Archive for the ‘Phan Tấn Hải’ Category

Phan Tấn Hải

Tuần lễ này là tưởng niệm 30 năm trận thảm sát Thiên An Môn ở Bắc Kinh, khi Quân đội CS Trung Quốc tràn vào Thiên An Môn ngày 4 tháng 6/1989 với xe tăng và súng máy, giải tán cuộc biểu tình vì dân chủ của sinh viên, công nhân và trí thức.

Số người bị bắn chết, và bị xe tăng cán chết tại Thiên An Môn ước tính dè dặt là từ 200 tới 2,500 người, theo nhiều cách tính từ nhiều nguồn độc lập. Con số thực, có thể chết tới 10,000 người. Hầu hết bị chiến binh bắn chết, một số bị xe tăng cán chết.

Trận thảm sát được gọi là “Sự kiện Thiên An Môn,” hình ảnh chủ lực là những cuộc biểu tình ngày đêm ở quảng trường Thiên An Môn ở Bắc Kinh, kéo dài từ ngày 15 tháng 4/1989 tới ngày thảm sát là ngày 4 tháng 6/1989. Nhưng trên toàn quốc thời gian đó có biểu tình rải rác tại 400 thành phố trên toàn Trung Quốc.
(more…)

Phan Tấn Hải

Nhà xuất bản Văn Học Press vừa ấn hành tiểu thuyết Những Ghi Chép Ở Tầng Thứ 14 của Thận Nhiên… Đây là những trang giấy rất buồn. Từng chữ và từng hình ảnh trong tiểu thuyết dội lại trong hồn người đọc về một đất nước và con người Việt Nam một thời chiến tranh tan nát, và rồi một nền hòa bình buồn bã.

Tiểu thuyết này đã được giải văn xuôi của Văn Việt năm 2018. Khi viết những dòng cho Lời Tựa để ấn hành sách năm 2019, nhà văn Thận Nhiên đang ở Detroit, tiểu bang Michigan. Ông viết rằng tiểu thuyết này là hư cấu, dựa trên một số chi tiết đời thật. Khởi sự tiểu thuyết viết từ năm 2014, lúc đang sống ở Sài Gòn, ở căn hộ tầng 14, trong một chung cư ở huyện Bình Chánh.
(more…)

Phan Tấn Hải

Truyện Thạch Sanh Lý Thông có liên hệ gì với tư tưởng Phật giáo? Nơi đây, chúng ta thử suy nghĩ về chủ đề này, trong dịp Giáo sư Nguyễn Văn Sâm biên dịch, chú giải và ấn hành Truyện Thơ Thạch Sanh Lý Thông.

Truyện cổ tích Thạch Sanh Lý Thông được kể qua văn học truyền khẩu nhiều thế kỷ trước khi xuất hiện truyện thơ cùng tên. Thường được gọi tắt là truyện Thạch Sanh. Do vì xuất sinh từ văn học truyền khẩu, nên có nhiều phiên bản khác nhau.

Riêng về truyện thơ, cũng có ba dị bản khác nhau, tất cả đều bằng thể lục bát. Như thế, ông bà mình đã ưa thích truyện này một cách đặc biệt.
(more…)

Hồ Đình Nghiêm


Nhà văn Phan Tấn Hải

Không cứ là chuyện cổ tích bao giờ cũng khởi đầu giọng kể bằng “Ngày xửa ngày xưa…” Mỗi chúng ta hôm nay vẫn quen dùng tới nó khi nhớ lại một kỷ niệm đã trôi trong quá khứ. Ngày xưa, tôi từng gặp anh. Anh ở bên Mỹ sang đây, tay bắt mặt mừng những hai lần. Một lần có diễn ra Đại Hội Văn Bút tổ chức ở Montréal (1989). Lần khác anh lặn lội về chung vui cùng nhà văn hoạ sĩ Võ Đình để rồi chung buồn trong vấn nạn khôi hài có tên gọi “động đất ở Mộng Lệ An” (1992). Ngày xửa, anh có tặng tôi tập truyện ngắn “Cậu Bé Và Hoa Mai”. Ngày xưa, dù tổn thất do trận động đất gây ra có lớn tới mức nào đi chăng nữa, xấu xa rồi cũng chóng vuột trôi; nhưng tôi vẫn nhớ, tôi không quên một người: Anh Phan Tấn Hải. Nhớ nụ cười hiền, nhớ mái tóc thưa, nhớ giọng nói chậm rãi thường chứa những ẩn dụ bên trong, dẫu ngập ngừng như kiểu đắn đo trước khi bày tỏ. Nhớ ngày xưa, thấy trán anh bị sưng một nốt bằng ngón tay cái, không dằn lòng tôi buột miệng hỏi để có ngay câu trả lời: Đêm qua Phật chỉ trăng, tôi thưa ồ trăng sáng quá. Phật cười khẽ búng ngón tay vào trán tôi.
(more…)

Phan Tấn Hải

Nhà thơ Đỗ Nguyên Mai vừa ấn hành tập thơ cho ngày 30 tháng 4 năm 2019: Battlefield Blooming.

Tập thơ ấn hành cho ngày tưởng niệm 44 năm Miền Nam sụp đổ dày 60 trang, viết bằng Anh ngữ, vì bản thân nhà thơ Đỗ Nguyên Mai thuộc thế hệ trẻ tại Hoa Kỳ, trước giờ chỉ làm thơ tiếng Anh.

Thi tập do nhà xuất bản Sahtu Press ấn hành.

Tập thơ gồm 40 bài thơ, trong đó có bài dài hai trang — như bài “The Warrior’s Wife” trang 8-9 — và có bài ngắn chỉ 4 câu.

Tuy là rất kiệm chữ, nhưng nhiều bài thơ ngắn mang sức mạnh rất lớn, đặc biệt đối với   người Việt tỵ nạn (và có thể là xúc động cho tất cả những người tỵ nạn toàn cầu).

Thí dụ như bài thơ bốn dòng, trang 13 như sau:

THE REFUGEES

Bones washed
barren onto shores,

we smell of salt;
we open wounds

(more…)

Phan Tấn Hải

Cảm giác đầu tiên khi đọc tác phẩm mới này của Đỗ Hồng Ngọc, có thể thấy rằng đây là những dòng chữ từ một người sắp ra đi… Chẳng phải sao, ngay trên tựa sách đã ghi là “Về thu xếp lại…” (VTXL).

Đúng là trong các tản văn có nói về tuổi già, về bệnh, về những người bạn đã ra đi – trong đó, ngay ở Lời Ngỏ là ghi lại hình ảnh tới thăm người bạn thân, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, tại phòng Săn sóc đặc biệt Bệnh viện Chợ Rẫy.

Tác giả Đỗ Hồng Ngọc, một bác sĩ về hưu và đang giữ thói quen Thiền tập hàng ngày, tự ghi lại hình ảnh của mình, trích:

“…Thấy những bạn trẻ… trên dưới bảy mươi mà “gato”! Mới vài năm thôi mà mọi thứ đảo ngược cả rồi. Bây giờ có vẻ như tôi đang lùi dần về lại tuổi ấu thơ, tuổi chập chững, tuổi nằm nôi…” (Lời Ngỏ, VTXL)
(more…)

Phan Tấn Hải


Nhà văn, nhạc sĩ Nguyễn Đình Toàn

Chữ nghĩa của Nguyễn Đình Toàn là một phần rất lớn trong thời đi học của tôi. Cũng như sương buổi sớm, không mấy ai thấy rõ, nhưng sương vẫn bay phả khắp trời – chữ của Nguyễn Đình Toàn là như thế trong trí nhớ tôi thời còn mang sách tới trường. Bàng bạc, nhưng làm ướt tóc, ướt vai.

Trong cái nhìn thời mới lớn của tôi, Nguyễn Đình Toàn là hiện thân của Hà Nội, là những gì rất mực tinh tế, nhạy cảm. Tôi sinh ra và lớn lên tại Sài Gòn, bạn trong xóm toàn Nam Kỳ rặt, bước ra đầu hẻm là một tiệm hớt tóc lúc nào cũng có bàn cờ tướng cho mấy bác trong xóm tụ họp khề khà, hễ đi xe đạp ngang qua tiệm thường là nghe từ la-dô (máy radio) để nơi một kệ trong tiệm vang lên mấy câu ca từ những tuồng cải lương, thí dụ “ngày mai đám cưới người ta, vì sao sơn nữ Phà Ca lại buồn”… Thế cho nên, khi vào trung học Chu Văn An là một chân trời khác hẳn, hầu hết là Bắc Kỳ — chữ này gọi không đúng, nhưng là để đối lại hình ảnh trên, vì cậu học trò trong tôi lúc đó đồng nhất tất cả nơi đây là Hà Nội. Vâng, trung học Chu Văn An là hiện thân Hà Nội, nơi nhà thơ Vũ Hoàng Chương dạy văn, nơi thầy Nguyễn Đình Quỹ dạy toán. Cũng là Hà Nội dưới mắt tôi, kể cả khi tôi học Pháp văn từ thầy Nguyễn Đăng Thường, một người Nam Kỳ thuần.  Nghĩa là, Hà Nội là một phẩm chất của văn hóa khó tìm. Và rồi, cùng bạn hữu la cà các tiệm cà phê, tôi gặp một Hà Nội được hiện thân qua Nguyễn Đình Toàn.
(more…)

Phan Tấn Hải


Nhà thơ W. S. Merwin (1927-2019)

Nhà thơ W. S. Merwin vừa từ trần trong một giấc ngủ hôm 15/3/2019. Trong gần nửa thế kỷ, ông cũng nổi tiếng là một Phật tử, thực tập theo Thiền Tông Nhật Bản. Cuộc đời ông là một điển hình của giới trí thức Hoa Kỳ thập niên 1960-1970s, nhiều người nghiêng về Phật giáo khi nhìn thấy xã hội Hoa Kỳ tranh cãi về Chiến Tranh Việt Nam và khắp thế giới chiến tranh như dường bất tận.

Nhà phê bình thi ca Reginald Shepherd viết trên Poetry Foundation về các thi phẩm  thời kỳ đầu của Merwin, được viết trong thời Chiến Tranh Việt Nam: “Đó là những bài thơ không được viết cho một nghị trình [chính trị], nhưng đã thiết lập ra một nghị trình. Trân trọng giữ gìn và tái sáng tạo thế giới trong những chữ từ ái. Merwin luôn luôn quan tâm với quan hệ giữa đạo đức và mỹ học, cân nhắc cả hai phía đồng đều nhau. Thơ của ông là một đáp trả đối với một thế giới đã tan rã, không phải như những vùng địa lý nhưng là như các sự kiện thẩm mỹ.”
(more…)

Phan Tấn Hải


Họa sĩ Võ Đình

Trong tương lai gần, nhà thơ Đỗ Quý Toàn sẽ tổ chức một cuộc triển lãm tại hội trường nhật báo Người Việt dài hai ngày – trong đó, sẽ trưng bày là toàn bộ tranh của họa sĩ Võ Đình (1933-2009) để lại và đang được gìn giữ bởi người vợ cuối đời là chị Trần Lai Hồng.

Nhà văn Lê Thị Huệ từ San Jose đã cho biết như trên; khi được tin, tôi đã xin tới thăm chị Trần Lai Hồng tại nhà người anh của chị ở Huntington Beach, California. Chị Trần Lai Hồng nói chuyện và đi đứng còn chậm, vì vừa mới hồi phục từ một trận đột quỵ khi còn ở Florida, và sau đó đã dọn nhà từ Florida về Quận Cam, nơi nhà người anh ruột.

Nơi phòng khách giữa căn nhà Huntington Beach của người anh của họa sĩ vẽ lụa Trần Lai Hồng còn để nguyên kiện nhiều gói hàng gửi qua phi cơ, trong đó là những họa phẩm của họa sĩ Võ Đình, chỉ mới mở ra một vài tấm tranh. Như thế, ước lượng khoảng 30 tác phẩm hội họa của họa sĩ Võ Đình. Chị Trần Lai Hồng cho biết, bản thân chị cũng học vẽ từ họa sĩ Võ Đình, và chị cũng ưa vẽ mặt trăng như anh… Trong dịp này, chị cũng sẽ triển lãm một số tranh chị vẽ, trong đó người xem có thể nhìn thấy ảnh hưởng của phong thái Võ Đình.
(more…)

Phan Tấn Hải

Rất mực gian nan để kể lại chuyện của rất nhiều thập niên trước. Trí nhớ tôi bây giờ lúc nào cũng lãng đãng, sương mù. Khi khởi lên ý định kể lại mấy chuyện thời nhỏ, chỉ thấy hiện lại trong trí nhớ một khoảng sân trắng, mấy đứa nhóc quậy phá, những lọ mực tím, những tập vở kẽ hàng, mấy bàn học, lối đi có hai hàng tre xanh, âm vang trong đầu là tiếng ê a đánh vần… Tôi đã điện thoại để hỏi chị tôi về tên của vài người xa thật xa, nhưng cũng chỉ được vài phần, những nét kể lại cứ như hư, như thực.

Xóm Chuồng Bò thì nhớ tên rồi. Hình ảnh con bò thực ra lúc đó không còn nữa. Đúng ra cứ khi rạng sáng, khi nghe lộp cộp trên đường là biết ngay xe thổ mộ (may quá, còn nhớ chữ này, chứ không lại bảo là xe ngựa thì chẳng giống ai) từ trong Xóm Chuồng Bò chạy ra Chợ Hòa Hưng. Còn xóm ao rau muống thì chẳng thể nhớ tên gì. Lối đi từ nhà tôi vào Xóm Chuồng Bò có vài hẻm, những bụi tre xanh cao vút bên đường, dẫn tới mấy ao rau muống trong tận mấy xóm sâu. Lúc đó phía dưới là cát trắng.
(more…)

Phan Tấn Hải

Tôi có một thói quen rất bình dân, là rất mực ưa thích những gì gọi là bình dân. Chính vì như thế, tiếng Việt tôi sử dụng thường là bình dân, không có gì cầu kỳ, kiểu cọ, chẳng hề sang chảnh ngữ ngôn cách điệu gì cả. Nói cách khác, chữ tôi dùng rất mực nhà quê, ưa theo đám đông quần chúng.

Thí dụ, tôi ưa dùng theo đám đông, viết là “hồi ký” thay vì “hồi kí” và chẳng hề có thì giờ để xem các nhà ngữ học tranh cãi về y hay i. Đời mình chẳng có bao nhiêu ngày để sống, chẳng bận tâm những chuyện có thể là đã nằm ngoài tầm hiểu biết của mình. Đất nước lại chẳng có một Viện Hàn Lâm ở cấp quốc gia để thống nhất các chuyện như thế.

Thế rồi cũng mệt với dấu gạch nối. Thí dụ, một số nhà ngữ học viết có gạch nối là “hồi-ký” – người khác viết là “hồi-kí” và độc giả trung bình cỡ như tôi là khựng lại.

Sau này, tôi quyết định giữ thói quen kiểu Mỹ là đi con đường ngắn nhất, đơn giản nhất. Đó là, cứ viết “hồi ký” với y và không gạch nối.
(more…)

Phan Tấn Hải


Nhà thơ Hà Nguyên Du và tạp chí Văn Học Mới số 1. (Photo PTH)

WESTMINSTER, Calif. (PTH/VB) — Văn Học Mới, một tạp chí văn học nghệ thuật với tham dự của hàng chục nhà văn, nhà thơ vừa phát hành trên toàn cầu qua mạng Amazon.

Trong ấn bản số 1 — tạp chí này phát hành mỗi năm 3 số — người ta thấy có bài lý luận, truyện, bút ký, thơ và sáng tác của những khuôn mặt lớn văn học nghệ thuật hải ngoại: Nguyễn Vy Khanh, Nguyễn Vĩnh Long, Đức Phổ, Phan Ni Tấn, Nguyễn Trung Hối, Hoàng Ngọc-Tuấn, Biển Bắc, Nguyễn Minh Triết, Trần Việt Hải, Hà Nguyên Du, Đặng Phú Phong, Khế Iêm, Quan Dương, Thanh Thương Hoàng, Xuân Thủy, Hạ Du, Nguyễn Văn Sâm, Ngô Tịnh Yên, Phạm Quốc Bảo, Khánh Trường, Phan Tấn Hải, Hạ Quốc Huy, Nguyễn Đức Tùng, Ngã Phương Huyền, Nguyễn Lương Ba, Hải Phương, Phạm Xuân Đài, Trần Yên Hòa, Du Tử Lê, Hà Bạch Quyên, Nguyễn Thị Thảo An, Thành Tôn…

Nhà thơ Hà Nguyên Du phụ trách việc điều hành tạp chí Văn Học Mới, trong khi phụ tá là Vương Thư Sinh, phần kỹ thuật nhà xuất bản VHM do Phạm Hồng Thái trách nhiệm.
(more…)

Phan Tấn Hải


Bùi Giáng (1926-1998)
Phan Tấn Hải phác họa

Nhiều lời Đức Phật dạy trong kinh điển có thể được nhìn thấy qua nhà thơ Bùi Giáng.

Toàn thân Bùi Giáng chính là Khổ Đế hiển lộ qua cái được thấy. Tương tự, với Tập Đế.

Nụ cười của Bùi Giáng chính là Đạo Đế hiển lộ an lạc qua cái được thấy. Tương tự, với Diệt Đế.

Bùi Giáng đùa giỡn ca ngâm với lời lời ẩn nghĩa chính là diệu chỉ tâm không dính mắc của Kinh Kim Cang, hiển lộ qua cái được thấy và cái được nghe.
(more…)

Phan Tấn Hải

Từng trang trong tiểu thuyết “Có Một Thời Nhân Chứng” khi lật qua trước mắt tôi, y hệt như tấm gương chiếu rọi về một thời kỳ nửa thế kỷ trước; đó là những ngày thơ mộng sinh viên, hạnh phúc của những mối tình thời mới lớn, và đau đớn khi nhìn thấy xóm làng chia cách giữa lằn ranh nội chiến. Từng trang là hình ảnh hiển lộ từ một cuốn phim đen trắng của thời nghệ thuật điện ảnh chưa có màu… là một dòng chảy thời gian của dân tộc in sâu trong ký ức của thế hệ sinh viên Sài Gòn trong các năm cuối thập niên 1960s và đầu 1970s. Nơi đó tôi nhìn thấy hình ảnh Miền Nam trong cuộc nội chiến dai dẳng, nơi lằn ranh quốc-cộng có khi rất mờ nhạt nơi sân trường đại học Sài Gòn – nơi có những người bạn của tôi đứng ở cả hai bên lằn ranh quốc-cộng mờ nhạt đó. Và trong ký ức đó, có rất nhiều người đã mất một phần thân thể cho cuộc chiến, hay đã nằm xuống nơi chiến trường, nơi nhà tù sau 1975, nơi biển lớn Thái Bình Dương, và rồi khắp mọi nơi chúng ta có thể nghĩ tới.

Đó là một thời kỳ, như tác giả Lê Lạc Giao viết nơi Chương Những Kẻ Mang Vác Trên Lưng Nấm Mồ của “Có Một Thời Nhân Chứng” (CMTNC) là khi cả một thế hệ của anh: “…kêu gào ‘chiến tranh ơi hãy dừng lại một ngày!’ nhưng ngày vẫn trôi, máu vẫn đổ và việc giết nhau cứ tiếp tục…”
(more…)

Phan Tấn Hải


Sinh viên và trí thức Nam Hàn biểu tình đòi dân chủ tháng 5/1980, bị đàn áp dữ dội.
Kết quả: 165 người chết, 76 người mất tích, hơn 3,500 người bị thương.
(Photo courtesy of The 5.18 Memorial Society)

Đất nước nào cũng từng trải qua các cuộc chiến tranh với nước khác, cũng có khi trải qua những cuộc nội chiến trong dân tộc mình, hay là những phong trào tranh đấu vì lý tưởng dân chủ, tự do. Đó là những sự kiện lớn, khi nhiều ngàn người, và có khi cả triệu người hy sinh. Cuộc chiến nào cũng mang theo các vết thương đau đớn, dù là cuộc chiến Quốc Cộng tại Việt Nam các năm 1954-1975, hay như với phong trào Thiên An Môn tại Trung Quốc năm 1989, hay phong trào đấu tranh dân chủ Gwangju Democratization Movement tại Nam Hàn tháng 5/1980.
(more…)

Phan Tấn Hải

Nhà thơ Trần Yên Hòa vừa phát hành thi tuyển “Trần Yên Hòa: Hơn Năm Mươi Lăm Năm Thơ”… Đó là một tuyển tập gói trọn một đời thơ, cũng là nơi mang rất nhiều tình tự với quê nhà, với những khung trời kỷ niệm tình ca.

Đó là một tập thơ, khi bạn mở ra đọc vài trang, sẽ thấy như bị lôi cuốn đi mãi theo dòng ngôn ngữ. Bởi vì, thơ Trần Yên Hòa có nơi không còn là chữ, mà đã là cái gì rất gần gũi với chính bạn. Tuyển tập thơ của anh không chỉ là dấu mốc sáng tạo thi ca Trần Yên Hòa, mà cũng là một tấm gương soi mặt hồn thơ cho một một thế hệ, những người sinh ra và trưởng thành trong một cuộc nội chiến, và đã đào tỵ vào thơ như một thế giới hòa bình bay bổng riêng.
(more…)

Phan Tấn Hải


Họa sĩ Võ Đình (1933-2009)

Tôi có một vài ký ức về họa sĩ Võ Đình. Gặp nhau thực sự không nhiều, nhưng hình ảnh về anh vẫn khắc sâu trong trí nhớ.

Trong những ngày tôi cư trú ở Virginia, gặp họa sĩ Võ Đình thường là trong một số sự kiện cộng đồng, có khi tại nhà một vài người trong giới văn nghệ — mà thời đó, những năm cuối thập niên 1980s, tôi là một người tuổi nhỏ, so với các bậc tôn túc có dịp quen thân và làm việc chung, như Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, nhà văn Trương Anh Thụy, nhà bình luận Trương Hồng Sơn (bây giờ là họa sĩ Trương Vũ)…

Không khí văn nghệ thời đó ở Virginia vui lắm: mọi người, cho dù nổi tiếng thế nào đi nữa – thí dụ, giỏi nhiều ngôn ngữ xuất sắc như GS Nguyễn Ngọc Bích và phu nhân (chị Đào Thị Hợi cũng là một giáo sư về ngữ học tại một đại học ở thủ đô Washington DC), vẫn là những hình ảnh gần gũi, dễ thấy, dễ nói chuyện.
(more…)

Phan Tấn Hải

Thi ca, chiến tranh, và hòa bình. Khi xác người nằm xuống, và khi thi ca thức tỉnh…

Hai miền Nam, Bắc Hàn đang bước sang một trang sử mới. Hòa bình nằm trong tầm tay, khi hai lãnh tụ Nam, Bắc Hàn dự kiến sẽ ký văn bản chính thức kết thúc cuộc chiến Triều Tiên. Tuy rằng thống nhất còn xa, nhưng bước đầu tiên đã có được. Nơi đây, chúng ta sẽ đọc lại một số bài thơ của nhà thơ Bắc Hàn Kim Chul, người trong thập niên 1950s và những năm đầu thập niên 1960s được ca ngợi là thi sĩ hàng đầu của Bắc Hàn, thường làm thơ về tình yêu và từng được một số nhà phê bình gọi là “Pushkin của Triều Tiên.” Bài viết sẽ dựa trên nhiều nguồn tiếng Anh.
(more…)

Phan Tấn Hải


Nhà thơ Lý Thừa Nghiệp

Anh là một nhà thơ độc đáo, làm thơ y hệt như người hát Kinh Phật. Không phải một hình thức đọc tụng Kinh Phật như đời thường. Thơ Lý Thừa Nghiệp không đời thường, tuy vẫn nói về Sóc Trăng quê ngoại, nói về mẹ, nói về em, nói về Melbourne với Cù Lao Dung… nhưng tất cả hình ảnh đời thường hiện lên trong thơ anh đều nhắc tới những pháp ấn, rằng tất cả các pháp là bất như ý, là vô thường, là không gì nắm bắt được. Thơ Lý Thừa Nghiiệp là một thân chứng về cõi đời này, trong niềm vui đã ẩn tàng nước mắt, trong gặp gỡ đã có mầm ly biệt, trong những tình cờ gặp gỡ vừa khởi lên đã thấy những rỗng lặng trống không của tâm hiện ra.
(more…)

Phan Tấn Hải

Nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết cuốn tiểu thuyết Vòng Đai Xanh bằng tấm lòng ưu tư với dân tộc. Trên các trang giấy, chúng ta đọc được nỗi lo của ông bên cạnh những âm vang cồng chiêng của các sắc dân Thượng, xen lẫn gần xa là tiếng súng giao chiến giữa AK-47 và M-16.

Nơi đó, hiện lên trong các dòng chữ cũng là nỗi lo của giới trí thức Sài Gòn (điển hình với nhân vật chính là họa sĩ tên Triết, xưng tôi) khi nhìn thấy 60 trại lính Lực Lượng Đặc Biệt Hoa Kỳ (LLĐB Hoa Kỳ) trên vùng biên giới cao nguyên Việt Nam có thể tương lai sẽ trở thành một cõi quốc gia tân lập của người Thượng, một đất nước mới manh nha cho các sắc dân thiểu số vùng cao có tên gợi ý là Đông Sơn và viễn ảnh một cuộc chiến mới sẽ bùng nổ giữa dân tộc Kinh và các sắc tộc Thượng – nơi đó, ngòi nổ sẽ bị kích hỏa, hoặc là do chính người Mỹ hay do chính Cộng Sản Bắc Việt gây ra, hay do cả hai cùng bật lên.
(more…)

Phan Tấn Hải

Đi tìm ngôn ngữ mới của sáng tạo, trong khi lòng đầy các hoài niệm về quê hương, về một cuộc chiến đã trôi qua nhưng còn di lụy, về những người tình và những người bạn đã trở thành hình bóng trên mây… Từ vị trí đó, Trịnh Y Thư đã viết những dòng thơ — và như từ vị trí một người đứng chệch ra khỏi cõi này.

Thơ của anh là ký ức đau đớn, là những chữ viết được trân trọng chép xuống cho một cõi rất buồn, rất mực vắng vẻ, cho những gì như dường đã vuột ra khỏi bàn tay nắm giữ của con người, cho dù là anh làm thơ tiếng Việt hay tiếng Anh.
(more…)

Phan Tấn Hải

Mở ra trang đầu thi tập “Thơ Quỳnh” chúng ta gặp ngay lời tự tình của Hoàng Xuân Sơn:

…quỳnh ám ảnh suốt một đời anh
có thể là một đóa quỳnh nào đó
nhú mớm từ vườn đêm thẳm sâu
có thể là một dáng quỳnh nào đó
vừa thức giấc vừa tan biến đi
trong giấc mùa đông côi góa
có thể là giọng điệu thơ quỳnh lơi lả
khỏa thể vào âm nghi…

Đó là một dòng thơ sang trọng, quý tộc trong cõi đời rất bình thường này. Và những hình ảnh cực kỳ thơ mộng trong chữ đã biến đời thường này trở thành một cõi thơ dị thường, tinh khôi. Thơ Hoàng Xuân Sơn lúc nào cũng thế, như trong cõi mộng, một nơi ẩn mật của ngôn ngữ.
(more…)

Phan Tấn Hải

Trong những dòng đầu tiên của bài thơ “mai tôi về xin ở mãi với hoang sơ,” nhà thơ Đặng Phú Phong đã viết, trích:

tôi dành cho tôi
nỗi thinh lặng tháng chạp
chiếc giỏ hoa mùa hè
để trộn lẫn vào nỗi buồn tháng bảy
nơi có hàng tre loanh quanh kiếm mãi một điều gì
nên hàng tre đã cong thành dấu hỏi
có dòng sông chảy hoài chẳng tới
chẳng về đâu giữa chốn vô cùng
những vách đá dậy thì
những con đường trai lơ
nơi tôi và bạn bè đánh vật
năm tháng đợi chờ chiến tranh đang dấu mặt
lửng lơ trên đầu nỗi hãi kinh chết chóc
mẹ gánh tôi một đầu làm chứng với điêu linh…

Những hình ảnh trong thơ họ Đặng in lại trong trí nhớ tôi khi khép lại trang sách: hàng tre đã cong thành dấu hỏi, mẹ gánh tôi một đầu làm chứng với điêu linh…
(more…)

Phan Tấn Hải

Là một người làm thơ không ngừng nghỉ, và cũng vì trong lòng có lời muốn nói, thi sĩ Lê Giang Trần lại vừa ấn hành thi tập Trái Bôm Tình Yêu.

Đây là tập thơ tình, thoạt đọc lướt qua cũng có vẻ như những tập thơ tình trước kia của anh… Nhưng không, tập thơ này đau đớn hơn nhiều. Thi sĩ Lê Giang Trần nhiều lần nói về mối tình 10 năm vừa tan vỡ của anh.

Thi tập này khởi đầu với bài nửa văn xuôi, nửa thơ (có nên gọi theo thể văn xưa là phú?) trong đó minh bạch nói rằng, nơi trang 11:

con đường không thể buồn hơn…
(more…)

Phan Tấn Hải

Nhà thơ Thường Quán vừa ấn hành thi tập “Hải đảo, trở lại”… Như thế, đây là tác phẩm thứ ba của nhà thơ Thường Quán, người đã sáng tác từ nhiều thập niên, cả tiếng Việt và tiếng Anh, có thơ đăng trên nhiều tập san văn học hải ngoại.

Hình như nhà thơ Thường Quán chữ nghĩa rất kén chọn — có thể hiểu là khó tính… Có vẻ như từng chữ một đều là những suy nghĩ cô đọng, những cân nhắc rất kiệm lời.

Và trong ngôn ngữ có vẻ ngập ngừng, do dự của Thường Quán, chúng ta có thể đọc thấy sinh mệnh của nhân loại, một chủng loại đang đi dưới bầu trời, suy nghĩ về những thế hệ quá khứ đã khuất núi và để lại một lời tử tế trên trái đất – và lời tử tế (phải chăng là thơ?) chỉ là từ con người, hoàn toàn không phải là từ bất kỳ cõi nào khác.
(more…)

Phan Tấn Hải

bia_nuoc_non_nghin_dam-huy_phuong

Đó là những trang giấy rất buồn… Đó cũng là những dòng văn rất đẹp, viết từ một người đã trải qua những chặng đường cực kỳ gian nan của lịch sử quê nhà, một chiến binh may mắn sống sót sau một cuộc chiến mà tác giả gọi là “Ván cờ dở cuộc” (trang 236, tuyển tập Nước Non Nghìn Dặm, tác giả Huy Phương)… và rồi qua nhiều năm tù cải tạo trong một không gian “Tháng tư… thù hận” (trang 81) nơi ông chứng kiến và nhiều sĩ quan tình báo VNCH bị cai tù CS ám sát… và rồi tới “Cuộc tháo chạy khỏi quê hương” (trang 230)…

Tuy viết từ một giọng văn rất buồn, tuyển tập tạp bút “Nước Non Nghìn Dặm” của Huy Phương vẫn nồng thắm tình yêu thương con người và quê hương, đầy sức mạnh thu hút sự chú ý của người đọc.
(more…)

Phan Tấn Hải

bia_nhung_con_chu_lang_thang

Hình dung thế nào về tác giả Lữ Quỳnh? Như một nhà thơ, hay như một nhà văn, hay như một người chiêm ngắm cuộc đời? Nhìn từ bất cứ hướng nào, có lẽ cũng không đủ chữ để nói về Lữ Quỳnh, một tài năng văn học rất mực đa dạng.

Nhà văn Nguyễn Mộng Giác nhìn về Lữ Quỳnh: “Ôi, thời đó chúng tôi lãng mạn biết chừng nào, ngây thơ biết chừng nào…”

Nhà thơ Du Tử Lê nói về họ Lữ: “…đọc lại những trang văn của Lữ Quỳnh, tôi vẫn còn nghe thoảng hương thơm của lòng nhân hậu.”
(more…)

Phan Tấn Hải

bia_lenh_denh

Em và chị Như bị hiếp ba bốn chục lần, chúng đã ném chị Như xuống biển, vừa định bắt em theo thì có tàu hàng hải tiến gần nên tụi nó bỏ đi. Lên đảo em xin đi Na Uy chứ không đi Mỹ với anh Tuấn fiancé của em nữa.”

Những dòng trên là lời của Phượng nói với Ngà ở trại tỵ nạn, được ghi lại nơi trang 87 trong tác phẩm Lênh Đênh, khi Phượng kể về chiếc ghe vượt biên gặp hải tặc.

Và nơi trang 88, tác giả Lưu Na kể về thân phận người phụ nữ Việt:

Ngà biết từ đây cho đến chết Ngà sẽ không bao giờ trả lời câu hỏi mà tất cả những ai đi vượt biên đều hoặc hỏi thầm hoặc thốt thành câu: có “bị” hải tặc. Nói có là dối mà nói không có tội, tội với Phượng, tội với tất cả những người phụ nữ không may. Tự bao giờ cái may mắn của một vài cá nhân trở nên tội với những người thọ nạn? Người con gái Việt Nam da vàng, tất cả những người phụ nữ vượt biên — vết chàm đã khắc, màu chàm đã nhuộm, và anh Tuấn, tất cả những Tuấn chàng trai nước Việt, có còn cách nào khác hơn là chúng ta phải xa nhau, để ở mỗi phương trời cách biệt may ra còn có thể sống tiếp. Đêm vẫn trong, chỉ hồn mình đục. Đảo tị nạn không chỉ xóa lối về mà tẩy trắng luôn những tờ hồn trắng, để lại những vết gôm nham nhở xám buồn….”

Và như thế, tác phẩm “Lênh Đênh” hình thành. Đó là những dòng chữ đầy sức mạnh.
(more…)

Phan Tấn Hải

vu_hoang_chuong3
Nhà thơ Vũ Hoàng Chương (1916-1976)
(ảnh: Cao Lĩnh)

Nhà thơ Vũ Hoàng Chương từ trần ngày 6 tháng 9 năm 1976. Và tuần lễ này, là tròn 40 năm, ngày thi sĩ họ Vũ khuất bóng.

Bản thân tôi có một kỷ niệm mơ hồ về nhà thơ Vũ Hoàng Chương. Tôi học lớp Đệ Nhất B2 — tức là, lớp 12 Ban B (ban Toán) — tại trung học Chu Văn An, Sài Gòn.  Hình ảnh Thầy Vũ Hoàng Chương hiện lên trong mắt các học trò trường này là một vóc dáng gầy, ngồi xích lô tới trường, và trông lúc nào cũng như trên mây.

Thầy Vũ Hoàng Chương dạy Ban C, nghĩa là Ban Văn Chương. Cho nên, tôi không có duyên ngồi học chính thức. Thỉnh thoảng, tên bạn nào đó bên Đệ Nhất C, theo tôi nhớ có thể là Tô Chí Để, bảo là có hứng muốn vào nghe Thầy Vũ Hoàng Chương thì canh giờ mà vào, chờ điểm danh xong, là bước vào lớp ngồi, chẳng có vấn đề gì, vì Thầy Chương chẳng bao giờ thắc mắc.
(more…)

Phan Tấn Hải

linh_vnch_11

Nhìn lại trang sử

Viết cho Memorial Day 2016

Tôi ngồi đọc trang sử
những dòng nghiêng ngả buồn
cay mắt dò từng chữ
khói lạnh phả trong hồn

Thấy rõ mấy tên bạn
đã chết lại hiện ra
đòi theo chữ xông trận
cuộc chiến người hay ma
(more…)