: Được Gì, Mất Gì? của GS Lê Thanh Hoàng Dân)

Năm mươi lăm năm trước (1964), Lê Thanh Hoàng Dân và tôi, hai người bạn đồng nghiệp vừa mới bước chưn vào giáo giới, cùng chung lý tưởng viết lách đàng hoàng để giao truyền những kiến thức có ích lợi cho đời, cùng mục tiêu tranh đấu chánh trị (Phong Trào Quốc Gia Cấp Tiến), hầu tạo nên một xã hội tốt đẹp cho Miền Nam Việt Nam. Rồi cả hai đứa, cũng như cả nửa dân tộc phía Nam vĩ tuyến, bị cuốn hút vào ngã rẽ nghiệt ngã sau cơn lốc quốc biến 75. Chúng tôi cách xa nhau từ đó, sau nầy vì định cư ở xa nhau, vì nghề nghiệp khác biệt, mới gặp lại nhau chớp nhoáng 1, 2 lần vài năm trở lại đây.
(more…)

Nguyễn Văn Sâm


GS Trần Ngọc Ninh

Chúa nhựt 1 tháng Bảy 2018 tôi nghĩ mình đã làm một việc hữu ích cho mình khi tham dự buổi thuyết trình của Giáo sư Trần Ngọc Ninh, cố vấn của Viện Việt-Học, CA về Ngữ học.

Giáo sư Ninh trước quốc nạn 1975 là GS môn giải phẫu tại trường Đại Học Y Khoa Sàigòn và là nhà văn hóa có những sách viết về đạo Phật, Đức Phật giữa chúng ta (Lá Bối, Sg, 1972), về cấu trúc của tiếng Việt, Cơ cấu Việt ngữ (Lửa Thiêng, Sg, 1972, 1975) theo cái nhìn mới mẻ về hai vấn đề này mà nay gần nửa thế kỷ sau chưa thấy có quyển sách nào cùng loại vượt được.
(more…)

Nguyễn Văn Sâm

Chút đăng đắng trong cuộc sống
cũng là chút hương vị đời. (NVS)

1.
Thằng Chà hí hửng cầm hai cuốn truyện Tàu bước qua ngạch cửa khi trời vừa hừng sáng. Bữa nay chúa nhựt ba nó ở nhà nhưng đã cho phép nó đi đổi truyện. Ngày thường ông đạp xe máy ra Trà quít làm việc tối mịt mới về, lợi dụng giờ giấc nó tự ý đi không cần phép tắc, nhưng khi ông ở nhà thì phải hỏi phải thưa.  Nó bước nhè nhẹ ngang qua chuồng gà tính mở cửa ngỏ thì con Ô nhảy ra chuồng hồi nào không biết lật đật chạy theo quấn quít bên chưn.  Con Ô thân thiện thiệt tình nhưng sáng nay sự thân thiện đó không làm cho thằng Chà khoái chí chút nào. Hai cuốn truyện Tàu được đưa ra quơ quơ làm  võ khí nhưng con Ô chỉ cần né đầu là tránh được dễ dàng rồi cứ lẩn quẩn theo cản chưn trở cẳng. Thằng Chà tức khí đứng lại tính ăn thua đủ thì con Ô cũng khựng lại, ngóng cao cổ đập cánh phành phạch rồi cất tiếng gáy. Không khí đương yên tĩnh bỗng sôi động lên, đàn gà mái nhao nhao vừa cục tác vừa gục gặc đầu đủng đỉnh đi tới đi lui trong chuồng hay chõ mỏ qua khe rào kêu réo. Thằng Chà thừa cơ hội, lận hai cuốn truyện vô bụng,  kéo áo phủ xuống, cuốn nào cũng đã được chủ nhơn đóng bằng giấy dầu nên nó không sợ mồ hôi làm ướt.  Mau chưn nó phóng ra ngoài. Con Ô sau một giây ngơ ngác, chạy đuổi theo chủ chừng 5, 7 thước thì bỏ cuộc, quay vô bay đậu lên hàng rào chuồng chừng một vài phút rồi nhảy xuống hăm hở rượt đuổi bầy thê thiếp, không còn tha thiết gì tới chủ nữa.
(more…)