Archive for the ‘Truyện Ngắn’ Category

Cha tôi

Posted: 17/09/2019 in Truyện Ngắn, Vương Điền

Vương Điền

Vợ sinh. Tôi đón cha lên thành phố. Nếu nói là đón mẹ lên thì thích hợp với hoàn cảnh hơn. Nhưng mẹ tôi đã xa cõi đời từ lúc tôi lọt lòng. Sự ra đi của mẹ, trong thâm tâm tôi vẫn luôn là một sự đánh đổi quá nghiệt cùng của tạo hóa, mà nỗi đau đớn còn dành lại một vị đắng ở đầu môi. Và người ở lại phải sống tốt cho cả hai phần đời. Tôi đã có thật nhiều cố gắng.

Cha tôi, người đàn ông lam lũ. Cha gầy, gầy lắm, mà không phải chỉ gầy do sức khỏe, mà thời gian đã ngấm dần trong từng thớ thịt cha, già cỗi và yếu ớt. Người đàn ông cô độc ngần ấy tháng năm của tôi.

Bao nhiêu lần ôm cha ngủ. Từ bé, lúc lớn lên đi xa trở về, hay khi tôi đi làm có tiền thường gọi điện cho ông: “Cha, lên thành phố với con, con lo được mà”. Ông hỏi dò “Có thiệt không đó, cu con? Không để tiền cua gái hả?” Rồi ông cười khà khà. Hôm sau đã có mặt ở nhà tôi. Mang nào gà, nào vịt, nào trái cây. Và không quên mang theo một cúc rượu để cha con nhâm nhi. Nhưng sao lần này, nằm cạnh ông, nhìn ông ngủ, tôi …tôi không diễn tả nỗi cảm xúc của mình. Nước mắt ở đâu cứ như nước sôi đang đun trào, cứ thế đẩy vung mà ra. Chắc vì tôi mới được làm cha, chắc lẽ thế.
(more…)

Mả quan

Posted: 13/09/2019 in Phạm Lưu Vũ, Truyện Ngắn

Phạm Lưu Vũ

Cánh đồng Mả Quan làng tôi thẳng cánh cò bay. Năm hai vụ lúa xanh tốt bời bời. Vào lúc lúa uốn câu, đêm đêm đi qua nghe tiếng cá rô nhảy lên đớp thóc, cứ như những tiếng chép miệng của ai đó ở giữa cánh đồng. Sở dĩ có cái tên đó, là vì ngày trước toàn bộ là lăng mộ của một ông quan to lắm, giờ chỉ còn sót lại vài cái gò nhỏ lọt thỏm, nhấp nhô giữa biển lúa xanh. Cái gò nằm chính giữa có một cây cổ thụ già cỗi, mốc meo, dùng làm chỗ buộc trâu, buộc bò…

Hồi nhỏ học cấp hai, lũ học trò chúng tôi tham gia đào một con mương thủy lợi cắt qua cánh đồng này. Trật ra một tấm bia đá có đục bảy chữ Nho. Ông đồ Tỉnh làng tôi đọc: “nhật nguyệt chứng do dư, Thạch Tổ chi đại trủng”, giảng là mả lớn của ngài Thạch Tổ, có mặt trời, mặt trăng làm chứng. Té ra ông quan kia họ Thạch. Đào xuống dưới nữa gặp quan tài bằng gỗ hương dày cỡ gang tay. Người lớn thì e ngại, trẻ con chúng tôi vốn chả sợ gì, háo hức lấy xà beng bật nắp quan lên, chỉ thấy bên trong toàn bùn đen có mùi thum thủm, mùi gỗ hương ngào ngạt cũng không át nổi, mấy ngày mới tan.
(more…)

Edogawa Rampo
Phạm Đức Thân chuyển ngữ từ bản tiếng Anh (The Cliff) của James B. Harris dịch trong tuyển tập Japanese Tales of Mystery and Imagination.


Edogawa Rampo (1894-1965)

Edogawa Rampo (hoặc Ranpo) là bút danh của Hirai Taro, một tác giả Nhật Bản nổi tiếng về truyện trinh thám, kinh dị. Edogawa Rampo là Nhật hóa tên của Edgar Allen Poe, tác giả Mỹ mà ông ái mộ.

Vách Đá (ly kỳ kiểu Hitchcock) là chuyện một nam và một nữ bàn về cái chết của chồng nàng và những bí mật hai người cùng chia sẻ.

Câu chuyện đầy kịch tính và hấp dẫn. Ngắn nhưng tuyệt. (PDT)

VÁCH ĐÁ

Đang là mùa xuân. Tại đỉnh vách đá, cách Suối Nước Khoáng K_ khoảng một dặm hai người đang ngồi trên một phiến đá. Có thể nghe loáng thoáng xa phía dưới, chỗ thung lũng, tiếng nước róc rách của một con sông. Anh chàng khoảng giữa 20 và cô nàng già hơn một chút. Cả hai đang mặc áo kimono choàng của một khách sạn suối nước nóng.

CÔ GÁI: Kể cũng lạ, bấy lâu nay chúng ta chưa bao giờ đề cập đến các chuyện xẩy ra đang không để đầu óc chúng ta yên. Hôm nay nhiều thời giờ rảnh rỗi, chúng ta hãy nói về mấy chuyện quá khứ này một chút. Anh không ngại chứ, anh yêu.

CHÀNG TRAI: Dĩ nhiên không, em yêu. Em nói trước đi, và thỉnh thoảng anh sẽ thêm ý kiến.
(more…)

Mạc Ngôn
Phạm Đức Thân dịch bản tiếng Anh Autumn Waters do Richard F. Hampsten và Maorong Cheng chuyển ngữ từ nguyên tác Thu Thủy của Mạc Ngôn.

Mạc Ngôn sinh năm 1955, nhà văn Trung Hoa, Nobel 2012, nổi tiếng với những truyện Cao Lương Đỏ, Phong Nhũ Phì Đồn (Báu Vật Của Đời), Đàn Hương Hình….Ông có tài mô tả chi tiết hiện thực, nhưng nhấn mạnh cảm thụ trực giác, tạo được một hiện thực mới mẻ có đủ mầu sắc mùi vị. Truyện là cái khung để ông kết hợp tả thực với tượng trưng, biến hình, huyền ảo khoa trương, không theo lối tự sự cổ truyền, tạo được cảm giác và đột biến hấp dẫn.

Thu Thủy là truyện ngắn nhưng bao gồm hầu hết các đặc điểm nêu trên. Phạm Đức Thân chuyển Việt ngữ từ bản Anh dịch Autumn Waters của Richard F. Hampsten và Maorong Cheng.

NƯỚC LŨ MÙA THU

Một sáng mùa xuân đẹp trời, năm ông tôi 88 tuổi, mọi người trong làng thấy ông ngồi trên chiếc ghế xếp, dựa lưng vào tường của vườn rau, mắt nhắm, nghỉ dưỡng thần. Khoảng trưa, mẹ sai tôi ra mời ông vào ăn trưa. Tôi chạy tới ông kêu to mời ông, nhưng không thấy phản ứng gì. Tôi lay ông và chỉ khi đó mới nhận ra ông không thể cục cựa. Tôi chạy vào báo mọi người. Họ túa ra, vây quanh ông, vừa lắc lắc vừa lớn tiếng gọi ông, nhưng rốt cuộc mọi cố gắng đều vô hiệu. Ông đã chết một cách hết sức đường hoàng, mặt hồng hào như còn sống, chết một cách khiến mọi người phải kính nể. Trong làng ai cũng bảo hẳn kiếp trước ông đã tích lũy được nhiều việc thiện, bởi vì chỉ có thế người ta mới hưởng được cái chết thanh thản như vậy. Mọi người trong gia đình tôi cũng được dự phần vinh quang cái chết của ông.
(more…)

Hồ Đình Nghiêm

Bạn tôi năng buồn, buồn mang nặng. Để trám lấy, mong khinh khoái, bạn làm thơ. Tơ lơ mơ thôi cũng gặt được gần hai chục cái like. Ai đó nói, bữa nay hắn sinh đổ đốn, bạn nghe, bỏ ngoài tai. Đẹp trai không bằng chai mặt. Bạn kêu ngặt, làm thơ khó mà tìm đứa hiểu ta, lại càng khó hơn. Tôi vỗ vai bạn, một ngày kia rồi sẽ ngộ, chẳng hạn có kẻ tâm đầu ý hợp lò dò quá bộ lại tìm quen.

Tính bạn tôi chướng, ưa cãi bướng, thích Bùi Giáng ở câu “Suốt đời phải thức trắng đêm, suốt ngày ngủ nướng mới nên con người”. Mày chưa đắc đạo thì chớ cười. Tao nào phải dân chây lười. Lại đọc thơ Tô Thuỳ Yên “thức cho xong bài thơ, mai sớm ra đi, cài hờ lên cửa tặng”. Nghe đã mặn chưa? Có khi thức dậy ban trưa, chưa lại thần hồn đã phán: Mày mần cho tao cái bìa, đôi ba bữa nữa tao gom thơ đi in thi tuyển. Chừng trăm quyển cũng đủ trôi cơn hạn. Đã là bè bạn, không phải nói trạng hãy đợi chạng vạng cùng bá cổ nhau đi đánh chén. Xem như ăn mừng trước đi, hén?
(more…)

Phạm Hồng Ân

Tôi chuẩn bị đi gặp cô tư vấn về đất, bỗng nghe chuông điện thoại reo lên. Tiếng Búc thánh thót trong máy. Anh nhớ ngày hôm nay là ngày gì không? Tôi lục soát trí nhớ trong giây lát. Sinh nhật em, đúng không? Trật lất. Tôi lại lướt qua ký ức. Ngày giỗ chồng em? Tiếng Búc bực bội. Anh chẳng nhớ chi hết. Chán anh ghê! Vậy là ngày em lên xe hoa với lão già móm, chứ gì? Lần này, điện thoại tôi rung mạnh, sắp văng khỏi tay. Búc hét lớn. Lớn như một luồng sét dữ tợn, từ trời rớt xuống, bửa thẳng vào đầu tôi. Anh nghe em nói nè, hôm nay là ngày gia đình anh và em đặt chân đầu tiên lên đất Mỹ. Em muốn gia đình chúng ta sẽ họp mặt nơi nào đó, kỷ niệm ngày đặc biệt này. Anh có đồng ý với em không?
(more…)

Inoue Yasushi
Phạm Đức Thân dịch từ bản tiếng Anh Shotgun do George Saito chuyển ngữ từ nguyên tác Ryoju của Inoue Yasushi.

Inoue Yasushi (1907-1991) viết báo, làm thơ trước khi xuất bản tác phẩm đầu tay “Khẩu Súng Săn” năm 1949, và nổi tiếng tức thời. Trong lời bạt của tác phẩm này in năm 1988, ông nhận xét: tuy truyện có chút vụng về của buổi đầu, nhưng nó biểu thị con người ông đầy đủ nhất, hơn cả 50 tiểu thuyết và 150 truyện ngắn ông viết sau này, “có một cái gì cơ bản mà tôi không thể thoát ra được” Thật vậy, tác phẩm tâm lý sâu sắc này, tuy là tác phẩm đầu tay, nhưng nó có đủ tính chất chừng mực, chững chạc, súc tích, trữ tình, chi tiết, và nhất là chất thơ (dẫu sao ông còn là thi sĩ) của một bực thầy.

Tình yêu, cái chết, cô đơn và sự thật ẩn giấu trong mỗi người… tất cả đan bện vào nhau trong 3 bức thư từ 3 góc nhìn khác nhau của 3 phụ nữ trong một cuộc tình tay ba bi thảm: người tình, con gái người tình và người vợ bị bỏ bê. Phạm đức Thân chuyển Việt ngữ từ bản Anh dịch “Shotgun” của George Saito, có tham khảo bản dịch “The Hunting Gun” của Michael Emmerich.
(more…)

Trần Bạch Thu

Buổi sáng cuối tuần nào hắn cũng ra quán cà phê quen thuộc ở thành phố Westminster. Ngồi cả ngày dưới bóng cây dù trước quán. Nắng dọi nghiêng tới đâu hắn xoay quanh tới đó. Nhiều hôm không có ai quen ra quán hắn cũng vẫn ra ngồi đấy cho đến xế trưa. Trước khi rời quán, hỏi hắn đi đâu. Hắn trả lời

– Đi loanh quanh ra phố Bolsa.

Rồi hắn đi thật, đi lững thững ra ngoài parking lái chiếc xe Camry đời cũ, chạy chậm, khói xe bay mù mịt. Có hôm nghe tiếng đề máy kêu thật to, đề hoài mà không thấy nổ. Hắn trở vào quán cười nói “may mà không chết máy dọc đường.” Sau đó hắn gọi cho con gái. Chờ xe tow đến câu xe ra shop sửa chữa. Xong xuôi hắn đi bộ ra bến xe buýt chờ chuyến về nhà. Cũng chậm rải bình an vô sự.
(more…)

Ý Ngôn

Chú Năm bước đến hàng bán cá mua hai con cá rô phi, nhờ người bán làm sạch và chiên dòn. Có một người đàn bà cũng đang đứng chờ chiên cá như chú, chị nói:

– Bữa nay thứ tư họ thay dầu mới, cá chiên nóng về ăn với nước mắm tỏi ớt ngon lắm.

Chú Năm mỉm cười không nói gì, chú đâu biết pha nước mắm tỏi ớt, hồi trước lúc vợ chú còn sống chuyện bếp núc một tay bà lo. Vợ chú chết hai năm nay, chú không biết nấu ăn lại không thích vô bếp, cứ ra tiệm mua thức ăn người ta làm sẵn mang về, ở thành phố này thì có rất nhiều tiệm bán thức ăn Việt, rất tiện.
(more…)

Huỳnh Tịnh Của (1834-1907)
Nguyễn Văn Sâm nhận định và chú giải

 
Tượng Huỳnh Tịnh Của và bìa Chuyện Giải Buồn

Một truyện ngắn đầu tiên của Văn Học Việt Nam: Ông Huỳnh Tịnh Của khi viết cuốn Chuyện Giải Buồn đã gom góp lại những chuyện nầy nọ do ông nghĩ ra hay do ông lấy trong sách Tàu, nhưng điều ông không ngờ là mình đã viết truyện ngắn đầu tiên của văn học Việt Nam. Bản in mà chúng ta thấy được là bản 1886, in lần thứ hai, không biết là in lần thứ nhứt năm nào nhưng 1886 – 2019 thì cũng đã 133 năm rồi. Chưa thấy sách vở nào nói trước đó có người Việt Nam viết truyện ngắn bằng văn xuôi quốc ngữ, tôi tạm cho rằng ông Huỳnh Tịnh Của là người mở đầu cho truyện ngắn Việt Nam.

Vấn đề là truyện mà chúng tôi đưa ra và cho là truyện ngắn có xứng đáng chăng với danh xưng truyện ngắn. Theo tôi là xứng vì có đầy đủ điều kiện về văn: Trơn tru, rõ ràng, điều kiện về bố cục: Có đầu có đuôi hoàn chỉnh. Đối với thời tác phẩm xuất hiện nó cần có ý nghĩa đạo lý, và nó đã có. Xin mời thưởng thức. (NVS)

CHUYỆN TRƯƠNG THÀNH

Người Dự Châu họ Trương ấy vốn sinh đẻ tại nước Tề, cơn bát loạn [1] vợ bị giặc bắt, qua ngụ Dự Châu lập nghiệp chắp nối [2], mới sinh ra một đứa con tên là Nột; chẳng khỏi bao lâu [3] vợ ấy chết, chắp nối một lần nữa lại sinh ra Trương Thành. Vợ sau họ Ngưu dữ, ghen ghét tên Nột, cầm như tôi mọi [4], cho ăn dơ, bắt đi hái củi mỗi ngày là một gánh, không có thì đánh chưởi khổ sở; bao nhiêu đồ ngon cất giấu cho Thành, cho Thành đi học. Thành lớn lên hay thương anh, thấy anh cực, can gián [5], mẹ không thèm nghe lời [6].
(more…)

Phan Ni Tấn

Linh mục Nguyên Khải vừa lên tới chân núi Yên Tử thì trời mưa tầm tã. Núi Yên Tử thuộc xã Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, là một dải núi cao nằm ở phía đông bắc Việt Nam. Mặc dù Cha Khải có mang theo chiếc ô, vừa che mưa che nắng vừa làm gậy phòng thân, nhưng đụng phải cơn mưa giông, sấm sét rền trời buộc ông phải lách mình vô sơn động núp mưa. Vừa bước vào cửa động Cha Khải suýt dẫm phải con rắn hổ mang bành dài khoảng 6m nằm chắn ngang đang nuốt con rắn lục to bằng hai ngón tay. Đúng lúc đó con chim bồ câu trắng sà xuống đậu trên cành muỗm gần chỗ Cha Khải đứng.
(more…)

Hồ Đình Nghiêm

Mùa Vu Lan mà để lòng xiêu, chỉ ngêu ngao về vợ mình thì nghĩ cũng không phải. Nhưng có lắm hoàn cảnh trớ trêu đã bày ra những nghịch tử, chúng hiện diện ở đời mà mãi trách cứ song thân, đẻ tui ra làm chi rồi vất tui vào cõi trầm luân này. Trách cứ về lương duyên thành tựu vợ chồng bố mẹ, cứ vùi đầu tác hợp mà chẳng chịu liệu cơm gắp mắm trông trước ngó sau. Đói cho vàng mắt mờ người mà còn chí thú chuyện “hạnh phúc” lứa đôi. Chẳng chịu mua bánh trung thu để được khuyến mãi tặng không một lố bao cao su chưa qua sử dụng. Càm ràm với bất hiếu cũng một nghĩa như nhau. Tôi không càm ràm, tôi giận bà con cứ quen dùng điệp ngữ “trăm năm hạnh phúc” làm quà cưới đến nhà hàng đặc sản, mang trao cho đôi trẻ ý hợp tâm đầu. Trăm năm có dài không? Nghe đâu tới chừng bảy chục cổ lai hy thì người ta đã đầu bạc răng long, sống đây cũng như chết rồi. Riêng bố mẹ tôi thì xuội lơ đi gặp bác khi vào độ tuổi sáu chục. Bác ta nào ở xa xôi, sắp hàng một chốc hỡi ôi ba đình.
(more…)

Cung Tích Biền


Nhà văn Cung Tích Biền

“Con ai đem bỏ nơi đây,
Thế gian đâu chỉ một này mà thôi”

[CTB]

1.
Hồ sơ về Kỷ vật:

Thư của Manh Manh:

“Chị Mành Mành thân yêu,

Kỷ vật là con của chị? Em biết.

Chị say đắm trong một tình thương hiếm có của tình mẹ con? Em biết.

Nhưng em phải viết ra/ ghi lại những dòng này, vì quanh đây còn ánh mặt trời. Kỷ vật phải được soi sáng, rõ thực là từ đâu tới.

Ngoài thương yêu, dâng hiến cho đứa con từ tình mẹ, chị không có một quyền năng gì để thay đổi được sinh mệnh của cháu.

Kỷ vật chỉ là một Hậu quả, không là một Tương lai. Hôm nay, xã hội người đã một mực đi tới tương lai, quên những gì đã tạo, và để lại, từ quá khứ.
(more…)

Cung Tích Biền


Nhà văn Cung Tích Biền

1.
Nhiều đêm không ngủ, nằm hoang trống trong bóng đêm, lòng buồn nhớ nổi trôi. Lá trong vườn cũ, cỏ may quanh bia mộ, nhớ ngọn gió đầu mùa gợi cho ta cái khang khác chờ mong một đổi mùa, nhớ đôi mắt một người điên, nhớ chuột.

Thay vì dùng cái bẫy chuột cồng kềnh, lại tốn công lắp miếng mồi, ngày nay người dùng tấm keo dính chuột, để giết chuột.

Tôi từng ngồi rất lâu một sớm mai nhìn con chuột vùng vẫy trên tấm keo dính chuột, lúc nó còn sức vẫy vùng. Bi kịch ấy không quá một ngày, nhưng cực là dằn dai, đúng điệu nghệ của cách tạ từ.
(more…)

Hồ Đình Nghiêm

Ở xứ lạnh dai dẳng ai cũng mong hè về, thế rồi khi nó tới, như chân đi một lữ khách đã mỏi mòn cần tìm nơi ngồi nghỉ. Nó ở tạm chẳng lâu, hiện ra mà không cần phải đón nghe những thành tâm đưa lời cầu xin quá bộ. Nó nóng quắt quay và khiến lắm kẻ lại manh tâm quay mặt khước từ. Họ bày ra những chia tay, họ đi xa, họ bảo cần thay đổi không khí.

Như vậy, nghỉ hè mang ý nghĩa của những cuộc lên đường. Vé máy bay lên giá, lập luận rằng tại rơi vào mùa cao điểm. Người ở núi cao bay về vùng biển, người ở phố phường tìm ra bình nguyên vắng tiếng động. Sống nơi cô quạnh bèn vượt biên mong quây quần chung đụng tiếng cười hiền hữu. Tựu trung họ tìm nhặt sự quân bình, bồi đắp những thiếu hụt, hoán đổi một môi trường, một cảnh sắc. Quen, lạ.
(more…)

Cung Tích Biền


Nhà văn Cung Tích Biền

Truyện ngắn dưới đây là truyện được sáng tác gần đây nhất [2015] trong chùm 3 truyện liên hoàn, nhân 40 năm sau Biến cố Tháng 4-75, khi Tác giả sắp bước vào thềm của tuổi 80. Truyện, một cưu mang khí hậu của hiện thực huyền ảo, đứa con sinh đôi của một dòng thời sự dai dẳng, dài dặc quái đản được gọi chung, là lịch sử.

1.
Bát tiên là tám vị tiên, trong đó có một tiên Bà. Mỗi người ở một động đá trong đảo Bồng Lai, nơi của trường sinh bất tử. Trương Quả Lão là một trong tám vị tiên. Trương có một cái trống cơm và một con lừa. Lúc cỡi lừa Lão tiên thường quay mặt về phía đuôi con lừa. Con lừa đi tới, Lão nhìn lui. Lúc không cỡi, Trương Quả Lão thu nhỏ con lừa bỏ vào cái bị cói, rồi mang kè kè.

Câu chuyện thần tiên ấy đã mấy nghìn năm trôi. Tôi thì hiểu theo một cách khác: “Phép thuật không do nơi Thuật sĩ Trương Quả Lão. Chỉ là do con lừa biết tự thu nhỏ để rúc vào cái bị cói mà thôi”.
(more…)

Thuyên Huy
Để nhớ HTN – người lẻ loi mang theo những gì muốn nói nhưng chưa nói được xuống lòng mộ lạnh.

Giữa tháng giêng, cuối hạ, buổi sáng, trời vẫn nắng như những ngày đầu mùa, vài ba cơn gió bắc gay gắt nóng hậm hực tụ nhau về rồi lửng thửng bỏ đi không chào không hỏi, chủ nhật, nghĩa trang Altona vắng tanh, không bao nhiêu người thăm, dọc theo mấy hàng mộ bia, cùng kích thước vuông, lớn cở hai gang tay, cùng loại đá, đặt nằm thẳng, cách đều nhau, trên cái đồng cỏ xanh trải đầy xác hoa phượng tím, sâu hút phía trong cùng, lác đác đôi ba người đứng ngồi ở cuối đường. Ngồi đó lâu rồi, trước mộ, nói là mộ nhưng ở đây, mộ là những khoảnh đất xanh cỏ, bằng phẳng, tro cốt chôn bên dưới, chính giữa phía trên, người ta đặt một cái bình đựng hoa bằng sứ đen, mộ nào cũng như mộ nào, chỉ khác nhau ở chỗ là hàng chữ khắc trên bia và loại hoa cắm trong bình, Đạm chưa nói được trọn những gì mình muốn nói, hơn năm năm gặp lại nơi xứ người, cùng cảnh đời lẻ loi, vui buồn có nhau, vậy mà cuối cùng, ngày anh Huỳnh mất, Đạm đã không tiễn anh lần đi sau cùng, không như lần tiễn nhau tại một góc quán cà phê, ở chợ Nancy, đêm chờ khuya ra biển, hẹn ngày gặp lại, tay vuốt nhẹ mộ bia, khắc vỏn vẹn tên người và ngày sinh ngày chết, chợt dưng Đạm nức nghẹn, thì thầm, rấm rứt khóc “vậy mà em đã thất hẹn với anh rồi”.
(more…)

Cái bẫy

Posted: 09/08/2019 in Truyện Ngắn, Đỗ Trường

Đỗ Trường

Đã lâu lắm rồi, châu Âu mới có một mùa hè nắng và nóng đến vậy. Trời đã vào đêm, vậy mà dường như, hơi nước bốc lên từ con đường Beton vẫn còn những vệt mờ mờ xuyên qua khung cửa kính trước mặt. Cửa ra của sân bay Leipzig đã vắng người. Nguyễn Bình An có vẻ sốt ruột, kiễng chân, nhoài người, nhòm vào phía trong, văng tục:

– Thằng bỏ mẹ này, có lẽ mang hàng lậu, tiền bẩn bị Hải quan, Công an tóm cổ lại thật rồi.

Từ phía sau, tôi nói vọng lên trấn an:

– Nếu quả vậy, thì nó đã bị tóm ở phi trường Paris, London, chứ đâu đến lượt cái sân bay tỉnh lẻ này. Cái loại quái thai, quyền lực nghiêng ngả, lắm của, nhiều tiền như nó, thiếu gì kẻ đóng thay chết thế. Tội gì, nó phải làm như vậy.
(more…)

Hồ Đình Nghiêm

Con đường mang tên một vị thánh. Saint Nicholas. Thành phố này có không dưới ba mươi vị. Ông thánh, bà thánh nằm đó đây, cắt ngang nhau, chồng lên nhau, nối tiếp nhau và đa số quần tụ trên vùng đồi cao.

Xe buýt nặng nề leo dốc, máy nổ lớn và cảnh vật bên ngoài trôi qua từ tốn, quen mặt. Những ngọn đèn luôn thắp sáng trước một tảng màu diêm dúa có treo hình cô gái khỏa thân đứng cheo leo trên mái che, những bậc cấp uốn lượn dẫn lên một dãy sân tennis có rào lưới chắn bên ngoài. Xe sẽ dừng ở trạm đổ, nơi ngã tư luôn tụ gió và cái bảng đường mang tên St-Nicholas đứng run chân dưới ụ đất vun nhiều cỏ dại với hoa vàng lưa thưa.
(more…)

Nguyễn Thạch Giang

Tôi quen chị Ly Ly hơn hai mươi năm về trước, lúc từ Việt Nam mới qua lơ ngơ đi làm công nhân trong hãng điện tử. Hai vợ chồng chị Ly Ly cũng từ Việt Nam mới qua vô làm chung hãng. Hãng nhỏ chuyên làm đồ gia công cho mấy hãng lớn, nhân viên thuộc hàng “assembler” như tôi thì người Việt rất đông họp thành một xóm nhà lá cũng vui.

Hai vợ chồng chị Ly Ly thuộc hạng “người giỏi”, làm được một thời gian thì anh tìm được chỗ làm khác tiền lương nhiều hơn bèn nhảy job (chớ ai đời như tôi ù lì một cục ngồi đâu ngồi đó, có một chỗ làm hoài). Chị Ly Ly thì giỏi kiểu khác, lương ba cọc ba đồng nhưng chị để dành tiền hay lắm, có chín đồng rán kiếm thêm một đồng cho đủ mười. Không bao giờ từ chối mỗi khi sếp kêu làm overtime, còn tôi gần tới giờ về là nôn trông cho mau tới, hôm nào sếp kêu ở lại làm tăng ca là tôi buồn trong bụng lắm, mà chỉ làm hai tiếng thôi, không làm bốn tiếng như người khác.

Thuở đó hai vợ chồng chị chỉ có một chiếc xe, giờ anh nhảy hãng khác chị nhờ tôi đưa đón, hùn tiền xăng đàng hoàng. Mỗi ngày hai bận đi về, chị nói hết chuyện này tới chuyện khác, (chị có bao nhiêu tiền cũng nói cho tôi biết). Chị nói anh làm bao nhiêu tiền đưa chị giữ, chỉ xài tiền làm overtime (trời đất! vợ người ta!). Chị nói chỉ tiêu của chị là mỗi tháng phải để dành năm trăm, nhất định phải có năm trăm. Làm được mấy tháng chị có dư mấy ngàn chơi hụi. Hốt hụi chót được năm bảy ngàn đi mua vàng, nếu không thì ai cần cho họ mượn (mình được họ rối rít cám ơn mà còn có tiền lời).
(more…)

Cát

Posted: 05/08/2019 in Thu Phong, Truyện Ngắn

Thu Phong

Khách sạn tọa lạc ven rừng, kiến trúc hài hòa với thiên nhiên, giữa các cây cổ thụ dây leo chằng chịt, rễ to trồi khỏi mặt đất.

Khung cảnh tịch mịt, hoang vắng, thâm u.

Khách sạn chỉ được dân lãng du trên đường nhận biết nhờ bảng chỉ dẫn.

Từ khách sạn muốn tắm biển phải băng qua lộ, đi qua rừng phi lao. Mùa biển động từ khách sạn người ta có thể nghe được tiếng ầm ầm của sóng, lá cây rụng đầy khuôn viên.

Nhân viên khách sạn thường phải xua đuổi lũ khỉ xâm nhập.

Khách lưu trú thì thích thú nhìn thấy chồn, sóc trong khuôn viên, mắt thú rừng hiện ra sáng rực trong màn đêm.
(more…)

Hồ Đình Nghiêm

1.
– Nếu mày có vợ, người ta câm lặng. Nếu mày ở chung với một người con gái, người ta xí xọn rêu rao: Thằng ấy có mèo.

Quân nâng ly cà phê đen đá lên, tợp một hớp. Xong nói tiếp: Khi đã có vợ mà còn vụng chùng, còn đèo bồng thêm một nhan sắc, đối tượng kia được mang hỗn danh bồ nhí.

Sĩ thắp một điếu thuốc, thở khói:

– Mày chúa lý sự lôi thôi, luôn áp đặt những từ không chính xác. Mèo với bồ nhí là cái thá gì? Cơm với phở cũng thuộc dạng hồ đồ. Bà kia là vợ chính thức, bà nọ là người tình, đơn giản là thế, minh bạch là thế. Mày có mèo rồi à? Hay mày đang thậm thụt cùng bồ nhí?
(more…)

Trần Bảo Định

1.
Lão chạm mức tuổi tám mươi, cái tuổi mà thời đó trong làng chỉ cần bảy mươi thì đã là “Thất thập cổ lai hy”! Người làng đặt cho lão cái hỗn danh “Năm Cối Đá”. Nhà tôi cách nhà lão một cái nhảy qua mương; lúc ngẫu hứng hoặc những khi trời se lạnh ủ chiều tà, lão thường gọi tôi sang nhâm nhi rượu và ngồi nghe lão kể chuyện đời xưa, hoặc chuyện đời lão.

Lão “Năm Cối Đá” là dân thứ thiệt trong cái làng An Vĩnh Ngãi đã bao lần thay tên đổi họ theo thời cuộc. Lão nói: “Làng mình do sáp nhập làng Hòa Ngãi và Vĩnh Phú thành làng Vĩnh Ngãi (1) rồi bảy năm sau (2), làng Vĩnh Ngãi sáp nhập làng An Trị thành làng An Vĩnh Ngãi, thuộc tổng Thạnh Hội Thượng, quận Châu Thành”.
(more…)

Hồ Đình Nghiêm

Sơn cùng thuỷ tận. Hình ảnh ấy mang đủ sự đe doạ. Như ngày xưa người ta sợ hãi khi bị dồn đẩy lên vùng kinh tế mới, lạ nước lạ cái, đưa đầu trần, tay không tấc sắt, chống đỡ và đương cự với bao oan nghiệt vây bủa, thập tử nhất sinh.

Nhưng ngày nay, vì hoàn cảnh riêng tư đã xúi đôi kẻ chẳng ngần ngại lập ngôn “ta không vào địa ngục thì ai vào?”. Thiên đường thì mãi hiếm chứ địa ngục, ôi thôi nó bày ra nhan nhãn đó đây. Rừng rậm không dấu chân người thì bỏ qua đi nha, núi cao muôn trượng tuyết phủ ngàn năm cũng rứa; chúng không phải và không đúng với tâm trạng “ta dại ta tìm nơi vắng vẻ”. Thưa vắng khác với đèo heo hút gió, chó ăn đá gà ăn muối. Địa ngục cũng có năm bảy tầng, đừng dại thăm thú tầng quá sâu. Chúng ta đi là đi vậy chứ lòng chúng ta mong lắm ngày trở về. Cô dâu chú rể thường khởi đầu cuộc sống lứa đôi bằng tuần trăng mật. Họ đồng lòng chọn lựa một nơi chốn cực kỳ thú để đánh dấu kỷ niệm về sự kiện quan trọng trong đời. Qua rồi thời vàng son, mình bây chừ chuyện sống chết đến sát bên lưng hồi nào chẳng hay. Cần lắm một lần thay đổi không khí.
(more…)

Nguyễn Văn Sâm
Để nhớ tuần lễ Lao Động Xã Hội ở Củ Chi, 1976 – Riêng nhớ về hương hồn bạn Trần Quang Huy.

Tối nay Thanh khó ngủ kỳ cục. Anh trằn trọc đến hơn nửa khuya trên tấm nylon giờ đây đã rin rít mồ hôi. Bực mình, Thanh ngồi dậy lấy miếng lá chuối khô lau những chỗ ướt rồi nằm xuống, cố vỗ giấc. Tại sao đêm nay mình như thấy có gì bức rức? Mỗi đêm hễ ngã lưng xuống là vùi giấc vì ban ngày quá cực nhọc. Không phải Thanh luôn luôn ngủ theo tiếng kẻng. Nhiều đêm anh nằm mắt mở trao tráo để sáng thức dậy đầu như búa bổ, mắt cay xè, chân đứng muốn không vững. Nhưng những bữa đó đều có lý do. Hoặc quá đói, hoặc quá buồn bã, tức giận vì ban ngày chứng kiến nhưng chuyện não lòng.
(more…)

Kim Ân

Khi linh mục già dò dẫm từng bước qua được những bậc thềm khấp khểnh của nhà kẻ liệt thì trời đã khuya lắm. Mấy vệt sáng vàng vọt của đèn dầu lọt qua khe cửa làm cho nó chìm thêm trong bóng tối mịt mùng. Trong đêm tối ông chỉ có thể cảm được chứ không thấy được rằng nơi ông tới là một thôn nhỏ đìu hiu với những mái tranh thấp thoáng dưới tán lá rừng rậm rạp.

Linh mục vươn người vặn mình cho đỡ mỏi, mấy đốt sống kêu lục cục. Chủ nhà dựng chiếc Honda dưới thềm, bước vội lên đỡ ông:

– Trình cha, xin cha cẩn thận chỗ bậu cửa.

Linh mục ừ hữ gật đầu. Ông mệt lử sau hai chục cây số ngồi ôm eo vượt con đường hết đèo lại suối lổn nhổn đá và rễ cây. Không hiểu sao người ta lại cứ phải tìm ông, trong khi cách đây vài thôn có một xứ đạo khác, tuy không lớn, với một linh mục trẻ?
(more…)

Hồ Đình Nghiêm

Mỗi khi đi làm, Gia đều ra đứng ngoài đường lớn, sắp hàng đợi chuyến xe buýt chạy lên hướng phố. Mất khoảng hai chục phút, Gia bước xuống trạm dừng kề bên một công viên thoáng rộng có lắm cây xanh. Cuối tầm nhìn, chận đứng bằng dãy nhà màu gạch nâu tựa bức tường cổ xưa mãi thi gan cùng tuế nguyệt. Đằng sau nó là nơi Gia sẽ bước vào, lạc thần hồn trong tám tiếng mà đồng hồ thì biếng nhác di dời hai cây kim, có vẻ đình trệ. Thứ lập trình quen thuộc ấy gần như bào mòn cảm xúc của Gia, tiếng chim ríu rít lắm cung bậc mất dần giá trị, không lặng người như phút đầu được nghe giọng lãnh lót, việc chúng muốn chia sẻ niềm hân hoan. Ngoài chim kêu rộn ràng, đầy ứ mỗi sáng mai khi đi băng qua công viên, Gia thường quen đặt mắt vào một hình khối trắng đục, như kiểu muốn kiểm chứng là nó còn đó hay đã bỏ đi. Từ bao lâu rồi, người ta trồng dựng một bức tượng thạch cao đúng với tỉ lệ con người có kích thước bình thường, cỡ 1 mét 68. Gia độ chừng vậy vì ngay cả thước tấc 1 m 70 của bản thân được in sau tấm căn cước bọc nhựa chứng thực công dân Gia Nã Đại cũng không hẳn là chính xác. Một tài liệu nào đó xác chứng, càng về già cơ thể con người sẽ chịu co cụm, lùn xuống, thấp đi. Thời gian vô tình, rồi nó âm thầm quất roi vào Gia một dấu huyền. Gia huyền già. Nhưng nói vậy thôi, Gia tự lượng sức mình vẫn còn lưu luyến, dùng dằng với hai chữ thanh niên.
(more…)

Hồ Đình Nghiêm

Như thường lệ, Huỳnh Thị Giáng Thu về nhà lúc bảy giờ. Hai mùa mưa nắng sẽ làm thay đổi độ sáng tối nhưng đang hè, từ ngoài lộ xuống con đường đất đâm thẳng tới cổng nhà, mặt trời tuồng như vẫn còn gửi lại ánh dương quang. Nắng tuy yếu nhưng độ nóng chưa giảm sút, ẩm thấp, hầm hập. Lưng áo ướt đẫm mồ hôi, dán vào da Thu sít sao. Nực nội.

Dù gì thì đường đất tuy gồ ghề mấp mô chút đỉnh nhưng nó ít thu giữ nhiệt lượng so với đường nhựa dài hơn mười cây số mà Thu vừa đạp xe băng qua, chưa kể hàng cây khuynh diệp mọc cách khoảng với cây vú sữa đứng bên đàng đang xôn xao gửi trao cho Thu chút giò vờn quanh thân. Thu thấy dễ chịu. Bao giờ cũng vậy, càng gần tới nhà nỗi nhọc mệt cứ từ tốn rời khỏi người Thu. Thu nghĩ tới cái lu sành đựng nước đặt bên chái bếp, nước chứa đựng trong đó sao nó mát ngọt cách gì đâu. Thò lon vô múc, dội từ tốn xuống đầu, mình và tứ chi, nghe khoái cảm đâm gai trên da thịt. Lại thần hồn. Nhưng mà nói vậy chứ giờ này hẳn còn thanh thiên bạch nhật, đợi trăng lu Thu mới thầm lặng ra ngồi bên cái lu, có vậy mới tìm đúng sự thư giãn, khỏi trông trước ngó sau như đứa tội phạm có mưu đồ bất chính, tắm hối tắm hả.
(more…)

Mợ Hai

Posted: 19/07/2019 in Trần Bạch Thu, Truyện Ngắn

Trần Bạch Thu

Năm 17 tuổi mợ Hai Huê về làm dâu nhà Cả Tam, ai cũng trầm trồ là nhà có phước mới gả được con về làm dâu trong một gia đình giàu có tiếng tăm. Chỉ nghe tên thôi là biết. Hộ tịch làng tự động đổi tên, thay vì Hoa thành Huê để tránh húy kỵ. Người đẹp mà giỏi dang nữa mới quí. Vốn con nhà nghèo sớm làm lụng kiếm sống. Trời cho có chút nhan sắc lại siêng năng cần mẫn nên được cả xóm bến đò Chợ Gạo tấm tắc khen thầm.

Cha mất sớm, là con gái lớn nên vất vả lao đao từ thuở nhỏ. Theo gia đình làm thuê trên ghe thương hồ đi khắp miền Lục tỉnh. Cho đến khi trôi dạt về tới Chợ Gạo mấy mẹ con mới ổn định cất nhà trụ lại ở bến đò. Đất lành chim đậu. Chỉ mỗi việc gặt lúa mướn, làm cỏ thuê quanh vùng cũng đủ để có cái ăn. Ngày thường làm mướn, lột dừa thuê cũng sống được. Dân tình dễ chịu không kén người làm thuê nên công ăn việc làm lúc nào cũng có.
(more…)

Ý Ngôn

Lúc mẹ tôi mất cách đây hai năm, anh em tôi có đến chùa xin làm lễ “cúng thất” cho bà. Tổng cộng bảy cái thất, làm lễ cúng vào ngày chúa nhật hàng tuần. Tại đây tôi quen biết chị Lành.

Ngày cuối tuần hay ngày rằm hoặc ngày mồng một đầu tháng (âm lịch), chị Lành đều đến chùa làm công quả. Chị đứng phụ bếp hoặc làm công việc lặt vặt trong bếp, nấu đồ chay để đãi khách viếng chùa. Thỉnh thoảng chồng chị và thằng con trai của chị cũng đến phụ dọn dẹp, bưng bàn ghế, rửa chén hoặc hốt rác đổ rác, trong chùa thì rất nhiều việc làm hoài không hết.

Hỏi ra mới biết trước đây chị ở cùng quê với tôi, nhà chị ở gần “cầu Đốt” gần trường trung học, còn nhà tôi thì ở xóm “cầu Đình”, cũng gần gần đó.
(more…)