Archive for the ‘Biên Khảo / Phê Bình’ Category

Thụy Khuê

duong_nghiem_mau_4
Nhà văn Dương Nghiễm Mậu
(1936-2016)

Tiểu sử: Dương Nghiễm Mậu tên thật là Phí Ích Nghiễm, sinh ngày 19 tháng 11 năm 1936 tại quê nội làng Mậu Hòa (quê ngoại làng Dương Liễu), huyện Đan Phượng, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông. Từ 12 đến 18 tuổi sống ở Hà Nội. Học tiểu học ở trường Hàng Than, trung học, Chu Văn An, viết đoản văn, tùy bút cho báo trường và các báo có phụ trang văn nghệ học sinh. 1954 di cư vào Nam với gia đình, năm đầu ở Huế, năm sau ra Nha Trang, hè 1957 vào sống hẳn Sài Gòn.

Từ 1957 trở đi viết nhiều: tạp văn, tùy bút, đoản văn, truyện ngắn, truyện dài. Tiểu thuyết đầu tay Đầy tuổi tôi đăng trên tạp chí Văn Nghệ từ số 2, tháng 3/1961 (sau in thành sách đổi tên là Tuổi nước độc, Văn, 1966), truyện ngắn Cũng đành in lần đầu trên báo Tân Phong của Trương Bảo Sơn; truyện ngắn Rượu chưa đủ, trên Sáng Tạo (bộ cũ, số 28-29 tháng 1-2/1959) đã xác định phong cách văn chương Dương Nghiễm Mậu. Từ 1962, làm tạp chí Văn Nghệ với Lý Hoàng Phong, đồng thời viết cho Sáng Tạo, Thế Kỷ 20, Tin Sáng, Văn, Văn Học, Bách Khoa, Giao Điểm, Chính Văn, Giữ Thơm Quê Mẹ, Sóng Thần… Tập truyện ngắn đầu tay Cũng đành do tạp chí Văn Nghệ xuất bản năm 1963. Truyện dài Gia tài người mẹ (Văn Nghệ, 1964), được giải thưởng Văn Chương Toàn Quốc (miền Nam), 1966.
(more…)

Trần Văn Nam

ven_song_ma-quang_dung

Tính hào hùng rất dễ tìm thấy trong bài thơ Tây Tiến. Tính bi tráng của chiến tranh cũng rất dễ tìm ra trong bài thơ. Ngày nay ta thường nói về tính nhân bản để bàn về các tác phẩm chiến tranh. Bài thơ Tây Tiến cũng có nhiều dáng vẻ của tính phản chiến.  Dùng từ ngữ phản chiến thì hơi quá, nên xin diễn tả bằng những từ ngữ khác: Cảm nghĩ chân thực của con người đối với sự khốc liệt của bất cứ cuộc chiến tranh nào, dù đó là cuộc chiến tranh thần thánh huy động được cả toàn dân tham gia vào cuộc trường kỳ kháng Pháp. Tính hào hùng, tính bi cảm, hai khía cạnh của bài thơ Tây Tiến thực sự rất dễ tìm thấy, không phải là một gán ghép để trình bày quan niệm nhân bản thường được bàn tới bởi các sách báo Tây Phương. Ðiều làm ta ngạc nhiên là hai khía cạnh đó hiện diện song hành một cách tình cờ trong mỗi đoạn thơ. Ví dụ đoạn thơ đầu, lúc mới lên đường từ giã miền xuôi:

Sông Mã xa rồi, Tây Tiến ơi
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi
Sài Khao, sương lấp, đoàn quân mỏi
Mường Lát mưa về trong đêm hơi

(more…)

Trần Văn Nam

khuat_dau-dinh_cuong
Nhà thơ Khuất Đẩu
dinhcuong

Thời chiến tranh khốc liệt ở Miền Nam Việt Nam trước năm 1975, có một tập thơ mà chỉ với nhan đề thi phẩm thôi cũng đủ nói lên niềm lạc quan thấy vẫn còn le lói giữa mùa loạn lạc. Chiến tranh tàn phá đất nước, làm xã hội đảo điên, lòng người thấm đậm triết lý hiện sinh hiểu theo nghĩa tiêu cực nhất. Khi ấy xuất hiện thi phẩm “Những Dòng Nước Trong” của Hoàng Bảo Việt. Tiếc rằng hiện tại ta không có tập thơ này trong tay để tìm hiểu có những nét sáng tạo về nghệ thuật nào nhằm hổ trợ cho nội dung hé thấy những dòng nước trong giữa biển đời vẩn đục.
(more…)

Trần Hoài Thư

bia_tap_chi_mai

Mai là tạp chí phát hành mỗi tháng 2 kỳ, ra ngày 1 và 15. Chủ nhiệm: Hoàng Minh Tuynh. Giám đốc chính trị: Huỳnh Văn Lang. Tòa soạn 80 Hồng Thập Tự Sài Gòn. Báo có mặt 6 năm từ 1960 đến 1966. Từ tháng 7-1962 đến tháng 11- 1966, Mai bắt đầu đánh số trở lại, gọi là Mai bộ mới. Chủ nhiệm vẫn là Hoàng Minh Tuynh.

Báo khổ nửa giấy báo nhật trình, dày 40 trang, có 4 trang quảng cáo. Chỉ bắt đầu từ tháng 12-1964, khổ giấy được đổi lại nhỏ hơn như khổ của tạp chí Văn, và cũng được đánh số trở lại. .. Số 16-17 phát hành ngày 1-8-1966 là số cuối cùng, với các bài của Lê văn Hảo, Vũ Đình Lưu, Hoàng Minh Tuynh, Père Jean Subra..
(more…)

Nguyễn Văn Sâm

chan_dung_nhat_linh-nguyen_gia_tri
Chân dung nhà văn Nhất Linh (1906-1963)
Nguyễn Gia Trí

Năm 1926 Nhất Linh lúc đó là một thanh niên còn rất trẻ, cho ra đời quyển Nho Phong viết trong hai năm 1924-1925, lúc mới 18, 19 tuổi. Năm sau 1927 ông viết và in tập truyện Người Quay Tơ. Căn cứ trên những năm viết 1924-1927 thì ta chắc chắn rằng hai tác phẩm nầy là hai công trình văn nghệ đầu tay của Nguyễn Tường Tam, người thanh niên mới chập chững vào đời và mới bước vào chuyện viết lách.

Hai tác phẩm nầy có phần số đặc biệt của nó.
(more…)

Nguyễn Lệ Uyên

hoai_khanh_2.jpg
Nhà thơ Hoài Khanh (1933-2016)

LTS: Nhà thơ Hoài Khanh vừa qua đời ngày 23.3.2016 tại nhà riêng ở Biên Hòa, Đồng Nai Việt Nam, hưởng thọ 83 tuổi. Chúng tôi đăng lại bài của nhà văn Nguyễn Lệ Uyên viết về ông như một nén nhang tưởng nhớ.

Khoảng giữa thập niên 1960, tôi đứng xa nhìn ngắm Hoài Khanh qua những bài thơ đăng rải rác trên các tạp chí Văn Nghệ Sài Gòn, một vài truyện ngắn, một số dịch phẩm và đặc biệt là các bài viết về thi ca Châu Phi da đen. Đứng rất xa đọc và không có một ý niệm nào rõ rệt, ngay cả khi đến tòa soạn gửi bài cho tập san Giữ Thơm Quê Mẹ thấy ông đang ngồi tiếp chuyện thầy Thanh Tuệ và Tuệ Sĩ.
(more…)

Thụy Khuê

vu_khac_khoan
Nhà văn, Kịch tác gia Vũ Khắc Khoan (1917-1986)

Tiểu sử

Vũ Khắc Khoan sinh ngày 27/02/1917 tại Hà Nội. Mất ngày 12/9/1986, tại Minnesota, Hoa Kỳ. Học sinh trường Bưởi; Lên đại học, theo ngành y khoa hai năm, trước khi vào trường Cao Đẳng Canh Nông. Tốt nghiệp, làm kỹ sư canh nông được một năm rồi chuyển hẳn sang dạy lịch sử tại hai trường Nguyễn Trãi và Chu Văn An, Hà Nội và hoạt động kịch nghệ, viết văn, thành lập nhóm Quan Điểm với Nghiêm Xuân Hồng.

Từ 1948 Vũ Khắc Khoan bắt đầu in bài trên báo Phổ Thông: hai vở kịch Thằng Cuội ngồi gốc cây đa (1948) và Giao thừa (1949) và bài tùy bút Mơ Hương Cảng (1953).

Ngay từ thời còn là sinh viên y khoa, Vũ Khắc Khoan đã đạo diễn những vở Thế Chiến quốcNửa đêm truyền hịch của Trần Tử Anh, trình diễn tại Nhà Hát Lớn Hà Nội; viết và dựng kịch bản đầu tay Trường ca Mông Cổ, tác phẩm làm nền cho vở Thành Cát Tư Hãn sau này. Năm 1952, ông vừa dựng, vừa diễn vở Thằng Cuội ngồi gốc cây đa tại Nhà Hát Lớn.
(more…)

Trần thị LaiHồng

Văn Thánh trồng Thông
Võ Thánh trồng Bàng
Ngó qua Xã Tắc hai hàng Mù U…
(Ca dao Huế)

slash_pine
Thông Slash Pine thân uốn cong
kề cận kè rẽ quạt Saw Palmetto

Photo Nhö Thöông 27 tháng 11, 2015

Vườn Quê Xa mang ước vọng hội nhập phần nào cây trái quê hương thân thương mịt mù xa cách, nên ráng thu gom được nhiều loại, và bài này riêng về thông, bàng và mù u.

Thông nơi này là Slash Pine, không giống thông nhựa hai lá núi Ngự Bình, đàn Nam Giao, rừng Đan viện Thiên An phía Tây Nam thành phố Huế, hay thông năm lá Đà Lạt, tuy cùng thuộc họ Pinaceae, nhưng là loại Pinus eliottii, lá có nhiều chùm liền nhau ngay đầu cành, trông giống cái chổi. Dưới gốc thường hay có lá kè rẽ quạt Saw Palmetto khắng khít kề cận.
(more…)

Phan Thành Khương

phan_chau_trinh
Phan Châu Trinh (1872-1926)

Năm 2016 là năm kỉ niệm 90 năm Ngày mất của Nhà cách mạng, Nhà văn hóa kiệt xuất Phan Châu Trinh (24/3/1926 – 24/3/2016). Trong quá trình hoạt động cứu Nước, cứu Dân, Phan Châu Trinh đã viết một khối lượng tác phẩm đồ sộ bằng chữ Hán, chữ Nôm, chữ Quốc ngữ và chữ Pháp, với nhiều thể loại khác nhau: thơ chữ Hán và thơ tiếng Việt, nghị luận chính trị, tiểu thuyết diễn ca, các bài báo, các bài diễn thuyết, thư từ, v.v… (1).

Nhân dịp đón năm mới 2016, chúng ta cùng đọc lại một số thi phẩm của Ông để hiểu được phần nào lòng yêu Nước thương Dân đậm đà, sâu sắc, tinh thần cách mạng kiên cường, gan thép và tư tưởng tiên tiến của vị Lãnh tụ Phong trào Duy Tân, của một Người mà “Ba tấc lưỡi mà gươm mà súng, nhà cường quyền trông gió cũng gai ghê; Một ngòi lông vừa trống vừa chiêng, cửa dân chủ khêu đèn thêm rạng chói.” (“Văn tế Phan Châu Trinh” – Phan Bội Châu).
(more…)

Nguyễn Lệ Uyên

tuong_thuong_tiec
Thương Tiếc
Nguyễn Thanh Thu

Trên thế giới này, bất kỳ thời đại nào, chiến tranh luôn là tai họa đối với loài người. Kẻ gây chiến luôn gieo rắc tội ác đổ xuống nhân gian, là bọn khốn nạn, vô luân nhất trần gian… cùng vô vàn tính từ ghê tởm gắn cho chúng.

Hai mươi năm nội chiến Nam-Bắc là cuộc chiến vô đạo, phi nhân đến từ một học thuyết xuẩn động và man rợ nhất, gieo rắc bao nỗi kinh hoàng, những cái chết phi lý, không đáng có.

Hàng triệu tấn bom đạn vãi ra, bằng con số ấy nhà cửa ruộng vườn nát tan, và với con số ấy những lương dân đã gục chết thê thảm, cũng chỉ bởi một dúm người không tim, chẳng có óc (!) đến nỗi một người dân bình thường phải thảng thốt kêu lên “Chiến tranh con mẹ gì mà lâu thế” (Y Uyên, Mùa xuân qua đèo) hay một người lính tham dự vào cuộc chiến cũng đã phẫn nộ “Chiến tranh hả? Chiến tranh là cái c… chó gì!” (Thảo Trường, Cánh đồng đã mất).
(more…)

Nguyễn Văn Sâm

truyen_tho_truong_thien_huu_1
Tựa và năm viết của
truyện thơ Trương Thiện Hữu

Cách nay hơn 10 năm, trong một lần xem tủ sách sưu tập của một nhân vật chơi sách tiếng tăm ở Saigon trên đường Trương Minh Giảng cũ, tôi được cho phép sao chép quyển truyện Nôm ít người biết đến: Trương Thiện Hữu Diễn Ca 張善有演歌. Bản văn viết bằng thứ chữ Nôm cực đẹp trên giấy mỏng của thời xưa gồm 40 tờ, mỗi tờ 2 trang viết một mặt, xếp đôi lại theo cách thông thường của sách xưa – như vậy sách gồm cả thảy là 80 trang.
(more…)

Nguyễn Văn Sâm

bia_u_tinh_luc

I.
Đọc vài ba câu ca dao của miền Nam ta sẽ thích thú ngay với những hình ảnh đuợc mô tả, cách nói, thái độ của nhân vật, ta cảm thấy gần gũi với họ biết bao nhiêu.

Chẳng hạn lời trách cứ của người trai:

Bậu nói với qua bậu không bẻ mận hái đào
Mận đâu bậu bọc mà đào nào bậu cầm tay.

(more…)

Nguyễn Văn Sâm

tay_du_ky

Tổng quan

Năm 1952, ở tận cực Nam nước Việt là tỉnh Châu Đốc, ông Nam Cư Nguyễn Đình Triêm, một người cháu nội của Nguyễn Đình Chiểu, khi giới thiệu tiểu sử Bùi Hữu Nghĩa trong quyển Bùi Hữu Nghĩa, Thơ Văn và Vở Tuồng Kim Thạch Kỳ Duyên có nhắc đến hai tuồng hát bội Tây DuMậu Tòng của Bùi Hữu Nghĩa. Tuy ông Nam Cư không nói gì đến nguồn tài liệu dẫn đến sự tuyên bố nầy, nhưng với cung cách làm việc của ông, chúng tôi tin tưởng rằng lời xác quyết trên mang nhiều giá trị khả tín cho đến khi có ai đó trình làng bằng chứng nói khác đi. Trước tới giờ, một vài tác giả khi nói tổng quát về hát bội cũng có nhắc đến tuồng Tây Du, nhưng không nhắc gì về tác giả, cũng không dẫn chứng một câu nào của tuồng đồ sộ 100 hồi (độ 4000 trang) nầy. Lý do là tuồng còn ở dạng chữ Nôm và hiện tại chỉ Thư Viện Trường Viễn Đông Bác Cổ ở Paris lưu tồn được một bản viết tay thôi, không ai thấy ở đâu nữa một bản nào khác. Tuồng quá dài, sao chụp được toàn bộ cũng khá vất vã, phiên âm cũng mệt mà đọc hết chắc cũng ngất ngư, cho nên giới thiệu toàn bộ chưa chắc đã hữu ích về mặt giải trí… Chúng tôi tùy theo hoàn cảnh và khả năng phổ biến của mình mà giới thiệu từng hồi một, không nhứt thiết đi theo thứ tự nào, độc giả cũng không nhứt thiết phải đọc nguyên văn từng hồi sẽ được chúng tôi phiên âm sau nầy. Không nhứt thiết vì hát bội là thể văn xa xưa lời lẽ đã cao kỳ mà văn chương lại nhiều chữ cổ xưa khó hiểu tường tận. Giải quyết phần nào tình trạng đó bước đầu chúng tôi xin giới thiệu tóm lược và nêu ra ý nghĩa mỗi hồi khi có thể được.
(more…)

Ngô Nguyên Nghiễm

tuy_ha
Nhà thơ Túy Hà

Không hiểu sao khi nghiền ngẫm tinh hoa trong thơ Túy Hà, người đọc vẫn thấy lẻ loi trong không gian tương ngộ trước mấy câu thơ “Ảo mộng phù vân trăm nhánh rẽ/ Biết mà sao vẫn quặn lòng đau”. Đứng giữa hoang phế đường đời trăm ngàn lối nhỏ phải chọn để bước qua truông, những hư ảo vẫn biết rằng nhiều phen quấn quýt trong cuộc sống. Bên cạnh những hư thực cuộc đời như tiểu mộng, cứ vướng vất đơm hoa nguyệt huyết chung quanh ảnh tượng của những khúc tình ca ! Bất cứ người nhìn mộng như thực, thì muôn kiếp sinh tồn đều chìm đắm trong họa phẩm tượng trưng, cứ chau mình trong nguyệt khuyết mà vướng vất sương rơi… Có lẽ, thi nhân không thoát khỏi ảnh tượng đó, mà vét hết nỗi lòng chiêm nghiệm phù vân trong nỗi hoài niệm. Biết vậy, nhưng vẫn “ Tiếng thở dài sâu lời thơ gọi/ Vọng từ xa thẳm bến giang đầu”… Sao lại là thơ gọi, khi những ảo khúc tình ca cứ thăm thẳm chìm ngập trong ngũ tạng người thơ ?
(more…)

Đoàn Thị Tảo

phan_dac_lu-we_are_one
Nhà thơ Phan Đắc Lữ

Ngày ấy là cuối những năm năm mươi của thế kỹ trước, chàng trai trẻ của đất Quảng Nam bỏ cả học hành, không ngại hiểm nguy, rời bỏ Sài Sòn vượt Trường Sơn ra Hà Nôi.

Ngày ấy Phan Đắc Lữ lang bạt khắp đất Bắc, chiêm nghiệm cuộc đời trong nỗi niềm đau đáu nhớ quê!

Những vấp váp đầu đời: Đổ vỡ ước mơ, hoài bão không thành, công danh chẳng toại nhưng trong mắt những người trẻ tuổi như chúng tôi ngày ấy, một Phan Đắc Lữ anh hùng cái thế như tráng sỹ Đinh Lăng, đặt cuộc đời trên yên ngựa để trả nợ non sông – một Thâm Tâm “Nhất khứ bất phục phản” : “Chí lớn không về bàn tay không”.
(more…)

Thụy Khuê

vo_phien_5
Nhà văn Võ Phiến (1925-2015)

Tiểu sử Võ Phiến

Võ Phiến tên thật là Đoàn Thế Nhơn, bút hiệu khác: Tràng Thiên. Ông sinh ngày 20/10/1925 tại làng Trà Bình, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định. Cha là Đoàn Thế Cần làm giáo học, mẹ là Ngô Thị Cương. Võ Phiến có người em ruột là Đoàn Thế Hối, sinh năm 1932, sau này ra Bắc tập kết, cũng là nhà văn bút hiệu Lê Vĩnh Hoà. Khoảng 1933, cha mẹ xuống Rạch Giá lập nghiệp đem Đoàn Thế Hối theo; Võ Phiến ở lại Bình Định, sống với bà nội, học trường làng, trung học ở Quy Nhơn. 1942 ra Huế học trường Thuận Hóa và bắt đầu viết văn. Bài tùy bút đầu tiên tựa đề Những đêm đông viết năm 1943 đăng trên báo Trung Bắc Chủ Nhật, ký tên Đắc Lang.
(more…)

Nguyễn Quang Tấn

nguyen_binh_2
Thi sĩ Nguyễn Bính (1918-1966)

Những người sáng tác, và cả những nhạc công đều đồng ý với nhau: Kỹ thuật càng phức tạp, thì tính biểu cảm của tác phẩm càng bị giới hạn. Tư tưởng, tình cảm của người sáng tạo thì bát ngát mà cứ phải co cụm trong cái rọ của những khuôn này phép nọ, niêm với luật, vần với điệu… Vì thế, nẩy sinh ra những phá cách, phá thể. Thơ tự do ra đời có lẽ là do suy nghĩ ấy, và trường phái Hậu Hiện Đại với chủ trương: Mọi bảng cấm đều được hạ xuống, mọi ngôn từ đều bình đẳng, và nhóm Dada với khẩu hiệu ngộ nghĩnh: Những gì nghệ sĩ khạc nhổ ra đều là nghệ thuật.
(more…)

Ngô Thế Vinh

hs_dinh_cuong
Đinh Cường
[Nghệ Thuật Tạo Hình VN Hiện Đại, Huỳnh Hữu Uỷ, VAALA 2008]

TIỂU SỬ ĐINH CƯỜNG

Tên thật là Đinh Văn Cường, sinh ngày 5 tháng 7 năm 1939 tại Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, xứ sở của đồ gốm và sơn mài, với trường Mỹ Nghệ Thủ Dầu Một do người Pháp thành lập từ 1901 [Thủ Dầu Một cũng là nơi hoạ sĩ Nguyễn Gia Trí đã bị người Pháp giam an trí tại đây sau khi ra khỏi trại tù Sơn La]

1951-1957 học sinh Trung học Pétrus Ký Sài Gòn.
1963 tốt nghiệp Cao Đẳng Mỹ Thuật Huế
1964 tốt nghiệp Sư Phạm Hội Hoạ Quốc Gia Cao Đẳng Mỹ Thuật Sài Gòn
1962 Huy Chương Bạc với bức Thần Thoại, Triển Lãm Hội Hoạ Mùa Xuân Sài Gòn
1962 Giải Thưởng với bức Nhà Thờ, Đệ Nhất Triển Lãm Mỹ Thuật Quốc Tế Sài Gòn của Toà Đại Sứ Trung Hoa Dân Quốc
1963 Huy Chương Bạc lần thứ hai với bức Chứng Tích, Triển Lãm Hội Hoạ Mùa Xuân Sài Gòn
1969-1971 Uỷ viên Kiểm soát Hội Hoạ Sĩ Trẻ Việt Nam
1963-1967 Giáo Sư Hội Hoạ trường Nữ Trung Học Đồng Khánh Huế
1967-1975 Giáo Sư trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Huế
(more…)

Nguyễn Minh Thanh

pham_ngu_lao

Danh tướng Phạm Ngũ Lão người Hải Dương, huyện Đường Hào, làng Phù Ủng, con ông Phạm Tiên Công và là con rể của Hưng Đạo Vương.

Trải qua ba Triều vua đời Nhà Trần: Trần Nhân Tôn, Trần Anh Tôn, Trần Minh Tôn, Ông lập được nhiều chiến công hiển hách, đánh đuổi quân Nguyên Mông ở các trận Tây Kết, Vạn Kiếp, Bạch Đằng… Chinh phục Ai Lao, Chiêm Thành được phong đến chức Điện súy Thượng tướng quân.

Cơ binh dưới quyền Phạm Ngũ Lão được mệnh danh “Phụ-Tử chi binh” vì ông thương lính như con và cư xử rất mực công minh, chí tình nên đánh đâu thắng đó…

Tuy là danh tướng, song Phạm Ngũ Lão cũng để lại một số thơ văn. Tiêu biểu là 2 bài thơ Thuật Hoài và Vãn Thượng Tướng Quốc Công Hưng Đạo Vương như dưới đây:
(more…)

Nguyễn Đức Toàn
Viện nghiên cứu Hán Nôm

tran_trong_kim
Học giả Trần Trọng Kim (1883 – 1953)

Trần Trọng Kim (1887-1953) là một nhà giáo, một nhà nghiên cứu văn học, sử học có tiếng trong giới trí thức nước ta thời cận đại. Ông đã để lại nhiều công trình nghiên cứu có giá trị, như Nho giáo, Việt Nam sử lược, có đóng góp cho tri thức và nghiên cứu lịch sử văn hóa nước nhà. Trong khi tiếp xúc với văn bản Nam quốc địa dư chí, tôi phát hiện ra bức thư này nằm giữa tờ bìa ngoài gấp đôi đã bị phết hồ dán kín lại, do thời gian lâu ngày lớp hồ khô đi, trong lúc kiểm tra văn bản bức thư vô tình rơi ra. Được biết một số sách Hán Nôm có nguồn gốc từ thư viện riêng của gia đình GS. Hoàng Xuân Hãn. Bức thư này có lẽ đã đến tay cụ Hoàng và được cụ Hoàng dấu kín vào tờ bìa của cuốn Nam quốc địa dư chí, mà sau này được hiến tặng lại cho thư viện. Đối chiếu với tập hồi ký Một cơn gió bụi của cụ Trần đã được xuất bản trong những năm 60, chúng tôi nhận định đây chính xác là bút tích và giọng văn của cụ Lệ thần – Trần Trọng Kim, vì những nhân vật trong thư nhắc đến đều là những gương mặt trí thức chính trị đương thời với cụ. Ngày tháng, sự kiện, giọng văn và tư tưởng trong bức thư hoàn toàn phù hợp với ngày tháng, sự kiện, giọng văn, tư tưởng của cụ Trần trong tập hồi ký đã nêu trên.
(more…)

Ngô Thế Vinh

Ðã mang lấy nghiệp vào thân
Nguyễn Du

bui_nhat_tien-ta_ty
Nhật Tiến: ký hoạ by Tạ Tỵ
[nguồn: Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ Hôm Nay, Tạ Tỵ,
Nxb Lá Bối, Sài Gòn 1971]

HƯỚNG ĐẠO THỜI NIÊN THIẾU

Bùi Nhật Tiến, bút hiệu Nhật Tiến sinh ngày 24-8-1936 tại Hà Nội. Năm 1946 mới 10 tuổi Nhật Tiến đã phải theo gia đình rời Hà Nội đi tản cư qua những tỉnh như Sơn Tây, Việt Trì, Hưng Hoá, Phú Thọ. Năm 1950 hồi cư, ở cái tuổi 14 không còn nhỏ nữa để sinh hoạt sói bầy, Nhật Tiến xin gia nhập phong trào Hướng Đạo làm đoàn sinh đội Én Thiếu Đoàn Bình Than khá muộn màng. Thiếu Đoàn Bình Than thuộc Đạo Đồng Nhân, và đạo này có bài hát chính thức do đoàn sinh Cung Thúc Tiến của Thiếu Đoàn Bạch Đằng sáng tác. Cung Thúc Tiến chính là nhạc sĩ Cung Tiến sau này với những nhạc phẩm Hoài Cảm, Thu Vàng.
(more…)

Đàm Trung Pháp

thuy_kieu-thuy_van

Các chủ ngữ vô hình

Nhiều câu trong tuyệt tác Truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du chứa đựng những chủ ngữ vô hình, thiếu minh xác mà theo Đoàn Phú Tứ (1949) như “ẩn hình ngay trong động từ, ta không vạch được nó ra một cách rành rọt mà chỉ hội được nó, theo cái nghĩa của đoạn văn mà thôi.” Ông Tứ đưa ra thí dụ dưới đây:

Bóng hồng nhác thấy nẻo xa,
Xuân lan thu cúc mặn mà cả hai.
Người quốc sắc kẻ thiên tài,
Tình trong như đã mặt ngoài còn e.
Chập chờn cơn tỉnh cơn mê,
Rốn ngồi chẳng tiện rứt về chỉn khôn.
Bóng tà như giục cơn buồn,
Khách đà lên ngựa người còn nghé theo.
Dưới cầu nước chảy trong veo,
Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha.

(more…)

Nguyễn Văn Sâm phiên âm và giới thiệu.

thuy_kieu_ngoi_dan

Thúy Kiều, dầu là nhân vật thiệt sự ngoài đời, được Thanh Tâm Tài Nhân cấu tạo thành nhân vật tiểu thuyết, đối với người Việt Nam nói chung hay đối với người đọc Đoạn Trường Tân Thanh nói riêng cũng chỉ là một nhân vật tiểu thuyết. Do đó những gì người ta viết thêm về Kiều – hay những nhân vật trong Đoạn Trường Tân Thanh – đều chỉ là hình thức bày tỏ lòng cảm phục Nguyễn Du qua sự lân mẫn hay oán ghét nhân vật của ông mà thôi… (Thúy Kiều Án chẳng hạn)

Đọc Văn Tế Vợ của Bùi Hữu Nghĩa, Văn Tế Võ Tánh và Ngô Tùng Châu, Văn Tế Bá Đa Lộc, Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc… Người đọc cảm xúc và có thể để lòng mình nổi lên tràn đầy tình cảm bi thương cho người được tế khi nghĩ đến số phận không may của họ. Đọc Văn Tế Kiều những tình cảm nầy chắc chắn sẽ được ngăn chặn lại không cho tràn đầy vì trong thâm tâm người đọc nổi lên một sự ngăn chận vô hình: Đó chỉ là nhân vật tiểu thuyết và người đứng tế cũng chỉ là một nhân vật tiểu thuyết chẳng qua một người nào đó viết giùm. Sự ngăn chặn nầy tuy vậy không làm mất giá trị thiệt sự của Đoạn Trường Tân Thanh về phương diện văn học, đó chỉ là sự báo hiệu của tâm thức để phân biệt đời sống thực tế và đời sống do tác phẩm văn nghệ tạo ra trong trí độc giả mà thôi.
(more…)

Đàm Trung Pháp sưu tầm và dịch thuật

cat_in_the_rain

Con mèo trong mưa

Chỉ có mỗi hai người Mỹ ở lại khách sạn. Họ chẳng quen một ai trong số những người họ gặp trên cầu thang trên đường ra vô phòng họ. Phòng họ trên lầu hai, ngó ra biển. Cũng ngó ra công viên và đài kỷ niệm chiến tranh. Có những cây cọ lớn và những ghế dài trong công viên. Khi thời tiết tốt bao giờ cũng có một hoạ sĩ với chiếc giá vẽ. Các hoạ sĩ thích hình dáng những cây cọ và những màu sắc tươi sáng của những khách sạn hướng ra các công viên và biển cả. Nhiều người dân Ý từ phương xa ghé đến để xem đài kỷ niệm chiến tranh được làm bằng đồng sáng loáng trong mưa. Trời đang mưa, nước mưa tí tách rớt xuống từ các lá cọ và đọng thành từng vũng trên các đường lát sỏi. Sóng biển nhấp nhô trong làn mưa rơi, rạt vào trong bãi rồi lại kéo ra khơi. Những xe hơi đã rời khỏi công viên. Bên kia công viên, trước quán cà phê có một người hầu bàn ngó ra hướng công viên vắng lặng.
(more…)

Ngô Thế Vinh

Có biết đâu niềm vui đã nằm trong thiên tai – Nguyễn Đình Toàn

nguyen_dinh_toan-tran_cao_linh nguyen_dinh_toan-nguyen_ngoc_dung
Nguyễn Đình Toàn
trái: photo by Trần Cao Lĩnh;
phải: photo by Nguyễn Ngọc Dung, con gái nhiếp ảnh gia Nguyễn Cao Đàm

TIỂU SỬ:

Nguyễn Đình Toàn có bút hiệu ban đầu là Tô Hà Vân nhưng thành danh với tên thật và cũng là bút hiệu chính thức sau này; sinh ngày 6 tháng 9 năm 1936 tại huyện Gia Lâm, bên bờ sông Hồng, ngoại thành Hà Nội. Di cư vào Nam 1954, Nguyễn Đình Toàn bắt đầu viết văn làm thơ, viết kịch, viết nhạc, cộng tác với các tạp chí Văn, Văn Học [trong nhiều năm, Nguyễn Đình Toàn phụ giúp Trần Phong Giao tuyển chọn thơ và truyện cho báo Văn]; Nguyễn Đình Toàn cũng viết feuilleton cho các nhật báo Tự Do, Chính Luận, Xây Dựng, Tiền Tuyến; biên tập viên đài phát thanh Sài Gòn, nổi tiếng với chương trình Nhạc Chủ Đề trong những năm 1970s. Sau 1975, cùng chung số phận như mọi văn nghệ sĩ Miền Nam, Nguyễn Đình Toàn bị bắt hai lần và đi tù cải tạo một thời gian gần sáu năm. Sang Mỹ định cư từ cuối năm 1998, Nguyễn Đình Toàn và vợ, chị Thu Hồng cùng phụ trách chương trình Đọc Sách cho đài phát thanh VOA, Nguyễn Đình Toàn còn viết cho tuần báo Việt Tide mục Văn Học Nghệ Thuật của nhà văn Nhật Tiến cho tới khi nghỉ hưu. Gia đình Nguyễn Đình Toàn hiện sống tại Nam California.
(more…)

Thiếu Khanh

thieu_nu_cheo_xuong

Tiếng nói không những là phương tiện giao tiếp mà còn là một thứ “căn cước” cho biết mình là người miền nào. Nghe tiếng nói người ta phân biệt được người Bình Định với người người Phú Yên, người Gò Công cũng nói không giống người Rạch Giá.

Tuy vậy, không cần phải là một nhà nghiên cứu, ai cũng có thể thấy người Việt, nói chung, có chung một đặc tính kỳ diệu: từ Bắc xuống Nam cùng nói một thứ tiếng Việt phổ thông; sách vở cũng dùng chung một thứ chữ Việt phổ thông. Nếu trong 9 thôn bản của người Mông, Lô Lô, Tày, Pu Péo ở xã Lũng Cú, một xã cực bắc Việt Nam, thuộc huyện Đồng Văn tỉnh Hà Giang, mà có người Việt sinh sống, thì người Việt ở đó, cho đến những người Việt ở Xã Đất Mũi, một xã cực Nam, thuộc Huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau, cùng đọc hiểu chung một thứ chữ viết, nói chung một thứ tiếng Việt.
(more…)

Thụy Khuê

tuong_Quang_Trung

Sau khi đại phá quân Thanh năm 1789, uy thế Quang Trung lừng lẫy, nhưng sự kiện anh em bất hoà từ 1787 vẫn còn hằn vết. Giang sơn chia hai, Nguyễn Huệ giữ từ Phú Xuân ra Bắc, Nguyễn Nhạc từ Quảng Nam tới Quy Nhơn. Đất Phú Yên, Khánh Hoà, Bình Thuận, trên nguyên tắc của Nguyễn Nhạc, nhưng là vùng tranh chấp thường xuyên. Nguyễn Ánh giữ miền Nam. Họ xưng là “ba nước”.

Về phía Nguyễn Ánh, sự bình định miền Nam đã xong, cơ sở hành chính và quân đội đã vững. Kế hoạch chiến tranh cũng được vạch rõ: sẽ không đánh liên tục mà đánh theo gió mùa, thuận gió thì đem tầu thuyền ra tấn công chiếm đất, để quân, tướng, ở lại giữ; hết gió, lại rút về Gia Định, cho quân làm ruộng, đợi năm sau. Chính sách khi có giặc thì đánh, khi nghỉ thì cho quân về làm ruộng, có từ thời nhà Đường; ở ta, các đời vua đều ít nhiều sử dụng, không phải do Bá Đa Lộc “dạy” như Faure viết, rồi những người sau chép lại.
(more…)

Kiệt Tấn
Đọc tiểu thuyết Bàn Tay Nhỏ Dưới Mưa của Trương Văn Dân – PNB & NXB Hội Nhà Văn, 2011

bia_ban_tay_nho_duoi_mua

Em từ rửa mặt chân như
Nghiêng soi hạt nước mời hư không về
Thau hương hiện kính bồ đề
Phấn son chìm lắng hạt mê luân hồi

(Phạm Thiên Thư)

Khi về tay nhỏ che trời rét
Nghe giá băng mòn hết tuổi thơ

(Nhã Ca)

Người đàn bà cúi đầu lủi thủi dưới mưa trời, lòng ướt dầm trĩu nặng. “Mưa bắt đầu nặng hạt hơn. Tay trái dắt con, tay phải đưa lên che đầu. Nhưng bàn tay bé nhỏ của tôi không che nổi trời, những hạt mưa vẫn tưới xuống những sợi tóc ướt, xoắn thành lọn…nước nhỏ thành giọt lạnh xuống đôi vai”

Cuộc hôn nhân đầu đời gãy đổ, lòng thất vọng ê chề.
(more…)

Hoàng Yên Lưu

hoang_xuan_han
Học giả Hoàng Xuân Hãn

Bắc đình thời nào cũng vậy từ Tần Thủy Hoàng, Hán Quang Vũ, Đường Thái Tông, Tống Thần Tông, Nguyên Thế Tổ, Minh Thành Tổ, Thanh Càn Long cho tới Mao Trạch Đông… đều lăm le xâm lăng Nam quốc nếu có cơ hội và khả năng. Lòng tham không đáy, thủ đoạn dã man của rợ Hồ (như cách nói của Trần Quang Khải: “cầm hồ Hàm tử quan”) đã khiến dân Việt lúc nào cũng phải cảnh tỉnh và mài sẵn long tuyền (như Đặng Dung từng nói: “Kỷ độ long tuyền đới nguyệt ma”) để trảm xâm lăng bảo vệ giang sơn Hồng Lạc.

Đối với cường địch, dân Nam vốn kiên cường và dũng cảm nhưng “bất đắc dĩ dụng quyền”. Lại vì hiếu hòa, trọng nhân ái như Nguyễn Trãi từng viết trong Bình Ngô đại cáo: “Lấy đại nghĩa để thắng hung tàn. Đem chí nhân để thay cường bạo”, nên trước lúc giao tranh và sau khi thắng trận, ta vẫn thường sử dụng “lễ”, nghĩa là ngoại giao để thức tỉnh kẻ thù rằng nên sớm tỉnh ngộ, tránh thảm bại nếu xâm phạm đất của “nam đế” như Tướng quân Lý‎ Th‎ường Kiệt từng khuyến cáo bọn đồ tể từ Biện Kinh kéo sang ta: “nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”.
(more…)

Ngô Thế Vinh

Trước và sau thời 1954-75 ở Miền Nam, không thấy ở nơi nào khác trên đất nước ta, văn học được phát triển trong tinh thần tự do và cởi mở như vậy. [Võ Phiến nói chuyện với Đặng Tiến 28-10-1998]

vo_phien_3

Có thể nói Võ Phiến là một trong số các tác giả được viết và nhắc tới nhiều nhất. Trước khi quen biết nhà văn Võ Phiến, tôi đã rất thân quen với những nhân vật tiểu thuyết của ông như anh Ba Thê đồng thời, anh Bốn thôi, ông Năm tản, ông tú Từ lâm, chị Bốn chìa vôi từ các tác phẩm Giã từ, Lại Thư nhà, Một mình…

Rồi qua người bạn tấm cám Nghiêu Đề, qua toà soạn Bách Khoa, tôi quen ông từ những năm trước 1960 cho tới khi ra hải ngoại về sau này.
(more…)