Archive for the ‘Biên Khảo / Phê Bình’ Category

Nguyễn Minh Thanh


Chí sĩ Phan Bội Châu (1867 – 1940)

I. Lược sử Phan Bội Châu

Ông là con của ông Phan Văn Phổ và bà Nguyễn Thị Nhàn, người huyện Nam Đàn, Nghệ An. Chính tên là Phan Văn San, song vì phạm húy Vĩnh San (tên của vua Duy Tân) nên đổi là Phan Bội Châu. Ông có nhiều biệt hiệu, Sào Nam là phổ thông nhất. Chữ Sào Nam lấy ý từ câu “Việt điểu sào nam chi”, (Chim Vịêt làm ổ trên cành phía Nam).

Thiên bẩm thông minh đỉnh ngộ, mới 6 tuổi Phan Bội Châu đã học hết Tam Tự kinh. Năm 1900 ông đậu Giải Nguyên (đầu khoa) khoa thi Hương.

Sau khi đổ Giải Nguyên, ông sống bằng nghề dạy học và đi khắp nơi giao du cùng Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp, Nguyễn Thượng Hiền, Nguyễn Quyền, Ngô Đức Kế… mưu đại sự cứu nước, giành độc lập từ tay người Pháp.
(more…)

Nguyễn Văn Sâm
(Tặng hai cựu đồng nghiệp của tôi ở trường Đại Học Văn Khoa ngày trước: NTT, NKh.)

phu_con_muoi

Trước hết nên phân biệt giữa bài hịch và bài phú. Về phương diện chủ đích, hịch là lời truyền rao kêu gọi làm chuyện gì đó. Đánh kẻ thù bên ngoài, diệt kẻ bạo tàn bên trong chẳng hạn. Nửa đêm truyền hịch hẹn ngày xuất chinh. (Chinh Phụ ngâm).

Xưa còn truyền tụng đến nay chỉ vài ba bài hịch: Hịch Tướng Sĩ của Trần Hưng Đạo, Hịch của Nguyễn Trãi tức Bình Ngô Đại Cáo, Hịch đánh Trịnh tương truyền là của Nguyễn Hữu Chỉnh, Thảo Thử hịch (Bài hịch giết chuột, chuột đây cũng là giống sâu dân mọt nước, theo kẻ thù tàn hại dân lành…, tên tác giả vẫn còn là vấn đề ).

Phú là bài nói lên ý mình, giải bày những suy nghĩ của tác giả có tính cách văn chương niêm luật. Phú để giải bày, không kêu gọi như hịch. Phú Việt Nam còn lại thật nhiều, nhứt là phú viết bằng chữ Nôm. Ông Vũ Khắc Tiệp đã in quyển Phú Nôm tập hợp những bài phú thật hay là quyển sách có giá trị cho tới nay chưa có thêm quyển nào về loại nầy nói chi là vượt được Vũ Khắc Tiệp. Học sinh Trung học thời Việt Nam Cộng Hòa ai cũng biết hai bài phú danh tiếng Phú Hỏng Thi của Trần Tế Xương và Phú Tài Tử Đa Cùng của Cao Bá Quát.
(more…)

Alex-Thái Đ. Võ

sach_tet_1957

Cuối tháng 12 âm lịch năm Bính Thân, 1956, nhà xuất bản Minh Đức cho xuất bản một tác phẩm với tựa Sách Tết 1957, đánh dấu sự cố gắng cuối cùng của phong trào Nhân Văn-Giai Phẩm.

Đến nay đã là một chu kỳ 60 năm. Hầu như không mấy người còn biết đến tác phẩm này và ý nghĩa đặc biệt của nó đối với phong trào Nhân Văn-Giai Phẩm. Với một bìa in màu bức tranh các thiếu nữ đi chợ Tết, tập sách gồm 28 trang ruột ở khổ 27x39cm có thể được xem là ấn phẩm cuối cùng của nhóm Nhân Văn-Giai Phẩm.

Nhân Văn-Giai Phẩm là một chủ đề lớn, một sự kiện lịch sử quan trọng cần nghiên cứu và phân tích sâu nên khó lòng có thể bàn hết trong không gian hạn hẹp này. Nhưng để hiểu thêm về sự hình thành của tập Sách Tết 1957 và mối liên quan của nó đối với phong trào Nhân Văn-Giai Phẩm, bài viết này xin giới thiệu sơ lược đôi nét về bối cảnh lịch sử và liệt kê một số thông tin cơ bản về các tác phẩm đã tạo nên phong trào Nhân Văn-Giai Phẩm.
(more…)

Nguyễn Văn Sâm

truong_vinh_ky
Trương Vĩnh Ký (1837-1898)

Ở trong nước mấy chục năm nay người ta không chứng minh, chỉ đề quyết  rằng Trương Vĩnh Ký là người theo Tây, ông làm công chức cho Tây (thông dịch viên, thầy giáo trường Thông Ngôn..), làm quan  trong triều đình Việt Nam nhưng dưới sự điều khiển của Tây… Vậy thì Trương Vĩnh Ký phải bị xổ toẹt ra khỏi danh sách danh nhân Việt Nam bằng mọi cách.

Kết tội ông là tạo nên Cái Oan Thế Kỷ.

Ta chỉ cần dựa trên một vài bài văn mà Trương Vĩnh Ký cho đăng trên nguyệt san giáo dục Thông Loại Khóa Trình (Miscellanées) do ông chủ trương để thấy rằng ông không ưa Tây. Cái khó là dưới sự kềm kẹp và nhiều mũi dùi chăm chăm vào mình, ông Trương Vĩnh Ký phải rất cẩn thận nên sự chống đối đó cũng hơi khó thấy. Khó thấy nhưng ta cũng tìm được.
(more…)

Ngô Thế Vinh
Gửi Nhóm Bạn Cửu Long

If Tibet dries, Asia dies
Nếu Tây Tạng khô hạn, Châu Á chết
[www.tibetanwomen.org]

dalai_lama_2
Hình 1: Đức Dalai Lama và Cực Thứ Ba của Trái Đất
[nguồn: http://www.activeremedy.org]

CỰC THỨ BA CỦA TRÁI ĐẤT

Khoảng ba trăm triệu năm trước, Tây Tạng còn nằm dưới đáy biển Tethys nguyên là một đại dương mênh mông bao trùm cả diện tích Châu Á và Ấn Độ. Do hành trình va chạm dữ dội của hai khối tiền lục địa Gondwanaland và Laurasia tạo nên cơn địa chấn với sức ép khổng lồ từ khối đất Ấn Độ dồn lên phía bắc tạo thành dãy Hy Mã Lạp Sơn và Cao nguyên Tây Tạng.

Với lịch sử địa chất ấy, Tây Tạng là vùng đất cao từ 3500 tới 5000 m – được mệnh danh là “xứ tuyết”, “nóc của trái đất”, hay “Cực Thứ Ba / Third Pole” — hai cực kia là Bắc Cực và Nam Cực. Tây Tạng với diện tích hơn một triệu km2 gần bằng Tây Âu nhưng cô lập với thế giới bên ngoài bởi ba bề núi non hiểm trở: phía nam là dãy Hy Mã Lạp Sơn, phía tây là rặng Karakoram, phía bắc là các rặng Kunlun và Tangla; riêng phía đông cũng bị cắt khoảng bởi các dãy núi không cao và lũng sâu và thoải dần xuống tới biên giới Trung Hoa, ráp gianh với hai tỉnh Tứ Xuyên và Vân Nam.
(more…)

Thiếu Khanh
(Thay lời dịch giả)

cover_the_birth_of_vietnam

Năm 1924 một người dân làng Đông Sơn, ngôi làng quê phía trên cầu Hàm Rồng, cách tỉnh lỵ Thanh Hóa vài cây số, đi câu cá, tình cờ nhặt được vài món cổ vật thời tiền sử. Từ đó người ta phát hiện và khai quật một nền văn hóa khảo cổ tại ngôi làng này, và tên Đông Sơn nhanh chóng trở thành một địa danh lừng lẫy trong giới sử học không những ở Việt Nam mà cả quốc tế. Mười năm sau, năm 1934, nhà khảo cổ học người Áo Heine Geldern R, đề xướng gọi nền văn hóa khảo cổ phát hiện ở Đông Sơn là “Văn hóa Đông Sơn.” Chủ nhân của nền văn hóa đó đã sống cách đây trên 3000 năm. Tuy nhận thấy tính bản địa rõ rệt của nền văn hóa này, nhưng hầu hết các học giả thời đó đều không tin đó là một nền văn hóa của người Việt cổ, và cho nó là một nền văn hóa ngoại lai, của Tàu hoặc thậm chí của… châu Âu!.
(more…)

Nguyễn Minh Thanh

– Tưởng niệm công đức tiền nhân.
– Tưởng kính quí Thầy Cô xưa…
– Tưởng nhớ quí bạn cũ, cựu học sinh Thủ Khoa Nghĩa Châu Đốc.

mo_va_den_tho_bui_huu_nghia
Mộ và đền thờ Thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa

Lược sử Thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa (1807-1872)

Ông còn có tên Bùi Quang Nghĩa, hiệu Nghi Chi, người quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ. Cha là Bùi Hữu Vị, có chỗ ghi là Bùi Hữu Đá, làm nghề dân chài. Thuở nhỏ, Bùi Hữu Nghĩa rất thông minh theo học chữ Nho, nhưng nhà nghèo nghỉ học. May nhờ người nói giúp, lên Biên Hoà ở nhà ông Nguyễn Văn Lý là phú gia trong làng, đi học với thầy đồ Hoành và rồi được ông Lý gả con cho.

Năm 1835, đời vua Minh Mạng, Bùi Hữu Nghĩa thi đỗ Giải Nguyên (Thủ khoa) kỳ thi Hương ở Gia Định nên thường gọi là Thủ khoa Nghĩa. Lúc ấy Ông 28 tuổi. Năm sau Bùi Hữu Nghĩa ra Huế thi Hội, nhưng rớt. Tuy nhiên Thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa vẫn được vua Minh Mạng cho tập sự ở Bộ Lễ và cử đi sứ nước Xiêm, khi về được bổ nhiệm làm Tri huyện Phước Chánh tỉnh Biên Hoà. Với lòng thương dân, dạ ngay thẳng, không bợ đỡ cấp trên nên về sau bị đổi đến làm Tri huyện Trà Vang tức Trà Vinh tỉnh Vỉnh Long. Vẫn tính tình cương trực như tự thuở nào.
(more…)

Nhật Tiến
(Trích “Từ Nhóm Bút Việt đến Trung Tâm Văn Bút Việt Nam”)

tru_so_nhom_but_viet-1957
Trụ sở ở số 157 đường Phan đình Phùng Sài Gòn
(Hình trên Thế Giới Tự Do, số 9, tập 7 năm 1957)

LỜI NÓI ĐẦU

Miền Nam Việt Nam thời kỳ 1954-1975 nói về mặt sinh hoạt văn hóa thì đó là một thời kỳ rực rỡ được vun trồng bởi nhiệt huyết của một số lượng nhân sự lớn lao bao gồm các nhà văn, nhà thơ, nhà biên khảo, các nhạc sĩ, họa sĩ, các nghệ sĩ trong mọi ngành sân khấu, điện ảnh và cả các giới chức trong toàn ngành giáo dục. Nhiều thế hệ qua đó đã được đào tạo, vừa nhằm mục đích gây dựng một nền tảng đạo đức xã hội song song với việc duy trì truyển thống văn hóa tốt đẹp của Cha Ông và cũng vừa làm nẩy nở và phát triển thêm về những tư tưởng khai phóng, dân chủ qua các trào lưu văn hóa mới trên thế giới.
(more…)

Thụy Khuê

duong_nghiem_mau_4
Nhà văn Dương Nghiễm Mậu
(1936-2016)

Tiểu sử: Dương Nghiễm Mậu tên thật là Phí Ích Nghiễm, sinh ngày 19 tháng 11 năm 1936 tại quê nội làng Mậu Hòa (quê ngoại làng Dương Liễu), huyện Đan Phượng, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông. Từ 12 đến 18 tuổi sống ở Hà Nội. Học tiểu học ở trường Hàng Than, trung học, Chu Văn An, viết đoản văn, tùy bút cho báo trường và các báo có phụ trang văn nghệ học sinh. 1954 di cư vào Nam với gia đình, năm đầu ở Huế, năm sau ra Nha Trang, hè 1957 vào sống hẳn Sài Gòn.

Từ 1957 trở đi viết nhiều: tạp văn, tùy bút, đoản văn, truyện ngắn, truyện dài. Tiểu thuyết đầu tay Đầy tuổi tôi đăng trên tạp chí Văn Nghệ từ số 2, tháng 3/1961 (sau in thành sách đổi tên là Tuổi nước độc, Văn, 1966), truyện ngắn Cũng đành in lần đầu trên báo Tân Phong của Trương Bảo Sơn; truyện ngắn Rượu chưa đủ, trên Sáng Tạo (bộ cũ, số 28-29 tháng 1-2/1959) đã xác định phong cách văn chương Dương Nghiễm Mậu. Từ 1962, làm tạp chí Văn Nghệ với Lý Hoàng Phong, đồng thời viết cho Sáng Tạo, Thế Kỷ 20, Tin Sáng, Văn, Văn Học, Bách Khoa, Giao Điểm, Chính Văn, Giữ Thơm Quê Mẹ, Sóng Thần… Tập truyện ngắn đầu tay Cũng đành do tạp chí Văn Nghệ xuất bản năm 1963. Truyện dài Gia tài người mẹ (Văn Nghệ, 1964), được giải thưởng Văn Chương Toàn Quốc (miền Nam), 1966.
(more…)

Trần Văn Nam

ven_song_ma-quang_dung

Tính hào hùng rất dễ tìm thấy trong bài thơ Tây Tiến. Tính bi tráng của chiến tranh cũng rất dễ tìm ra trong bài thơ. Ngày nay ta thường nói về tính nhân bản để bàn về các tác phẩm chiến tranh. Bài thơ Tây Tiến cũng có nhiều dáng vẻ của tính phản chiến.  Dùng từ ngữ phản chiến thì hơi quá, nên xin diễn tả bằng những từ ngữ khác: Cảm nghĩ chân thực của con người đối với sự khốc liệt của bất cứ cuộc chiến tranh nào, dù đó là cuộc chiến tranh thần thánh huy động được cả toàn dân tham gia vào cuộc trường kỳ kháng Pháp. Tính hào hùng, tính bi cảm, hai khía cạnh của bài thơ Tây Tiến thực sự rất dễ tìm thấy, không phải là một gán ghép để trình bày quan niệm nhân bản thường được bàn tới bởi các sách báo Tây Phương. Ðiều làm ta ngạc nhiên là hai khía cạnh đó hiện diện song hành một cách tình cờ trong mỗi đoạn thơ. Ví dụ đoạn thơ đầu, lúc mới lên đường từ giã miền xuôi:

Sông Mã xa rồi, Tây Tiến ơi
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi
Sài Khao, sương lấp, đoàn quân mỏi
Mường Lát mưa về trong đêm hơi

(more…)

Trần Văn Nam

khuat_dau-dinh_cuong
Nhà thơ Khuất Đẩu
dinhcuong

Thời chiến tranh khốc liệt ở Miền Nam Việt Nam trước năm 1975, có một tập thơ mà chỉ với nhan đề thi phẩm thôi cũng đủ nói lên niềm lạc quan thấy vẫn còn le lói giữa mùa loạn lạc. Chiến tranh tàn phá đất nước, làm xã hội đảo điên, lòng người thấm đậm triết lý hiện sinh hiểu theo nghĩa tiêu cực nhất. Khi ấy xuất hiện thi phẩm “Những Dòng Nước Trong” của Hoàng Bảo Việt. Tiếc rằng hiện tại ta không có tập thơ này trong tay để tìm hiểu có những nét sáng tạo về nghệ thuật nào nhằm hổ trợ cho nội dung hé thấy những dòng nước trong giữa biển đời vẩn đục.
(more…)

Trần Hoài Thư

bia_tap_chi_mai

Mai là tạp chí phát hành mỗi tháng 2 kỳ, ra ngày 1 và 15. Chủ nhiệm: Hoàng Minh Tuynh. Giám đốc chính trị: Huỳnh Văn Lang. Tòa soạn 80 Hồng Thập Tự Sài Gòn. Báo có mặt 6 năm từ 1960 đến 1966. Từ tháng 7-1962 đến tháng 11- 1966, Mai bắt đầu đánh số trở lại, gọi là Mai bộ mới. Chủ nhiệm vẫn là Hoàng Minh Tuynh.

Báo khổ nửa giấy báo nhật trình, dày 40 trang, có 4 trang quảng cáo. Chỉ bắt đầu từ tháng 12-1964, khổ giấy được đổi lại nhỏ hơn như khổ của tạp chí Văn, và cũng được đánh số trở lại. .. Số 16-17 phát hành ngày 1-8-1966 là số cuối cùng, với các bài của Lê văn Hảo, Vũ Đình Lưu, Hoàng Minh Tuynh, Père Jean Subra..
(more…)

Nguyễn Văn Sâm

chan_dung_nhat_linh-nguyen_gia_tri
Chân dung nhà văn Nhất Linh (1906-1963)
Nguyễn Gia Trí

Năm 1926 Nhất Linh lúc đó là một thanh niên còn rất trẻ, cho ra đời quyển Nho Phong viết trong hai năm 1924-1925, lúc mới 18, 19 tuổi. Năm sau 1927 ông viết và in tập truyện Người Quay Tơ. Căn cứ trên những năm viết 1924-1927 thì ta chắc chắn rằng hai tác phẩm nầy là hai công trình văn nghệ đầu tay của Nguyễn Tường Tam, người thanh niên mới chập chững vào đời và mới bước vào chuyện viết lách.

Hai tác phẩm nầy có phần số đặc biệt của nó.
(more…)

Nguyễn Lệ Uyên

hoai_khanh_2.jpg
Nhà thơ Hoài Khanh (1933-2016)

LTS: Nhà thơ Hoài Khanh vừa qua đời ngày 23.3.2016 tại nhà riêng ở Biên Hòa, Đồng Nai Việt Nam, hưởng thọ 83 tuổi. Chúng tôi đăng lại bài của nhà văn Nguyễn Lệ Uyên viết về ông như một nén nhang tưởng nhớ.

Khoảng giữa thập niên 1960, tôi đứng xa nhìn ngắm Hoài Khanh qua những bài thơ đăng rải rác trên các tạp chí Văn Nghệ Sài Gòn, một vài truyện ngắn, một số dịch phẩm và đặc biệt là các bài viết về thi ca Châu Phi da đen. Đứng rất xa đọc và không có một ý niệm nào rõ rệt, ngay cả khi đến tòa soạn gửi bài cho tập san Giữ Thơm Quê Mẹ thấy ông đang ngồi tiếp chuyện thầy Thanh Tuệ và Tuệ Sĩ.
(more…)

Thụy Khuê

vu_khac_khoan
Nhà văn, Kịch tác gia Vũ Khắc Khoan (1917-1986)

Tiểu sử

Vũ Khắc Khoan sinh ngày 27/02/1917 tại Hà Nội. Mất ngày 12/9/1986, tại Minnesota, Hoa Kỳ. Học sinh trường Bưởi; Lên đại học, theo ngành y khoa hai năm, trước khi vào trường Cao Đẳng Canh Nông. Tốt nghiệp, làm kỹ sư canh nông được một năm rồi chuyển hẳn sang dạy lịch sử tại hai trường Nguyễn Trãi và Chu Văn An, Hà Nội và hoạt động kịch nghệ, viết văn, thành lập nhóm Quan Điểm với Nghiêm Xuân Hồng.

Từ 1948 Vũ Khắc Khoan bắt đầu in bài trên báo Phổ Thông: hai vở kịch Thằng Cuội ngồi gốc cây đa (1948) và Giao thừa (1949) và bài tùy bút Mơ Hương Cảng (1953).

Ngay từ thời còn là sinh viên y khoa, Vũ Khắc Khoan đã đạo diễn những vở Thế Chiến quốcNửa đêm truyền hịch của Trần Tử Anh, trình diễn tại Nhà Hát Lớn Hà Nội; viết và dựng kịch bản đầu tay Trường ca Mông Cổ, tác phẩm làm nền cho vở Thành Cát Tư Hãn sau này. Năm 1952, ông vừa dựng, vừa diễn vở Thằng Cuội ngồi gốc cây đa tại Nhà Hát Lớn.
(more…)

Trần thị LaiHồng

Văn Thánh trồng Thông
Võ Thánh trồng Bàng
Ngó qua Xã Tắc hai hàng Mù U…
(Ca dao Huế)

slash_pine
Thông Slash Pine thân uốn cong
kề cận kè rẽ quạt Saw Palmetto

Photo Nhö Thöông 27 tháng 11, 2015

Vườn Quê Xa mang ước vọng hội nhập phần nào cây trái quê hương thân thương mịt mù xa cách, nên ráng thu gom được nhiều loại, và bài này riêng về thông, bàng và mù u.

Thông nơi này là Slash Pine, không giống thông nhựa hai lá núi Ngự Bình, đàn Nam Giao, rừng Đan viện Thiên An phía Tây Nam thành phố Huế, hay thông năm lá Đà Lạt, tuy cùng thuộc họ Pinaceae, nhưng là loại Pinus eliottii, lá có nhiều chùm liền nhau ngay đầu cành, trông giống cái chổi. Dưới gốc thường hay có lá kè rẽ quạt Saw Palmetto khắng khít kề cận.
(more…)

Phan Thành Khương

phan_chau_trinh
Phan Châu Trinh (1872-1926)

Năm 2016 là năm kỉ niệm 90 năm Ngày mất của Nhà cách mạng, Nhà văn hóa kiệt xuất Phan Châu Trinh (24/3/1926 – 24/3/2016). Trong quá trình hoạt động cứu Nước, cứu Dân, Phan Châu Trinh đã viết một khối lượng tác phẩm đồ sộ bằng chữ Hán, chữ Nôm, chữ Quốc ngữ và chữ Pháp, với nhiều thể loại khác nhau: thơ chữ Hán và thơ tiếng Việt, nghị luận chính trị, tiểu thuyết diễn ca, các bài báo, các bài diễn thuyết, thư từ, v.v… (1).

Nhân dịp đón năm mới 2016, chúng ta cùng đọc lại một số thi phẩm của Ông để hiểu được phần nào lòng yêu Nước thương Dân đậm đà, sâu sắc, tinh thần cách mạng kiên cường, gan thép và tư tưởng tiên tiến của vị Lãnh tụ Phong trào Duy Tân, của một Người mà “Ba tấc lưỡi mà gươm mà súng, nhà cường quyền trông gió cũng gai ghê; Một ngòi lông vừa trống vừa chiêng, cửa dân chủ khêu đèn thêm rạng chói.” (“Văn tế Phan Châu Trinh” – Phan Bội Châu).
(more…)

Nguyễn Lệ Uyên

tuong_thuong_tiec
Thương Tiếc
Nguyễn Thanh Thu

Trên thế giới này, bất kỳ thời đại nào, chiến tranh luôn là tai họa đối với loài người. Kẻ gây chiến luôn gieo rắc tội ác đổ xuống nhân gian, là bọn khốn nạn, vô luân nhất trần gian… cùng vô vàn tính từ ghê tởm gắn cho chúng.

Hai mươi năm nội chiến Nam-Bắc là cuộc chiến vô đạo, phi nhân đến từ một học thuyết xuẩn động và man rợ nhất, gieo rắc bao nỗi kinh hoàng, những cái chết phi lý, không đáng có.

Hàng triệu tấn bom đạn vãi ra, bằng con số ấy nhà cửa ruộng vườn nát tan, và với con số ấy những lương dân đã gục chết thê thảm, cũng chỉ bởi một dúm người không tim, chẳng có óc (!) đến nỗi một người dân bình thường phải thảng thốt kêu lên “Chiến tranh con mẹ gì mà lâu thế” (Y Uyên, Mùa xuân qua đèo) hay một người lính tham dự vào cuộc chiến cũng đã phẫn nộ “Chiến tranh hả? Chiến tranh là cái c… chó gì!” (Thảo Trường, Cánh đồng đã mất).
(more…)

Nguyễn Văn Sâm

truyen_tho_truong_thien_huu_1
Tựa và năm viết của
truyện thơ Trương Thiện Hữu

Cách nay hơn 10 năm, trong một lần xem tủ sách sưu tập của một nhân vật chơi sách tiếng tăm ở Saigon trên đường Trương Minh Giảng cũ, tôi được cho phép sao chép quyển truyện Nôm ít người biết đến: Trương Thiện Hữu Diễn Ca 張善有演歌. Bản văn viết bằng thứ chữ Nôm cực đẹp trên giấy mỏng của thời xưa gồm 40 tờ, mỗi tờ 2 trang viết một mặt, xếp đôi lại theo cách thông thường của sách xưa – như vậy sách gồm cả thảy là 80 trang.
(more…)

Nguyễn Văn Sâm

bia_u_tinh_luc

I.
Đọc vài ba câu ca dao của miền Nam ta sẽ thích thú ngay với những hình ảnh đuợc mô tả, cách nói, thái độ của nhân vật, ta cảm thấy gần gũi với họ biết bao nhiêu.

Chẳng hạn lời trách cứ của người trai:

Bậu nói với qua bậu không bẻ mận hái đào
Mận đâu bậu bọc mà đào nào bậu cầm tay.

(more…)

Nguyễn Văn Sâm

tay_du_ky

Tổng quan

Năm 1952, ở tận cực Nam nước Việt là tỉnh Châu Đốc, ông Nam Cư Nguyễn Đình Triêm, một người cháu nội của Nguyễn Đình Chiểu, khi giới thiệu tiểu sử Bùi Hữu Nghĩa trong quyển Bùi Hữu Nghĩa, Thơ Văn và Vở Tuồng Kim Thạch Kỳ Duyên có nhắc đến hai tuồng hát bội Tây DuMậu Tòng của Bùi Hữu Nghĩa. Tuy ông Nam Cư không nói gì đến nguồn tài liệu dẫn đến sự tuyên bố nầy, nhưng với cung cách làm việc của ông, chúng tôi tin tưởng rằng lời xác quyết trên mang nhiều giá trị khả tín cho đến khi có ai đó trình làng bằng chứng nói khác đi. Trước tới giờ, một vài tác giả khi nói tổng quát về hát bội cũng có nhắc đến tuồng Tây Du, nhưng không nhắc gì về tác giả, cũng không dẫn chứng một câu nào của tuồng đồ sộ 100 hồi (độ 4000 trang) nầy. Lý do là tuồng còn ở dạng chữ Nôm và hiện tại chỉ Thư Viện Trường Viễn Đông Bác Cổ ở Paris lưu tồn được một bản viết tay thôi, không ai thấy ở đâu nữa một bản nào khác. Tuồng quá dài, sao chụp được toàn bộ cũng khá vất vã, phiên âm cũng mệt mà đọc hết chắc cũng ngất ngư, cho nên giới thiệu toàn bộ chưa chắc đã hữu ích về mặt giải trí… Chúng tôi tùy theo hoàn cảnh và khả năng phổ biến của mình mà giới thiệu từng hồi một, không nhứt thiết đi theo thứ tự nào, độc giả cũng không nhứt thiết phải đọc nguyên văn từng hồi sẽ được chúng tôi phiên âm sau nầy. Không nhứt thiết vì hát bội là thể văn xa xưa lời lẽ đã cao kỳ mà văn chương lại nhiều chữ cổ xưa khó hiểu tường tận. Giải quyết phần nào tình trạng đó bước đầu chúng tôi xin giới thiệu tóm lược và nêu ra ý nghĩa mỗi hồi khi có thể được.
(more…)

Ngô Nguyên Nghiễm

tuy_ha
Nhà thơ Túy Hà

Không hiểu sao khi nghiền ngẫm tinh hoa trong thơ Túy Hà, người đọc vẫn thấy lẻ loi trong không gian tương ngộ trước mấy câu thơ “Ảo mộng phù vân trăm nhánh rẽ/ Biết mà sao vẫn quặn lòng đau”. Đứng giữa hoang phế đường đời trăm ngàn lối nhỏ phải chọn để bước qua truông, những hư ảo vẫn biết rằng nhiều phen quấn quýt trong cuộc sống. Bên cạnh những hư thực cuộc đời như tiểu mộng, cứ vướng vất đơm hoa nguyệt huyết chung quanh ảnh tượng của những khúc tình ca ! Bất cứ người nhìn mộng như thực, thì muôn kiếp sinh tồn đều chìm đắm trong họa phẩm tượng trưng, cứ chau mình trong nguyệt khuyết mà vướng vất sương rơi… Có lẽ, thi nhân không thoát khỏi ảnh tượng đó, mà vét hết nỗi lòng chiêm nghiệm phù vân trong nỗi hoài niệm. Biết vậy, nhưng vẫn “ Tiếng thở dài sâu lời thơ gọi/ Vọng từ xa thẳm bến giang đầu”… Sao lại là thơ gọi, khi những ảo khúc tình ca cứ thăm thẳm chìm ngập trong ngũ tạng người thơ ?
(more…)

Đoàn Thị Tảo

phan_dac_lu-we_are_one
Nhà thơ Phan Đắc Lữ

Ngày ấy là cuối những năm năm mươi của thế kỹ trước, chàng trai trẻ của đất Quảng Nam bỏ cả học hành, không ngại hiểm nguy, rời bỏ Sài Sòn vượt Trường Sơn ra Hà Nôi.

Ngày ấy Phan Đắc Lữ lang bạt khắp đất Bắc, chiêm nghiệm cuộc đời trong nỗi niềm đau đáu nhớ quê!

Những vấp váp đầu đời: Đổ vỡ ước mơ, hoài bão không thành, công danh chẳng toại nhưng trong mắt những người trẻ tuổi như chúng tôi ngày ấy, một Phan Đắc Lữ anh hùng cái thế như tráng sỹ Đinh Lăng, đặt cuộc đời trên yên ngựa để trả nợ non sông – một Thâm Tâm “Nhất khứ bất phục phản” : “Chí lớn không về bàn tay không”.
(more…)

Thụy Khuê

vo_phien_5
Nhà văn Võ Phiến (1925-2015)

Tiểu sử Võ Phiến

Võ Phiến tên thật là Đoàn Thế Nhơn, bút hiệu khác: Tràng Thiên. Ông sinh ngày 20/10/1925 tại làng Trà Bình, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định. Cha là Đoàn Thế Cần làm giáo học, mẹ là Ngô Thị Cương. Võ Phiến có người em ruột là Đoàn Thế Hối, sinh năm 1932, sau này ra Bắc tập kết, cũng là nhà văn bút hiệu Lê Vĩnh Hoà. Khoảng 1933, cha mẹ xuống Rạch Giá lập nghiệp đem Đoàn Thế Hối theo; Võ Phiến ở lại Bình Định, sống với bà nội, học trường làng, trung học ở Quy Nhơn. 1942 ra Huế học trường Thuận Hóa và bắt đầu viết văn. Bài tùy bút đầu tiên tựa đề Những đêm đông viết năm 1943 đăng trên báo Trung Bắc Chủ Nhật, ký tên Đắc Lang.
(more…)

Nguyễn Quang Tấn

nguyen_binh_2
Thi sĩ Nguyễn Bính (1918-1966)

Những người sáng tác, và cả những nhạc công đều đồng ý với nhau: Kỹ thuật càng phức tạp, thì tính biểu cảm của tác phẩm càng bị giới hạn. Tư tưởng, tình cảm của người sáng tạo thì bát ngát mà cứ phải co cụm trong cái rọ của những khuôn này phép nọ, niêm với luật, vần với điệu… Vì thế, nẩy sinh ra những phá cách, phá thể. Thơ tự do ra đời có lẽ là do suy nghĩ ấy, và trường phái Hậu Hiện Đại với chủ trương: Mọi bảng cấm đều được hạ xuống, mọi ngôn từ đều bình đẳng, và nhóm Dada với khẩu hiệu ngộ nghĩnh: Những gì nghệ sĩ khạc nhổ ra đều là nghệ thuật.
(more…)

Ngô Thế Vinh

hs_dinh_cuong
Đinh Cường
[Nghệ Thuật Tạo Hình VN Hiện Đại, Huỳnh Hữu Uỷ, VAALA 2008]

TIỂU SỬ ĐINH CƯỜNG

Tên thật là Đinh Văn Cường, sinh ngày 5 tháng 7 năm 1939 tại Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, xứ sở của đồ gốm và sơn mài, với trường Mỹ Nghệ Thủ Dầu Một do người Pháp thành lập từ 1901 [Thủ Dầu Một cũng là nơi hoạ sĩ Nguyễn Gia Trí đã bị người Pháp giam an trí tại đây sau khi ra khỏi trại tù Sơn La]

1951-1957 học sinh Trung học Pétrus Ký Sài Gòn.
1963 tốt nghiệp Cao Đẳng Mỹ Thuật Huế
1964 tốt nghiệp Sư Phạm Hội Hoạ Quốc Gia Cao Đẳng Mỹ Thuật Sài Gòn
1962 Huy Chương Bạc với bức Thần Thoại, Triển Lãm Hội Hoạ Mùa Xuân Sài Gòn
1962 Giải Thưởng với bức Nhà Thờ, Đệ Nhất Triển Lãm Mỹ Thuật Quốc Tế Sài Gòn của Toà Đại Sứ Trung Hoa Dân Quốc
1963 Huy Chương Bạc lần thứ hai với bức Chứng Tích, Triển Lãm Hội Hoạ Mùa Xuân Sài Gòn
1969-1971 Uỷ viên Kiểm soát Hội Hoạ Sĩ Trẻ Việt Nam
1963-1967 Giáo Sư Hội Hoạ trường Nữ Trung Học Đồng Khánh Huế
1967-1975 Giáo Sư trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Huế
(more…)

Nguyễn Minh Thanh

pham_ngu_lao

Danh tướng Phạm Ngũ Lão người Hải Dương, huyện Đường Hào, làng Phù Ủng, con ông Phạm Tiên Công và là con rể của Hưng Đạo Vương.

Trải qua ba Triều vua đời Nhà Trần: Trần Nhân Tôn, Trần Anh Tôn, Trần Minh Tôn, Ông lập được nhiều chiến công hiển hách, đánh đuổi quân Nguyên Mông ở các trận Tây Kết, Vạn Kiếp, Bạch Đằng… Chinh phục Ai Lao, Chiêm Thành được phong đến chức Điện súy Thượng tướng quân.

Cơ binh dưới quyền Phạm Ngũ Lão được mệnh danh “Phụ-Tử chi binh” vì ông thương lính như con và cư xử rất mực công minh, chí tình nên đánh đâu thắng đó…

Tuy là danh tướng, song Phạm Ngũ Lão cũng để lại một số thơ văn. Tiêu biểu là 2 bài thơ Thuật Hoài và Vãn Thượng Tướng Quốc Công Hưng Đạo Vương như dưới đây:
(more…)

Nguyễn Đức Toàn
Viện nghiên cứu Hán Nôm

tran_trong_kim
Học giả Trần Trọng Kim (1883 – 1953)

Trần Trọng Kim (1887-1953) là một nhà giáo, một nhà nghiên cứu văn học, sử học có tiếng trong giới trí thức nước ta thời cận đại. Ông đã để lại nhiều công trình nghiên cứu có giá trị, như Nho giáo, Việt Nam sử lược, có đóng góp cho tri thức và nghiên cứu lịch sử văn hóa nước nhà. Trong khi tiếp xúc với văn bản Nam quốc địa dư chí, tôi phát hiện ra bức thư này nằm giữa tờ bìa ngoài gấp đôi đã bị phết hồ dán kín lại, do thời gian lâu ngày lớp hồ khô đi, trong lúc kiểm tra văn bản bức thư vô tình rơi ra. Được biết một số sách Hán Nôm có nguồn gốc từ thư viện riêng của gia đình GS. Hoàng Xuân Hãn. Bức thư này có lẽ đã đến tay cụ Hoàng và được cụ Hoàng dấu kín vào tờ bìa của cuốn Nam quốc địa dư chí, mà sau này được hiến tặng lại cho thư viện. Đối chiếu với tập hồi ký Một cơn gió bụi của cụ Trần đã được xuất bản trong những năm 60, chúng tôi nhận định đây chính xác là bút tích và giọng văn của cụ Lệ thần – Trần Trọng Kim, vì những nhân vật trong thư nhắc đến đều là những gương mặt trí thức chính trị đương thời với cụ. Ngày tháng, sự kiện, giọng văn và tư tưởng trong bức thư hoàn toàn phù hợp với ngày tháng, sự kiện, giọng văn, tư tưởng của cụ Trần trong tập hồi ký đã nêu trên.
(more…)

Ngô Thế Vinh

Ðã mang lấy nghiệp vào thân
Nguyễn Du

bui_nhat_tien-ta_ty
Nhật Tiến: ký hoạ by Tạ Tỵ
[nguồn: Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ Hôm Nay, Tạ Tỵ,
Nxb Lá Bối, Sài Gòn 1971]

HƯỚNG ĐẠO THỜI NIÊN THIẾU

Bùi Nhật Tiến, bút hiệu Nhật Tiến sinh ngày 24-8-1936 tại Hà Nội. Năm 1946 mới 10 tuổi Nhật Tiến đã phải theo gia đình rời Hà Nội đi tản cư qua những tỉnh như Sơn Tây, Việt Trì, Hưng Hoá, Phú Thọ. Năm 1950 hồi cư, ở cái tuổi 14 không còn nhỏ nữa để sinh hoạt sói bầy, Nhật Tiến xin gia nhập phong trào Hướng Đạo làm đoàn sinh đội Én Thiếu Đoàn Bình Than khá muộn màng. Thiếu Đoàn Bình Than thuộc Đạo Đồng Nhân, và đạo này có bài hát chính thức do đoàn sinh Cung Thúc Tiến của Thiếu Đoàn Bạch Đằng sáng tác. Cung Thúc Tiến chính là nhạc sĩ Cung Tiến sau này với những nhạc phẩm Hoài Cảm, Thu Vàng.
(more…)

Đàm Trung Pháp

thuy_kieu-thuy_van

Các chủ ngữ vô hình

Nhiều câu trong tuyệt tác Truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du chứa đựng những chủ ngữ vô hình, thiếu minh xác mà theo Đoàn Phú Tứ (1949) như “ẩn hình ngay trong động từ, ta không vạch được nó ra một cách rành rọt mà chỉ hội được nó, theo cái nghĩa của đoạn văn mà thôi.” Ông Tứ đưa ra thí dụ dưới đây:

Bóng hồng nhác thấy nẻo xa,
Xuân lan thu cúc mặn mà cả hai.
Người quốc sắc kẻ thiên tài,
Tình trong như đã mặt ngoài còn e.
Chập chờn cơn tỉnh cơn mê,
Rốn ngồi chẳng tiện rứt về chỉn khôn.
Bóng tà như giục cơn buồn,
Khách đà lên ngựa người còn nghé theo.
Dưới cầu nước chảy trong veo,
Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha.

(more…)