Archive for the ‘Trần Văn Nam’ Category

Trần Văn Nam (1939-2018)

Chúng tôi nhận được tin buồn nhà phê bình văn học Trần Văn Nam đã qua đời ngày 10.1.2018 tại Walnut, California, USA. Để tưởng niệm, chúng tôi xin đăng lại một bài viết cũ của ông. (Sáng Tạo)

Khi nói tới thơ thời chiến Miền Nam, ta thường nhắc những câu thơ khinh bạc của quân nhân trong cuộc; ta cảm thức những ý tưởng pha trộn chấp nhận và chua chát làm người trong thế hệ đi vào cuộc chiến; những ý tưởng kiểu “cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi” mà Đường Thi nói tới từ hàng ngàn năm trước. Như Nguyễn Bắc Sơn tiên liệu một điều may rủi: “Mai ta đụng trận ta còn sống/ Về ghé Sông Mao phá phách chơi/ Chia sớt nỗi buồn cùng gái điếm/ Đốt tiền mua vội một ngày vui”. Như Tô Thùy Yên nghĩ thầm biết đâu ngày mai có thể tử trận: “Còn mươi tháng nữa lên trung úy/Có thể ngày mai chửa biết chừng”. Hoặc như Trần Hoài Thư cũng có mối ưu tư ngày mai như vậy: “Xin cô hàng thêm một két bia/ Hôm nay lãnh lương tôi đãi hết/Cô hàng ơi, một mai tôi chết/ Ai tiêu dùm, ba tháng tiền lương”.
(more…)

Trần Văn Nam

Chuyến bay cuối cùng của Saint Exupéry


Antoine de Saint-Exupéry (1900-1944)

Chuyển-thư, phi vụ miệt mài
Đêm đêm từng chuyến đến vài thành đô
Phố chân trời, đèn nhấp nhô
Dưới kia ngàn dặm biển hồ rất xanh
Tầng cao, một chớp lao nhanh
Mất vào biển rộng, mong manh kiếp người
Lần trang Di Cảo lưu đời
Tinh Cầu nào bạn vẫn ngoài trời đêm?

Hình ảnh một Tinh Cầu Giá Lạnh Trơ Trọi cứ thấy lai-vãng trong những tác phẩm của Saint Exupéry (Theo nhà phê-bình Albérès trong sách “Bilan littéraire du 20è Siècle”)
(more…)

Trần Văn Nam

Nhịp độ vãng lai, theo thiển nghĩ là từ ngữ dễ hiểu hơn từ ngữ “tần số đậm đặc” thường gặp trong các bài nhận định văn học hiện nay, nhất là ở trong nước. Tần số đậm đặc là số bao nhiêu lần một vấn đề hay một cảm thức hay một ám ảnh được lặp lại trong các bản văn, trong các tác phẩm. Thuật ngữ “tần số” có lẽ mượn ở môn khoa học vật lý nghiên cứu về tốc-độ nhanh hay chậm của những vi-hạt đi theo làn sóng làm thành những vòng dồn-dập. Tần số càng cao là số tính làn sóng vi-hạt càng nhanh hàng ngàn triệu chu-kỳ trong mỗi giây đồng hồ, như ở tốc độ tia ánh sáng, tốc độ tia cực tím, tốc độ tia radar, tia vô tuyến… Tần số đậm đặc hay nhịp độ vãng lai trong văn chương, hàm chứa những sự lặp lại không phải do có chủ-tâm về nghệ-thuật (như sự lặp lại từ ngữ “lá rụng, lá rụng” trong “Hồn Bướm Mơ Tiên” của Khái Hưng); cũng không phải sự lặp lại do kỹ thuật còn non của người viết văn chưa thành thạo. Vậy tần số đậm đặc trong văn chương phát xuất từ tiềm thức, từ tâm cảm, từ hứng cảm. Ta liên-tưởng đến phân-tâm-học, nhưng phân tâm học có lẽ thường hướng về phía tiêu cực của tâm hồn; còn nhịp độ vãng lai qua bài viết này hướng về tích cực của nội tâm như lòng nhân-hậu hay niềm hứng cảm về những điều thi-vị.
(more…)

Trần Văn Nam


Nhà thơ Hà Nguyên Du

Nhà thơ Hà Nguyên Du đã xuất bản vài tập sách ở hải-ngoại, trong đó có hai tập với nhan-đề: Một nghe thật tối-tân; một nghe thật cũ mà lại còn như mang tính địa-phương. Đó là “Gene Đại Dương” và “Những Bài Hát Tân Cổ Giao Duyên”. Không rõ anh có giỏi về “Đàn Ca Tài-Tử” thuộc nghệ-thuật trình diễn Nam Bộ hay không; nhưng người viết bài này từng biết anh rất có kinh-nghiệm về thao-tác trên máy điện-tử. Anh là người Phụ-tá điều-hành tờ báo, trình bày bài vở cho Tạp chí “Chủ-Đề” của ông Nguyễn Trung Hối: tờ Tạp Chí xuất bản được 15 số báo (không phải chỉ có bốn hay năm số báo như tôi nhớ lầm), đã đóng góp nhiêù bài nghiên-cứu văn học và mỹ-học thuộc chủ nghĩa hiện-đại. Rồi đến lúc ta cần phải tìm tòi lại những số báo có công phổ-biến học-thuật để đừng quên sự đóng góp của tờ Tạp chí “Chủ Đề” trong quá trình hình thành Văn học Hải ngoại.
(more…)

Trần Văn Nam


Nhà văn Lữ Quỳnh

Đọc những bài thơ và truyện của nhà văn Lữ Quỳnh, độc giả chắc đều chung mang cảm nhận được nghệ thuật thiên về tác dụng gây xúc cảm nghệ thuật trong thơ (những tiếng vang vọng và hình ảnh nghiêng về hội-họa); và nội-dung nếu là truyện về chiến tranh thì đều có tính phản-chiến không mang màu sắc chính trị. Những điều này thật rõ ràng, và cũng chính vì vậy mà khi bàn về thơ truyện của Lữ Quỳnh, người viết bài này ngại có sự trùng lẫn với những bài viết của vài tác giả khác. Bắt gặp những câu thơ nào đắc ý nhất có thể tùy theo từng người, và cũng có thể đều cùng bắt gặp bởi cảm-thức đồng hành, do vậy lời bàn chắc phải bàn bằng những lời lẽ giống nhau, hay gần giống nhau. Văn hóa vốn thuộc truyền thống và cộng đồng, sự tương tự là lẽ tất nhiên.
(more…)

Trần Văn Nam

Ở thế kỷ 20, hai cuộc chiến tranh Việt Nam quá dài, từ 1945 đến 1975. Vậy những ai được sinh ra trong thời-gian bắt đầu hiện-diện vào đời năm 1920 và năm 1950 (xin lấy hai con sổ chẵn này cho dễ phân-biệt khi cuộc chiến tranh đầu kết-thúc năm 1954 và cuộc chiến thứ hai kết thúc năm 1975), thì những người đó đều đã ở vào tuổi 24 và 25, có nghĩa là họ đã hoàn toàn nằm trong cuộc chiến, đã hoàn toàn trưởng thành trong cuộc chiến, dù họ chiến sĩ hay thường dân thì cũng đều chung mang thế hệ khói lửa ngút trời. Nếu họ đã từng sáng tác thơ văn thì thế nào cũng lưu dấu vết chiến tranh, cho dù với chủ-trương vị-nghệ-thuật hay thuần-túy thơ tình. Ví dụ bài thơ “Núi Đôi” của Vũ Cao làm trong cuộc chiến 1945-1954 và bài thơ “Hoa Trắng Thôi Cài Trên Áo Tím” của Kiên Giang trong cuộc chiến 1954-1975, đều là thơ tình nhưng giống nhau ở chi-tiết một trong hai người trong cuộc đều chết vì chiến tranh; một người thì chết vì là nữ du kích (trong thơ Vũ Cao ); còn người nam (trong thơ Kiên Giang) chết vì cố-thủ phòng-tuyến tại một nhà thờ; và nàng hay tin, dù đã có chồng, đến cài hoa trắng trên áo quan người chiến sĩ, cũng là người trước đây rất yêu nàng.
(more…)

Trần Văn Nam


Góc đường Phạm Ngũ Lão và Đề Thám
(Photo ngày 24/10/2016)

Cây bàng lâu đời lắm
Đường Phạm Ngũ Lão xưa
Nay không còn nơi đó
Như đời người đẩy đưa.

Khu Hỏa Xa cư xá
Mặt hậu: phố Lê Lai
Bãi rộng, ga xe lửa
Bây giờ dấu vết phai.
(more…)

Trần Văn Nam

airline_cabin_1
(Photo ngày 2 tháng 11 năm 2016 trên máy bay từ Âu trở về Á Châu)

Khi sàn tàu không còn chút rung chuyển
Chuyến bay đã ở trên tầng bình-lưu
Phía dưới là những lớp mây và biển
Hành khách vơi dần mối ưu tư
Chiêu-đãi-viên đến từng hàng ghế
Bữa ăn cho từng người được dọn ra
Thắt lưng an toàn không cần khóa lại
Bây giờ ta lướt trên bao la  (more…)

Trần Văn Nam

bia_van_hoc_mien_nam

Thoáng đọc những trang đầu dẫn khởi vào sách, cũng gần như Mục Lục (chưa ghi trang của từng chương đoạn), ta đã có cảm tưởng nội dung sách rất phong phú, gần như bao gồm gần hết những vấn đề cần biết về Văn Học Miền Nam 1954-1975. Vào thời kỳ mà độc giả thường tìm đọc sách trên internet, trên E.books và tuổi trẻ hải ngoại phần lớn theo hướng học hỏi kỹ thuật hoặc kinh tế; vào thời kỳ mà những người lớn tuổi tại hải ngoại dần dần thưa thớt chỉ còn một ít người lưu tâm về văn học và biết ít nhiều văn chương thời kỳ 1954-1975; vào thời kỳ mà 40 năm qua các thế hệ trẻ trong nước đa số không biết gì có sự hiện diện của nền văn học đó ở quá khứ; thì cuốn sách đồ sộ hơn 1530 trang của Nguyễn Vy Khanh được cho ra đời quả là một công lao biết trước sự trống vắng trước mắt. Vậy mà tác giả cứ tiến hành việc xuất bản, còn thêm hạn hẹp về phổ biến hoặc quảng cáo do quen biết hay ở nơi có đông người Việt cư ngụ, vì tác giả hiện ở Canada; chỉ in và bán sách qua hệ-thống Amazon.
(more…)

Trần Văn Nam

I. Vũ Hoàng Chương mượn hơi hùm Thành Cát Tư Hãn

Vũ Hoàng ChươngTạ Tỵ
Vũ Hoàng Chương
Tạ Tỵ

Thời tiền chiến, thi sĩ Vũ Hoàng Chương vướng mang tật nghiện thuốc phiện. Tuy thể xác có lúc rã rời bởi những cơn hành hạ của ma túy, nhưng tinh thần thi sĩ rất hùng cường. Khi say sưa với hương nha phiến là lúc ông thả hồn phiêu linh, một trong những lúc bay bổng ấy là mơ tưởng theo cuộc chinh phục thế giới của đoàn hùng binh Mông Cổ. Nhà thơ từng mặc cảm “Lũ chúng ta lạc loài dăm bảy đứa/ Bị quê hương ruồng bỏ, giống nòi khinh”, phải chăng vì ông đã có thời là công chức thuộc địa Pháp. Ðể giải tỏa mặc cảm, để giải bày lòng yêu nước chống lại cuộc đô hộ của người Pháp (nói rộng ra là của người Tây phương), thi sĩ đã mượn uy danh Thành Cát Tư Hãn, muợn hơi hùm của quân Mông Cổ một thời chinh phục Âu Châu, qua bài thơ “Hơi Tàn Ðông Á”:
(more…)

Trần Văn Nam

I. Nhạc tính vần trắc trong thơ Thanh Tâm Tuyền

chan_dung_thanh_tam_tuyen-dinh_cuong
Thanh Tâm Tuyền
dinhcuong

Lý thuyết về Thơ Tự Do của Thanh Tâm Tuyền đã được đúc kết trong bài “Trèo Lên Cây Bưởi Hái Hoa” đăng trong tạp chí Sáng Tạo vào năm 1956 tại Sài Gòn. Bài ấy tác giả đăng đã lâu, không có sẵn tài liệu để nhớ hết, ta chỉ mang máng hiểu là ông đề ra lý thuyết sáng tạo tứ thơ và nhạc tính. Nhạc tính này do tổng hợp liên kết cả một đoạn thơ, không phải chỉ lộ ra ngay từ hai câu thơ như thường thấy trong luật thơ. Và tứ thơ cũng do tập hợp như vậy qua nhiều hình tượng tưởng như rời rạc không ăn nhập gì với nhau. Giống như trong ca dao với những câu: “Trèo lên cây bưởi hái hoa/Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân/Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc…”, những câu này dường như không liên hệ gì với ý tưởng trong các câu kế tiếp: “Em đã có chồng, anh tiếc lắm thay/Ba đồng một mớ trầu cay/Sao anh không hỏi những ngày còn không…”.
(more…)

Trần Văn Nam

duong_pham_ngu_lao
Photo ngày 27/9/2013 (*)

Thời thực dân tàn rụi
Tôi đến ngụ Sài Gòn
Góc đường đại tá Pháp
Thân quen ba năm tròn.

Chính đường Phạm Ngũ Lão
Xưa cư xá Pháp kiều
Bảng Cité còn đó
Trên bờ tường phong rêu.
(more…)

Trần Văn Nam

rail_road-walnut-california
Đường xe lửa thẳng băng ở City of Walnut-California.
8 Đường sắt chạy song song với Đại-lộ Valley;
và phía xa là dãy núi San Gabriel vào mùa đông.
Photo tháng 12/2008.

Ngang thành phố Walnut
Chuyến tàu chạy mỗi đêm
Hồi còi gọi dĩ vãng
Ngày càng vang vọng thêm.

Giữa mùa khô Walnut
Lừng lững chuyến tàu mưa
Ga Sài Gòn từ biệt
Mái giọt, chiều tiễn đưa.
(more…)

Trần Văn Nam

Nhớ thời Gia-Long tẩu quốc

song_man_thich
Sông Mân Thích*
Hình tác giả chụp năm 2013

Nhớ xưa, từng ở ven sông
Chiều hôm trên bến xa trông bãi bờ
Từ mười dặm cách Cần Thơ
Trà-Ôn thấy ánh điện mờ Tây Đô
Lần trang lịch sử, mơ hồ
Chúa Nguyễn Ánh dựng cơ đồ qua đây  (more…)

Trần Văn Nam

nguyen_manh_trinh
Nguyễn Mạnh Trinh, tác giả “Tạp Ghi văn Nghệ”,
sách dầy 622 trang, Người Việt xb. năm 2007

Nguyễn Mạnh Trinh là người viết nhiều bài báo về văn chương, và trước đây thơ ông cũng thường xuất hiện trên các diễn đàn văn học hải ngoại. Nhưng chưa thấy ông cho đăng một truyện ngắn nào, không như một số người vừa sáng tác thơ vừa sáng tác truyện. Hỏi ra ông cũng đã từng viết một truyện dài bốn trăm trang, gần như là một tự truyện kể lại từ ngày ông mất dịp ra đi bằng máy bay khu trục phản lực năm 1975 (nhờ mất dịp ra đi dù đã lên máy bay mà tự ý leo xuống để nhường cho một người khác cần rời khỏi VN hơn, do đó mà ông thoát chết, vì máy bay phản lực khu trục này đã gặp nạn không ai sống sót khi đáp xuống Thái Lan); và tự truyện cho đến khi coi như ông đã có một đời sống ổn định nghề nghiệp nơi xứ người. Câu chuyện kết thúc bằng những trang viết về cảm nghĩ buồn xa xôi một đời người tuy đã lên tới đỉnh bình yên: định cư nơi đất tốt, đời sống sung túc, vậy mà vẫn thấy khao khát một ước nguyện nào đó chưa thành, nên muốn lao xuống hay rời khỏi đỉnh bình yên. Ta liên-hệ mơ hồ giữa hai sự kiện: rời xuống máy bay để nhường cho bạn và rời xuống đời bình yên để bận tâm việc viết lách văn học. Ðại ý tương tự “Bản chúc thư trên ngọn đỉnh trời” của nhà văn Mai Thảo, nhưng ước nguyện lao xuống vực của Mai Thảo do động lực siêu hình bí ẩn, còn ước nguyện vượt xa hơn đỉnh của Nguyễn Mạnh Trinh tiềm ẩn ước nguyện hoàn thành một sự nghiệp văn học mà ông coi như chưa đạt tới. Truyện dài này đã viết xong, nhưng ông không thấy hứng xem xét lại để cho đăng tải hoặc xuất bản; ngoài ra Nguyễn Mạnh Trinh chưa từng viết một truyện ngắn nào, vậy kể như ông không mặn mòi với sáng tác bằng văn xuôi.
(more…)

Trần Văn Nam

huy_phuong
Nhà thơ Huy Phương

Hồi ở tuổi 15, tôi có đọc được một số thơ của tác giả Huy Phương đăng trên tuần báo “Đời Mới” ấn hành tại Sài Gòn từ 1951 đến 1955, trong đó có bài thơ nhan đề “Cát Lạnh” được lựa chọn đăng trang trọng nguyên một trang với hình vẽ màu xanh nhạt, kỹ thuật khá tân tiến về in ấn vào thời ấy. Tuần báo này do ông Trần Văn Ân làm chủ nhiệm, và chủ bút là nhà văn Nguyễn Đức Quỳnh. Tôi vẫn nhớ mãi bài thơ ấy, nhớ đến chất thơ lặng lẽ của một người một mình trước cảnh vật hoang sơ. Một mình không bao hàm tính cô đơn về lứa đôi, vì có lẽ lúc ấy ông Huy Phương chỉ độ 17 tuổi. Chỉ nhớ chất thơ mang tính thầm thì trước cảnh vật hoang sơ, nhưng không nhớ một câu thơ nào, tuy vậy vẫn nhớ ấy là một bài thơ bảy chữ, khoảng năm hay sáu đoạn. Tìm hỏi thì nhà thơ Huy Phương cũng không nhớ và không lưu giữ, kể như bài thơ đã hoàn toàn mất tích.
(more…)

Trần Văn Nam

ven_song_ma-quang_dung

Tính hào hùng rất dễ tìm thấy trong bài thơ Tây Tiến. Tính bi tráng của chiến tranh cũng rất dễ tìm ra trong bài thơ. Ngày nay ta thường nói về tính nhân bản để bàn về các tác phẩm chiến tranh. Bài thơ Tây Tiến cũng có nhiều dáng vẻ của tính phản chiến.  Dùng từ ngữ phản chiến thì hơi quá, nên xin diễn tả bằng những từ ngữ khác: Cảm nghĩ chân thực của con người đối với sự khốc liệt của bất cứ cuộc chiến tranh nào, dù đó là cuộc chiến tranh thần thánh huy động được cả toàn dân tham gia vào cuộc trường kỳ kháng Pháp. Tính hào hùng, tính bi cảm, hai khía cạnh của bài thơ Tây Tiến thực sự rất dễ tìm thấy, không phải là một gán ghép để trình bày quan niệm nhân bản thường được bàn tới bởi các sách báo Tây Phương. Ðiều làm ta ngạc nhiên là hai khía cạnh đó hiện diện song hành một cách tình cờ trong mỗi đoạn thơ. Ví dụ đoạn thơ đầu, lúc mới lên đường từ giã miền xuôi:

Sông Mã xa rồi, Tây Tiến ơi
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi
Sài Khao, sương lấp, đoàn quân mỏi
Mường Lát mưa về trong đêm hơi

(more…)

Trần Văn Nam

bia_trung_viet_viet_trung

Thời sự bao gồm rất nhiều mặt trong xã hội, nhưng ta nên phân biệt mặt nào nổi trội hơn hết. Mặt gần như vấn đề công ăn việc làm, an ninh công cộng. Mặt xa như tương lai đất nước sẽ đi về đâu. Ví dụ, ta đang sống tại đất nước Hoa Kỳ, mặt gần là tình hình mong ổn-định đời sống; mặt xa là cuộc bầu cử Tổng Thống mới cho nước Mỹ sắp diễn ra, vì điều đó đồng thời liên-hệ an-ninh thế giới, trong đó có đất nước Việt Nam. Còn cho Việt Nam, mặt xa của thời sự là vấn đề tranh chấp vòng đai an-ninh duyên hải, đưa tới sự an-toàn lãnh thổ, trong đó quyền khai thác tài nguyên về biển được tôn trọng.

Nhà văn Đỗ Quyên hiện cư ngụ tại Vancouver-Canada, thì bận tâm về thời-sự cũng gần giống như cư dân Việt đang ở Mỹ, đang là công-dân Mỹ, nhưng nguồn gốc vẫn là người Việt có những suy-tư về tình hình ở Biển Đông, nơi một cường-quốc đang lên muốn gồm thâu gần hết chủ quyền ở vùng biển đó.
(more…)

Trần Văn Nam

khuat_dau-dinh_cuong
Nhà thơ Khuất Đẩu
dinhcuong

Thời chiến tranh khốc liệt ở Miền Nam Việt Nam trước năm 1975, có một tập thơ mà chỉ với nhan đề thi phẩm thôi cũng đủ nói lên niềm lạc quan thấy vẫn còn le lói giữa mùa loạn lạc. Chiến tranh tàn phá đất nước, làm xã hội đảo điên, lòng người thấm đậm triết lý hiện sinh hiểu theo nghĩa tiêu cực nhất. Khi ấy xuất hiện thi phẩm “Những Dòng Nước Trong” của Hoàng Bảo Việt. Tiếc rằng hiện tại ta không có tập thơ này trong tay để tìm hiểu có những nét sáng tạo về nghệ thuật nào nhằm hổ trợ cho nội dung hé thấy những dòng nước trong giữa biển đời vẩn đục.
(more…)

Trần Văn Nam

thao_truong_2
Nhà văn Thảo Trường (1936-2010)

Ta thường hiểu khuynh hướng nỗi buồn cuộc chiến thuộc ý thức phản chiến, chống đối toàn bộ cuộc chiến tranh Việt Nam từ 1954 đến 1975, ở về phía tả-phái, ở về phía thành-phần-thứ-ba, nghiêng về hướng ủng hộ Cộng sản Việt Nam. Nhưng cũng có loại phản-chiến nhân bản chống đối mọi cuộc chiến tranh gây tổn hại cho con người, thuộc những tổ chức nhân đạo, không pha trộn chính trị, không để bị chính trị lôi kéo. Vậy nỗi buồn cuộc chiến hiểu theo nghĩa thời thượng phản chiến thì không thể song song với khuynh hướng dấn thân. Dấn thân hiểu theo nghĩa có ý thức tham dự cuộc chiến, dấn thân cho phe bên này hoặc dấn thân cho phe bên kia. Nhà văn Thảo Trường dấn thân cho phía Việt Nam Cộng Hòa, nhưng ông cũng có nỗi buồn cuộc chiến nhưng mang màu sắc chính trị ngược hướng phản chiến của tả-phái; đó là nỗi buồn cuộc chiến đối với “người dân bị liên lụy vào chiến tranh” do sống trong vùng trước đây là chiến khu, có những người đi tập kết như anh Tư, rồi “Anh Tư chưa bao giờ trở lại, nhưng những đồng chí của anh trở lại. Lúc đầu họ còn ẩn hiện trong xóm, dần dần họ đi lại công khai… Ðến một đêm súng nổ ran và lửa cháy thiêu rụi đồn…”. Vậy có thể nói phản chiến trong truyện của Thảo Trường ngược hướng với tả-phái kết án chiến tranh là do Mỹ, như ta thấy ở tác phẩm xuất bản năm 1966; và ba muơi ba năm sau (2009) thì ông ý thức nỗi buồn cuộc chiến ấy do “chiến tranh thì không thể làm vui vẻ cả làng được”.
(more…)

Trần Văn Nam

nha_van_linh_vnch

Trên tuần báo “Sàigon Times” vùng thung lũng San Gabriel thuộc địa phận Los Angeles ở Hoa Kỳ, ta có dịp đọc nhiều lần “Bài Gợi Nhớ Về Châu Ðốc” của Lâm Hảo Dũng. Bài thơ làm ta nhớ lại nếp sống dân gian Việt Nam với truyền thống “Cửa chùa rộng mở cho bá tánh”: đi lỡ đường thì có thể vào chùa ngủ nhờ một đêm. Và bài ấy cũng có một đoạn thơ tả rất kỳ diệu con sông Cửu Long bằng cái nhìn vừa thấm nhuần huyền ảo của đạo Phật vừa chan chứa lòng yêu mến quê hương. Quang cảnh ngoạn mục của chùa Tây An ở núi Sam Châu Ðốc đẹp rực rỡ trên nóc với những tượng rồng quẫy đuôi trong những đêm rằm. Tác giả tả những con rồng trên nóc chùa, hay tác giả viết về con sông Cửu Long đi ngang qua chùa rồi tiếp tục dòng chảy về hướng đại dương. Nếu từ trên cao, trên núi Sam xa, nhìn về sẽ mường tượng dòng trường giang hiện ra sau lưng chùa có cái đuôi vĩ đại nhưng nhỏ dần về phía biên giới Kampuchia:
(more…)

Trần Văn Nam

mam_trai_cay_ngu_qua

Bầu trời trong dĩa trái cây cúng rằm

Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà
(Thơ Nguyễn xuân Sanh)

Ðáy dĩa chất đầy trái nhiệt đới
Ðựng cả bầu trời tuổi ấu thơ
Thoảng nghe tiếng hót qua đồng nội
Chim đến vườn ao nước loáng bờ.
(more…)

Trần Văn Nam

luan_hoan
Nhà thơ Luân Hoán

Nhà thơ Luân Hoán đã có bề dầy văn chương qua số lượng sáng tác hiện diện trong sách báo, thời gian đóng góp từ trước 1975 cho đến nay ở hải ngoại, và phẩm chất tác phẩm làm người viết bài cảm thức được cái hay qua đề tài chiến tranh, tình yêu và siêu hình. Cảm thức những phẩm chất hay đó, xin lần lượt nêu ra trong ba phần. Dĩ nhiên còn biết bao đề tài khác, người viết mong được đưa bài này đến đứng cạnh để có được tổng thể về sự nghiệp văn chương của nhà thơ Luân Hoán, chẳng hạn như còn đề tài quê hương sinh quán, đề tài tổ quốc, đề tài tình bạn, đề tài từ ngữ thơ đôi khi diễu cợt….
(more…)

Trần Văn Nam

The Poet-Egon_Schiele
The Poet
Egon Schiele

I. Biến dạng của từ ngữ hữu-thể (từ bản-thể-học sang tâm-lý-học)

Ẩn thể siêu hình (hay hữu-thể) trong triết học của Heidegger không mang đặc tính của một danh từ mà nghiêng về động từ trong viễn tượng Dasein. Dasein là từ ngữ Ðức tương đồng với l’être-là của từ ngữ Pháp, diễn tả qua từ ngữ Việt khá dài dòng là “đối diện với một cái gì đang-hình-thành”. Vậy hữu-thể (être trong tiếng Pháp, sein trong tiếng Ðức) là bản chất đang hình thành, mà những gì đang hình thành là thực tại, là chân lý gắn liền với dự-phóng trong triết lý Heidegger. Chân lý đó cần phải sáng tác (thi ca là sáng tác theo cách dùng của Heidegger), không bao giờ là thực tại đã cứng đọng như một sự vật im lìm. Hữu thể (hay bản thể, hay ẩn thể siêu hình), theo Heidegger, đã bị vật-tính-hóa suốt dòng triết học cổ điển, chỉ là cái gì đã-hình-thành mất hết chất sinh động.
(more…)

Điều hợp: Nguyễn Lệ Uyên
Tham dự: Luân Hoán, Trần Doãn Nho, Trần Văn Nam, Trần Hoài Thư, Nguyễn Lệ Uyên, Nguyễn Vy Khanh, Lữ Quỳnh, Phạm Văn Nhàn, Trần thị Nguyệt Mai

group_discussion

Tạp chí Thư Quán Bản Thảo 63, dành phần lớn số trang cho chủ đề 20 NĂM VĂN HỌC MIỀN NAM, để một lần nữa, khẳng định sự đóng góp của các nhà văn nhà thơ trong giai đoạn máu lửa cùng giá trị nhân văn, tự do lẫn các khuynh hướng sáng tạo của họ trong giai đoạn đất nước lâm vào cuộc nội chiến tàn khốc nhất.

Văn học miền Nam 54-75 không hề mang tính chất độc hại của một loại sản phẩm văn hóa mà nhà cầm quyền CSVN gán cho cái nhãn nô dịch, phản động, đồi trụy. Ngược lại, nó đã làm tròn sứ mệnh của người cầm bút trước lịch sử văn học Việt Nam.

Những gì mà giới văn hóa văn nghệ miền Bắc, dưới sự chỉ huy của đảng CSVN đã và đang tiếp tục bức tử một nền văn học chói sáng ở một nửa đất nước, trong một cụm từ mang tính thóa mạ, báng bổ: “Văn học đô thị miền Nam” (?!), là điều không thể chấp nhận, đi ngược lại xu hướng phát triển đa chiều về văn hóa dân tộc của bất kỳ một quốc gia nào!
(more…)

Trần Văn Nam

poetry_reading-irene_sheri
Poetry reading – Irene Sheri

Chất thơ là cái có sẵn, thi sĩ sẽ làm nó hiển hiện ra trong dáng vẻ đã phơi bày, hay khai quật lên khi chất thơ vốn ẩn dấu. Thi hóa là làm thành thơ từ cái không có sẵn chất thơ. Trước hết, ta đề cập đến chất thơ lồ lộ phơi bày. Theo khuynh hướng thời đại mới, người ta sáng tạo thêm nhiều chất thơ, có chất thơ thô bạo, có chất thơ trần trụi đời sống không cần mơ mộng, có chất thơ dục tính không cần lãng mạn tình yêu. Và theo khuynh hướng chính trị, có chất thơ chiến đấu, có chất thơ xã hội tính, có chất thơ lao động sản xuất… Nhưng chất thơ trong nghĩa cổ điển của nó gắn liền với mỹ cảm hay tình cảm. Thơ T.T.Kh. có chất thơ thiên về tình cảm. Thơ Huy Cận tiền chiến có chất thơ thiên về mỹ cảm. Thơ Hàn Mặc Tử có chất thơ mỹ cảm phối hợp với thần cảm. Những phân biệt “thiên về” trên đây xét theo khía cạnh chênh chếch độ nghiêng nặng nhẹ mà thôi, vì thực ra trong thơ các thi sĩ nổi danh đều có ít nhiều mỹ cảm, tình cảm, thần cảm, thiền cảm… Nhưng chất thơ sẵn tính lồ lộ phơi bày thì đã có quá nhiều nhà thơ Ðông Tây Kim Cổ nói đến rồi. Muốn nói đến nữa, ta phải viết làm sao khác hẳn họ, phải độc đáo chưa ai từng nghĩ ra.Ví dụ “lá vàng rụng”, chất thơ phơi bày đó đã gợi hứng cho biết bao nhiêu thi sĩ rồi. Thi tính vô địch có lẽ dành cho một bài thơ Ðường với tứ thơ khi nghe thấy một chiếc lá vàng rơi thì mọi người đều biết là mùa thu đã đến:

Ngô đồng nhất diệp lạc
Thiên hạ cộng tri thu.
(more…)

Trần Văn Nam

train_at_night

Chuyến xe lửa trong đêm nguyệt thực

Quá nửa khuya rồi đó
Trăng đang ngã về Tây
Tôi ra ngoài hóng mát
Có nguyệt thực đêm nay.

Vang tiếng còi xe lửa
Lúc nguyệt thực đến giờ
Nửa vầng trăng cuối tháng
Mất hẳn trong huyền mơ.
(more…)

Trần Văn Nam

mai_thao-dinh_cuong
Nhà văn Mai Thảo (1927-1998) – Đinh Cường

I. Thơ như một xóa bỏ tận cùng, khác nào đường gươm không cần đến gươm

Nhà văn Mai Thảo được biết nhiều thời Văn Học Miền Nam từ năm 1956, vì ông là chủ nhiệm chủ bút tờ Tạp chí Sáng Tạo tại Sài Gòn. Ông là nhà văn sáng tạo của nhiều tập truyện ngắn. Ông còn là tiểu-thuyết-gia của những truyện tình dài. Nhưng ông coi thơ như tiếng nói tận cùng và chung quyết của văn chương, nên ta không nói tới thơ của ông là một thiếu sót. Nơi bìa sau thi-phẩm của ông “Ta Thấy Hình Ta Những Miếu Ðền” (xuất bản năm 1989 tại Nam California), có tóm tắt quan niệm thi-ca. Theo quan điểm của ông, cái “không còn gì nữa hết là thơ”. Quan điểm này rất gần với Ðạo không diễn tả bằng ngôn ngữ thế gian được của Lão Tử, hay vô ngôn như “niêm hoa vi tiếu” của Phật Giáo Thiền Tông. Vấn đề này thật thâm viễn, xin không lạm bàn ở đây. Ði sát với quan điểm này, ông có những bài thơ thực sự như muốn xóa bỏ ngôn ngữ văn chương, xóa bỏ thẩm mỹ của nghệ thuật, xóa bỏ thi tính của thơ, vượt qua cảm nhận của thưởng ngoạn bình thường. Làm thơ như ăn như ngủ, rất gần với thơ Bùi Giáng mà ông có dịp nhắc đến (trong bài phỏng vấn của Nguyễn Mạnh Trinh về những điều ông biết về nhà thơ Ðinh Hùng), ví dụ bài thơ dưới đây của Mai Thảo:

Ðẩy linh cữu bạn vào lò hỏa thiêu
Trở về phòng riêng lấy rượu uống
Ly rượu không bạn buồn lạ lùng
Cứ uống như lúc bạn còn sống.
(Không Bạn)
(more…)

Trần Văn Nam

Watchf Associated Press International News   Vietnam APHS56452 VIETNAMESE SHIPS

Người thanh niên văn-học Mỹ bên bờ Hậu-Giang

Năm một chín sáu tám
Tôi ở quận Trà-Ôn
Có những khinh-tốc-đỉnh
Hải-quân Mỹ trú đồn.

Thấy một thanh niên Mỹ
Thời quân-dịch, đến đây
Trên tay cầm những sách
Thuộc văn-học phương Tây.
(more…)

Trần Văn Nam

cau_treo_tay_nguyen

Từ thời thơ ấu khoảng bảy hay tám tuổi, người viết bài này cũng đã từng chạy lánh nạn vào vùng sơn cước dãy Trường Sơn, khi quân Pháp đến đốt phá làng gần Con Đường Cái Quan, nhắm hủy diệt lúa gạo tiếp tế Việt Minh. Làng ấy thuộc tỉnh Khánh Hòa cách Nha Trang độ 30 cây số về hướng Bắc, và sự việc xảy ra vào khoảng năm 1947 hay 1948… Rồi quân Pháp đóng đồn để kiểm soát bình định vùng làng mạc, rồi dân chúng lục tục từ sơn cước trở về chốn cũ để sinh sống.  Nghiệm ra điều nhớ mãi trong ký ức mờ mịt chính là những gì đẹp buồn, không phải ấn tượng dữ dội đối với tuổi thơ như quân Pháp thị uy bắn chết con chó chạy ra sủa, hay lửa cháy thành ngọn trên các nóc nhà tranh, hay nghe người lớn kể lại một sĩ quan Pháp bắn chết người dân vô tội đang quỳ lạy nói mình không phải Việt Minh và một sĩ quan trẻ người Pháp khác cố can ngăn mà không được.
(more…)