Archive for the ‘Tùy Bút / Tản Mạn / Tạp Ghi’ Category

Mặc Phương Tử

Dòng thời gian cứ cuồn cuộn hay lặng lẽ mãi miết trôi, và mọi cảm nhận tiếp thụ của con người vẫn cứ lan chảy bất tận theo dòng đời rẽ về muôn hướng, tưởng nghĩ không phút giây dừng nghỉ, và nếu có chăng thì chỉ trong một thoáng xa xôi mơ hồ đâu đó, rồi cũng lao vào vòng xoay của bao ý niệm trong cuộc sống đầy vật vã, bon chen, toan tính, sầu muộn… như bánh xe càng đi tới là càng quay tròn trở lại.

Mùa xuân thoáng đến, rồi như vội vã qua đi “Thiều quang chín chục…”, thời tiết tháng 5 đang hắt hiu, nghe ấm dần lên bởi khí trời man man ngọn gió trưa hè ngang qua thềm mây trắng. Trông cái cảnh con người vẫn tất bật lao vào cuộc sống như bao ngày tháng hôm nào, vẫn xôn xao nhập cuộc vào giữa hai chiều ngược xuôi, lên xuống, thất bại, thành công, vui buồn… như để tìm kiếm, đong đo, trang trải những điều gì trong chốn cuộc phù sinh.
(more…)

Nguyễn thị Khánh Minh
Tặng Nguyễn Lương Vỵ cùng sinh nhật tháng 5.


Nhà thơ Nguyễn Lương Vỵ

Đang thong thả dong ruổi những ngày góc phố cà phê, đang yên tâm những lần đi bác sĩ, lúc nào tôi cũng có người bạn thân tình Nguyễn Lương Vỵ (NLV) đón đưa, chia sẻ, đùng một cái, anh nằm viện, mổ tim. Đã hơn một năm từ ngày trái tim thơ ấy bị nghẽn mạch, giờ NLV vẫn đang ngày ngày trông nắng đến nắng đi nơi phòng bệnh. Từ khung cửa sổ ấy tôi thấy hoa tím vàng rơi đầy vào một ngày mùa thu đến thăm anh. Nhìn và hình dung những giây phút sớm khuya đâu đó của anh:

…sương rơi nương bóng thềm rêu nhạt
lá rụng nghiêng vai giọt nắng tràn…

… ngồi im nghe nắng khuya đang vỡ…

một vạt nắng chiều giăng tiếc nhớ
hai hàng mưa bụi đẫm thương mong…
(more…)

Tưởng Năng Tiến

Cái bung đồng, năm Cải cách, đội lấy của các nhà giàu trong làng chia cho, nó không phải của nhà mình, các con nên tìm chủ mà trả lại. (Cụ Đậu Thị Mực)

Tôi vừa tình cờ đọc được một bài báo cũ (“Hành trình 60 năm của một chiếc bung hay câu chuyện hòa giải giữa địa chủ và bần cố nông”) nhưng nội dung vẫn còn nguyên tính thời sự, củ̉a nhà báo Huy Đức, trên trang Dân Luận. Xin được ghi lại nguyên văn, cùng hình ảnh:

Cách đây hơn 4 tháng, trên Facebook này, tôi viết: Trong đám giỗ lần thứ 51 của chồng – ngày 28-11 năm Giáp Ngọ (18-1-2015) – cụ bà Đậu Thị Mực, sinh năm 1916 – thường gọi là bà Dương – dặn con cháu: “Trong hai vật dụng mẹ đưa từ Thanh Chương, Nghệ An, vào Bình Dương lập nghiệp năm 1990 chỉ có một là của nhà ta, cái bình vôi. Khi mẹ về làm dâu (cuối thập niên 1930s), bà nội đã dùng cái bình vôi (ăn trầu) này; còn cái bung đồng, năm Cải cách, đội lấy của các nhà giàu trong làng chia cho, nó không phải của nhà mình, các con nên tìm chủ mà trả lại”.
(more…)

Mỹ Trí Tử

Có những kỷ niệm thấm sâu vào tâm trí bắt nguồn từ những món ăn dân dã, đậm chất quê nhà. Ở đó có bàn tay chăm lo của mẹ qua từng cách chế biến tạo thêm sự phong phú trong mỗi món tưởng chừng như đơn giản ấy tượng trưng cho tình yêu mà mẹ dành cho các con.

Nghe mẹ kể lại rằng lúc xưa quê miền Trung nghèo khổ của mẹ, vùng đất với những hạt cát khô cằn cộng những sỏi đá nhấp nhô hay những cánh đồng trải dài được bao bọc bởi núi đồi và uốn quanh là dòng sông hiền hoà, đậm chất mộc mạc của miền Trung nắng gió. Miền Trung đất cày lên sỏi đá, mùa hạn nắng chói chang và mùa mưa thì ngập úng, lũ quét và mất mùa. Với khí hậu khắc nghiệt như thế, khi thì cơn nóng cháy da, lúc thì gió cuồng mưa lũ, nhưng cây chuối vẫn kiên gan, chống chỏi quyết liệt, nhiều khi đến trụi hết lá.
(more…)

Tô Đăng Khoa


Nhà thơ Nguyễn Lương Vỵ
(ảnh: Uyên Nguyên)

Năm 1973 tập san Văn Chương của Joseph Huỳnh Văn đăng bài thơ Âm Nhạc của Nguyễn Lương Vỵ viết năm 1970 (lúc ông mới 18 tuổi). Bài thơ gây tiếng vang lớn vào thời đó và như là một tiên tri cho sự hòa nhập có một không hai giửa Nguyễn Lương Vỵ và Âm: “Âm nhập cốt”

ÂM NHẠC

Ghi trên nền nhạc giao hưởng số 5 của Ludwig Van Beethoven

Âm nhập cốt
Âm binh phiêu hốt tiếng tru
Ta tru một kiếp cho mù mắt
Mù lệ đề thơ để nhớ đời
À ơi! Rượu đỏ hoàng hôn tắt
Ta dắt hồn ta túy lúy chơi!

Âm nhập cốt
Âm vàng mấy gót hồ ly
Vạn kỷ cung thương còn réo rắt
Còn ru ta mãi quãng đời xanh
À ơi! Ai hát ngoài phuơng Bắc
Chờ nhau tinh đẩu sáng long lanh
(more…)

Lê Quang Thông

Đường bộ thì sợ Hải Vân.
Đường thủy thì sợ sóng thần Hang Dơi

(Ca dao)

Sáng 01 tháng Tư 1975, tôi quyết định ra Huế bằng chiếc Yamaha vẫn dùng từ lâu. Đà Nẵng xem như đã yên được ba ngày nay. Hỗn loạn chấm dứt từ trưa 29.3, sau khi vài chiếc T54 chạy dọc bờ sông Hàn từ trên Viện Cổ Chàm xuống rồi vòng vào phố.

Xe nào cũng cắm đầy cờ Mặt trận GPMN và cờ Phật giáo. Trên xe ngoài ba bốn người mặc quân phục, đội mũ cối hay mũ tai bèo, còn lại là thanh niên áo quần lộn xộn, có giải khăn đỏ trên bắp tay. Có xe còn thấy một hai vị sư đắp y vàng, ngồi dựa vào pháo tháp của xe và vẫy tay chào đám đông tụ tập ven đường.
(more…)

Thiếu Khanh

Nói đến vị Hùng Vương thứ 19 tức là mặc nhiên chấp nhận có 18 vị Hùng Vương trước đó.

Đây là nói về mặt logic chớ hầu như tất cả sử sách của ta đều dành chỗ trang trọng cho các vị hiền nhân minh triết này trong thời kỳ sơ khai khuyết sử của dân tộc. Trong Việt Nam Sử Lược (VNSL), học giả Trần Trọng Kim tỏ ý nghi ngờ tính xác thực của thời đại Hùng Vương trải dài trong 2622 năm với 18 đời “Vua,” bắt đầu từ năm 2879 trước Công nguyên (CN), tức cách đây (năm 2019) 4898 năm, và kết thúc sau khi Thục Phán đánh chiếm nước Văn Lang của Hùng Vương thứ 18 để sáp nhập với nước Tây Âu hay nước Âu Việt lập ra nước Âu Lạc vào năm 258 trước CN.

Có người, không biết dựa vào đâu, đã kể vanh vách tên của 18 vị “Vua” Hùng, như thể ngay từ thời khởi thủy xa xăm đó người Việt đã có tổ chức quốc gia chặt chẽ và đã có sách vở để ghi chép tên mỗi vị “Vua.”

Thật ra, Vương không phải là vua. Hùng Vương không phải là “Vua” Hùng.
(more…)

Hồ Đình Nghiêm

Đừng bỏ anh ở chùa. Vụ này, thoạt nghe qua là “ngộ” ngay, buộc phải rùng mình. Hàm nghĩa chữ bỏ cũng ác liệt. Bỏ bê, bỏ xó, bỏ hoang, đồ bỏ… Ngoài ra bỏ cũng tương tự với động từ đặt để, thu cất. Một đàng phụ phàng bỏ rơi, một đàng vị tình cắt đặt vào nơi am trú… Tuy vậy “Đừng Bỏ Anh Ở Chùa”, nghĩ cho tận, thì quá đỗi thương đau, một dấu chấm sau cùng, kết thúc một cảnh đời nhân thế. Khác biệt và trái ngược với một khởi đầu, cũng lắm oan trái, vạn bất đắc dĩ:

Con ai đem bỏ chùa nầy?
A di đà Phật con thầy thầy nuôi
”.

Hòng làm nhẹ tội, xin thú nhận ngay “Đừng Bỏ Anh Ở Chùa” là nhan một bài thơ của thi nhơn Hoàng Lộc mà tôi mạn phép chôm, không bỏ, tái sử dụng. Bài thơ ngắn, mang đủ cái chất riêng đầy ấn tượng của Hoàng Lộc. Hay đến nỗi dẫn tới cớ sự này đây. Thơ năm chữ, khởi đi với:

lỡ có một ngày kia
em nhận bình tro cốt

(more…)

Tưởng Năng Tiến

Trong nước CS mà đón tù chính trị về vui vẻ như thế này thì thời gian tồn tại của chế độ có thể kéo dài bao lâu? (Pham Nguyen Truong)

Thỉnh thoảng, khi trong túi có chút đỉnh tiền rủng rỉnh, tôi hay mời mấy đồng bào từ Tây Nguyên (đang tị nạn ở Thái Lan) dùng một bữa cơm thân mật. Bangkok chật và đông (rất đông và rất chật đối với những kẻ chỉ đủ tiền thuê nhà trong những khu ổ chuột) nên – đôi lúc – có dịp ngồi ngắm trời rộng/sông dài, từ một quán ăn nổi, trên dòng sông Chao Phraya, là điều mà tất cả chúng tôi đều lấy làm thích thú.

Khách thường đông vì tháng nào cũng có người mới đến (hoạ hoằn cũng có kẻ được đi định cư ở một nước thứ ba) nên chúng tôi hay mở đầu cuộc họp mặt bằng cách lần lượt tự giới thiệu tên tuổi/quê quán của từng người. Đến phiên mình, tôi thường đùa : “Tôi tên Tiến, dân làng Tà Ru.”
(more…)

Lê Hữu
Để tưởng nhớ chị Dung (1940-2019)

Tôi vẫn thích sưu tầm ảnh đẹp. Được nhìn ngắm một bức ảnh đẹp, thấy lòng mình như lắng xuống, thấy tâm hồn như dịu lại và cuộc sống như cũng dễ chịu hơn. Không chỉ thích ảnh đẹp tôi còn thích đặt tên cho ảnh. Nhiều ảnh không cần phải đặt tên, thế nhưng có đôi lúc gặp bức ảnh gợi nhiều cảm xúc tôi vẫn muốn tìm cho ảnh một cái tên.

Tấm ảnh tôi xem được ở nhà chị Dung là một ảnh như thế. Tấm ảnh khá quen thuộc với những người thân của chị. Tôi gọi tên ảnh là “Hình ảnh một buổi chiều”.

Tôi nhớ, trong chuyến đi Nam Cali ngắn ngày nhiều năm trước, chị Dung nhắn vợ chồng tôi ghé nhà chơi. Trước đó tôi được chị gửi tặng tập sách quý với chữ ký chỉ phác vài nét tên chị, cũng dung dị như tính cách của chị. Trong sách có cái “note” chị nói phải gửi qua bưu điện vì chờ mãi chẳng thấy xuống để đưa tận tay. Tập sách đầy đặn, là “Tuyển tập Lê Đình Điểu”.
(more…)

Lưu Na


Nhà thơ Nguyễn Đình Toàn
dinhcuong

Văn, thơ, và nhạc có một quan hệ mật thiết. Dễ thấy nhất là chúng đều phải cần đến chữ. Cũng rất thường, ta nghe, rằng văn của người này có thơ, hoặc bài nhạc nọ có lời như thơ. Như vậy, thơ dường như bổ sung cho văn và nhạc để làm nên nghệ thuật. Nhưng những câu thơ nếu đọc như văn nó sẽ là những câu văn hoặc cụt ngủn hoặc dài vô nghĩa, và một bài thơ khi được phổ thành một bài nhạc hay thì nó chẳng còn được nhắc đến trong tự dạng ban đầu – nhạc có thể nâng một bài thơ dở và xóa một bài thơ hay. Xem ra, thơ thiệt thòi nhiều bề: có khi, vừa nên hình dạng đã bị bỏ quên, bị nhạc phanh thây (!), có khi, xuất hiện rồi không tìm được tri âm. Tệ nhất, là khi thơ bị chính thi sĩ phụ phàng.
(more…)

T.Vấn


Kiếp Khác – Tranh: Thanh Châu

Buồn như ly rượu cạn,
Không còn rượu cho say.
Buồn như ly rượu đầy,
Không còn một người bạn.

(Buồn – Tạ Ký)

1.
Tháng 2, tháng ngắn nhất trong năm, đã qua đi. Rồi tháng 3 cũng qua đi. Nhưng mùa đông vẫn còn ở lại. Những ngày lạnh cao điểm vẫn còn chờ phía trước. Một buổi chiều, ngồi cô đơn trong quán cà phê Starbucks vắng người, nhìn ra bên ngòai những cụm tuyết trắng xóa bay lả tả, tôi chợt cảm thấy buồn … muốn khóc. Kể cũng lạ, đã mấy chục năm nay, bận rộn với bao vất vả lo toan của cuộc sống, tôi ít khi mang cảm giác buồn, cái cảm giác của những ngày trai trẻ, ngồi trong quán cà phê – khi vỉa hè, khi sang trọng lịch lãm – nhìn những mảng nắng xiên qua ô cửa kính, hay những giọt mưa từ cơn mưa vội vã làm ướt cả người từ đầu đến chân, nghĩ đến hiện tại vô vọng không lối thóat, nghĩ đến tương lai chết ngộp trong cuộc chiến khốc liệt, nghĩ đến những mối tình không có ngày mai, tôi đã biết buồn. Nỗi buồn của thế kỷ. Nỗi buồn của thế hệ. Buồn đến độ chỉ … muốn chết.
(more…)

Tưởng Năng Tiến

Đưa người cửa trước rước người cửa sau. (Kiều)


Phạm Tuân

Tôi không rõ năm sinh hay ngày qua đời của thi sĩ Bùi Giáng nhưng vẫn nhớ hoài hai câu thơ (ngơ ngác) mà ông viết từ cuối thế kỷ trước, sau khi tầu vũ trụ Soyuz 37 được phóng lên không gian, vào hôm 23 tháng 7 năm 1980:

Hoan hô đồng chí Phạm Tuân
Khi không anh bỗng nhẩy tưng lên trời!

Sao mà (khi khổng) khi không được, cha nội? Ðây là một cú “nhẩy” lịch sử, được chuẩn bị rất kỹ càng và chu đáo, chớ bộ – theo như lời của chính phi hành gia Phạm Tuân:

“Khi đi tôi mang theo Tuyên ngôn Độc lập, bản Di chúc của Bác Hồ, một nắm đất Ba Đình, một lá cờ Tổ quốc, hai Huy hiệu của Bác Hồ và ảnh của Bác. Tất cả những ảnh, cờ và sách đều được đóng dấu trong vũ trụ. Nắm đất Ba Đình, lá cờ Tổ quốc, Tuyên ngôn Độc lập, Di chúc của Bác và ảnh của đồng chí Tổng bí thư Lê Duẩn đều thể hiện chủ quyền độc lập dân tộc Việt Nam đưa lên vũ trụ, đóng dấu ở trên vũ trụ cũng là khẳng định người Việt Nam sánh vai cùng với quốc tế và đã có mặt trên vũ trụ.”
(more…)

Trịnh Y Thư


Nhạc sĩ/Nhà soạn nhạc Vân-Ánh Vanessa Võ

1.
Hãy tưởng tượng một buổi tối trong một khán trường trang trọng vào bậc nhất của thành phố, bạn và gần nghìn khán thính giả khác nín thở trong im lặng tuyệt đối theo dõi những vũ điệu tuyệt luân của những vũ công thuần thục, biểu diễn những chuyển động khi vũ bão khi dịu dàng, khi tiết chế khi man dại, như bay trong chân không, như thể trọng lực của quả đất chẳng hề có sức hút nào đáng kể đối với họ, và cảm xúc trong tim bạn dâng trào đến độ ngẩn ngơ lúc bạn nhận ra những chuyển động của những vũ công ballet dày công luyện tập ấy ăn nhịp sát sao với những nốt nhạc một bài ca trù thơ Hồ Xuân Hương! Và rất nhiều âm thanh, giai điệu khác, với phong cách sáng tạo hiện đại, vang lên từ các nhạc cụ cổ truyền Việt Nam, đàn tranh, đàn bầu… Một buổi diễn có một không hai, tôi dám khẳng định như thế. Sự ngạc nhiên lúc ban đầu mau chóng nhường chỗ cho niềm thú vị hiếm thấy trong một chương trình ca vũ, bởi đó là sự phối ngẫu tuyệt hảo giữa nghệ thuật múa và nghệ thuật âm thanh.
(more…)

Đỗ Bình

Tử Sĩ

Từ độ quê nghèo yên khói lửa
Mẹ ngồi khắc khoải đếm xương khô.
Núi sông phảng phất mùi thây rữa,
Vất vưởng hồn oan chẳng nấm mồ!

Đỗ Bình

Mưa Paris chiều nay làm tôi gợi nhớ về những chiều mưa trên quê hương, những cơn mưa chợt nắng Sài Gòn, những ngày mưa lê thê Phố Huế, mưa lạnh trên Cao Nguyên và cơn mưa phùn Hà Nội của thuở xa xưa lúc còn bé. Đang thả hồn bay bổng trong những kỷ niệm đẹp, hồn tôi bỗng se lại vì chợt nhớ cơn mưa chiều năm ấy. Những hình ảnh cũ hiện ra như một khúc phim của một quãng đời, tưởng đã nhạt phai theo thời gian, nhưng nó vẫn ẩn trong tiềm thức.

Chiều năm ấy, màu hoàng hôn đầy mây xám, trời đổ những cơn mưa tầm tã làm giăng mờ con đường rừng dẫn đến trại tù. Mưa trút nước trắng, xóa lớp hàng kẽm gai rào quanh trại, như muốn xóa bỏ những móc nhọn đang vây hãm những người bị mất tự do. Trời nhá nhem tối, tiếng mưa lẫn tiếng gió hú tạo thành một âm thanh rờn rợn tê tái, khiến cảnh sắc trại tù thêm thê lương!
(more…)

Phan Việt Thuỷ


Tượng Lý Thường Kiệt

Lịch sử dân tộc Việt Nam đã chứng minh: ngôn ngữ Việt Nam đã chuyển tải không ngừng dòng sinh mệnh văn hoá dân tộc, đã trở thành cơm nuôi dưỡng dân tộc tính Việt Nam, đã trở thành máu nuôi dưỡng nhịp đập của mọi trái tim người dân Việt trong những vui buồn, hào khí tình tự dân tộc. Những nổi khổ cực đắng cay “máu chảy ruột mềm” mà dân tộc Việt Nam đã phải chung vai đấu cật, cũng đã nhờ những mệnh lệnh ngôn ngữ:

“Nhiễu điều phủ lấy giá gương
Người trong một nước phải thương nhau cùng”

Nhìn lại lịch sử Việt Nam, chúng ta thấy dân tộc Việt Nam bao giờ cũng tìm cách đứng dậy, vươn mình đi tới, xong pha vào hiểm nguy để bảo vệ từng tấc đất, quê cha đất tổ, bảo vệ sự sống còn của dân tộc cũng đã nhờ những mệnh lệnh ngôn ngữ. Một minh chứng là bài “Nam quốc sơn hà”:

Nam quốc son hà Nam đế cư
Tiệt nhiên phân định tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẵng hành khan thủ bại hư

(more…)

Tưởng Năng Tiến

Hitler believed that the Third Reich would endure a thousand years. It lasted a dozen. Hitler tin rằng Đệ Tam Quốc Xã sẽ kéo dài cả ngàn năm. Nó tồn tại được hơn chục năm. (Sir Alan Bullock)

Thỉnh thoảng, cũng có vài ba thân hữu muốn biết (xem) tôi quê quán nơi nao? Thực là một câu hỏi khó. Tôi sinh ở Sài Gòn, lớn lên ở Đà Lạt, và sống phần lớn thời gian ở California. Cả ba đều là nơi tập hợp của dân tứ xứ, khó có thể xem là quê hương – bản quán – của bất cứ ai. Tôi cũng chả biết hỏi ai về “gốc gác” của mình vì song thân đã quá vãng từ lâu; anh chị em thì kẻ mất người còn nhưng đều tứ tán và phiêu bạt cả.

Tôi chỉ đoán chừng rằng tổ tiên, ông bà, cha mẹ mình đều gốc gác là những nông dân từ một làng quê khốn khó nghèo nàn nào đó (kề cạnh sông Hồng) nên cái chất nông phu vẫn còn nguyên vẹn trong máu huyết. Sau khi đã đi nhiều nơi, và có nhiều dịp được nếm thử đủ loại thực phẩm của những những dân tộc khác, tôi vẫn “chốt” lại rằng: ngoài mì quảng, cá rô kho tộ, cá chẻm nấu canh chua, đậu rán tẩm mỡ hành, rau muống luộc – chấm với nước mắm ớt chanh – và cơm gạo tẻ ra … thì chúng ta không nên đụng đũa đến bất cứ thứ thức ăn (tào lao) nào nữa!
(more…)

Mỹ Trí Tử

Nhằm xích hóa toàn cõi Việt Nam, CSVN đã tiến hành cuộc chiến tranh “giải phóng miền Nam” bằng mọi giá dưới sự hậu thuẫn và hỗ trợ của Liên xô, Trung Quốc… Đây là một cuộc chiến tranh kéo dài nhất mang đến đau thương mất mát nhất trong lịch sử dân tộc. Cuộc chiến đã gây ra cái chết cho khoảng gần 4 triệu người kể cả binh sĩ và dân thường. Trong đó Việt cộng tổn thất 849.018 binh sĩ bị chết và gần 600.000 binh sĩ bị thương. Phía Việt Nam Cộng Hòa với 220.357 binh sĩ tử trận tính cả mất tích nữa là gần 310.000 và gần 1.170.000 người bị thương. Hàng ngàn ngôi nhà, nhà máy bị san phẳng, hàng chục thành phố bị phá hủy. Không biết bao nhiêu người vợ mất chồng, con mất cha, mẹ mất con. Đau thương tổn thất không kể xiết…

Nhưng sự khổ nạn của người dân không dừng lại sau khi chiến tranh chấm dứt. Khởi đi từ tháng Tư 1975, Việt Cộng đã đưa cả đất nước và dân tộc vào một thời kỳ bi thảm và đen tối nhất trong lịch sử cận đại Việt Nam.
(more…)

Đỗ Trường


Nhà văn Cao Xuân Huy (1947-2000)

Sau 1975, Văn học cũng như con người buộc phải trốn chạy, tìm đường vượt biển. Tưởng chừng, nơi miền đất lạ, dòng văn học tị nạn ấy sẽ chững lại. Nhưng không, nó như những nhánh sông âm thầm vặn mình bồi lên mảnh đất khô cằn đó. Chiến tranh, người lính vẫn là đề tài nóng bỏng để các nhà văn tìm tòi, khai thác. Vào thời điểm ấy, những nhà văn quân đội Phan Nhật Nam, Trần Hoài Thư, Thế Uyên… đang ở độ chín và sung sức. Và sau đó, xuất hiện hàng loạt nhà văn xuất thân từ những người lính chiến đã trải qua những năm tháng tù đày, như: Phạm Tín An Ninh, Song Vũ hay Cao Xuân Huy… Tuy văn phong, thi pháp riêng biệt, nhưng tựu trung, mỗi trang viết của họ đều để lại những ấn tượng thật sâu sắc trong lòng người đọc. Nếu văn của Phạm Tín An Ninh đẹp, sáng và nhẹ nhàng, thì từ ngữ trên những trang viết của Cao Xuân Huy nặng tính khẩu ngữ trần trụi, mãnh liệt. Có một điều rất thú vị, đọc Cao Xuân Huy, tôi lại nhớ đến nhà thơ người lính Nguyễn Bắc Sơn. Bởi, tính đặc trưng ngôn ngữ làm nên hình tượng, chất lính rất đặc biệt trong thơ văn của hai ông văn sĩ này.
(more…)

Tưởng Năng Tiến

Ngày ngắn đêm dài đêm lại sáng
Đêm qua ai có bạc đầu không?

(Tản Đà)

Bây giờ là cuối tháng Tư. Có những ngày tháng, thời gian chuẩn điểm gây ám ảnh, ray rứt thù hận suốt một kiếp người. Một tháng tư ở Việt Nam – thường – là một ngày mưa. Một buổi chiều mưa. Mưa đầu mùa. Một buổi chiều mưa đầu mùa, trời chuyển âm u thấp xám. Thời gian và không gian như ngưng đọng lại trong giây phút chuyển mùa. Rồi sấm chớp và kế tiếp là những giọt mưa nặng hạt, ào ạt, xối xả, phủ kín vạn vật.

Mưa gội sạch cây lá, tưới mát những bãi cỏ úa vàng, thấm ướt đất khô cằn cỗi. Nước mưa, nguồn sinh lực kỳ diệu đã làm vạn vật hồi sinh sau những ngày nắng cháy .
(more…)

Tưởng Năng Tiến

Tôi sinh năm 1971, năm nay bước vào tuổi 44. Tuy chỉ mới độ tuổi này nhưng tôi đã từng nghe bố tôi kể lại và cũng đã phải trực tiếp chứng kiến cảnh gia đình tôi suốt 4 đời là nạn nhân của chủ nghĩa Cộng Sản. (M.S Nguyễn Trung Tôn)

Bút Ký Những Chuyến Ra Đi của ông Lữ Phương (nguyên) Thứ Trưởng Thông Tin Văn Hoá, Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hoà Miền Nam, có nhiều trang rất thú vị. Đọc lai rai vài đoạn cho vui, nếu rảnh:

Vào mùa khô năm ấy, tôi xin cơ quan cho tôi đến vùng biên giới Bố Bà Tây, liên hệ với gia đình. Lần này ngoài vợ và đứa con gái lớn, còn có em gái tôi cùng với hai đứa con gái nhỏ của nó đi theo, lúc nhúc một đoàn, không tưởng tượng nổi!

Nhờ chuyến thăm này tôi mới rõ được chuyện nhà từ lúc tôi ra đi. Vợ tôi ngoài việc đi dạy học còn tìm được việc làm ở một tòa án tỉnh nữa. Những người quen biết đều biết vợ tôi có chồng là VC, bị cảnh sát Sài Gòn o ép, dụ dỗ nhiều cách, nhưng đều hết lòng giúp đỡ, che chở (ngay cả những viên chức cao cấp trong chính quyền Sài Gòn): chẳng phải vì lý do gì khác hơn là ở đây người ta chưa có thói quen “chính trị hoá” mọi quan hệ xã hội.
(more…)

Phạm Nga

1.
Nhớ mấy ngày đầu sau 30/4, có một ông “nón cối” thường xuất hiện ở nhà tôi. Tội nghiệp ba mẹ tôi đã tốn nhiều quà cáp, trọng vọng quá sức người bà con mới nhận lại này, chỉ mong dựa hơi cán bộ để kiếm việc làm cho con cái. Do đó, không ai được phép nhắc tới cái thời ông này đi tập kết năm 54, làm việc mấy năm trên lưng mấy con bò ở nông trường Sơn La hay Mộc Châu gì đó rồi được đề bạt đi học, rồi cũng thành y sĩ ngành răng-hàm-mặt, tức rành rành thuộc giới trí thức miền Bắc. Nghe nói thằng cháu dạy học ở chế độ cũ đang thất nghiệp ở chế độ mới, ông bảo gọi tôi tới. Chăm chú ngắm tôi vài giây – chắc ông xem tôi có “trí thức miền Nam” chút nào không – rồi ông lấy ngón trõ vỗ vỗ vào màng tang mà phán rằng: “Cháu học Văn khoa? Chà, trí thức tiểu tư sản, lại học triết nữa thì tư tưởng khó chuyển biến đấy! Phải phấn đấu nhiều lắm mới được. Phải chi cháu tốt nghiệp kỹ sư kinh tế chẳng hạn thì bác có thể giới thiệu cháu tham gia công tác ngay ở…“.
(more…)

T.Vấn

Từ đau đớn và truân chuyên, tôi gởi đến cho mọi người hạnh phúc vững bền của chữ nghĩa. (Hoàng Ngọc Tuấn)

1.
Năm 20 tuổi, tôi già nua theo năm tháng với nỗi ám ảnh của thứ triết lý thời thượng về một đời sống buồn bã. Mỗi ngày qua đi, tôi ngao ngán nhìn cuộc chiến khốc liệt trước mặt như con quái vật đang nhe răng gầm gừ sẵn sàng nuốt chửng lấy mình. Nỗi sợ hãi khiến tôi thu mình lại trong vỏ bọc một đời sống lơ lửng trên mây. Dầu vậy, tôi vẫn khao khát tình yêu (trong mơ) qua những trang văn Hoàng Ngọc Tuấn…

Năm 40 tuổi, tôi mới bắt đầu nhận ra rằng đời sống là có thật sau bao bất trắc của chiến tranh, của tù đầy. Quái vật chiến tranh đã biến mất, nhưng để tồn tại trong một xã hội hòa bình mà đằng đằng sát khí ấy thật không dễ dàng gì. Cái buồn bã lúc này là sự buồn bã có thật, đến từ một đời sống có thật, chứ không phải từ những trang triết lý thời thượng ngày nào. Dẫu sao, tôi đã là kẻ sống sót, sau một cuộc chiến, sau một cuộc đổi đời. Và hơn lúc nào hết, tôi khao khát một tình yêu (có thực, chứ không phải hình như) để bắt đầu lại đời mình.
(more…)

Nguyễn Mạnh Trinh


THi sĩ Vũ Hoàng Chương (1916-1976)

Có một bài thơ của một kẻ sĩ Việt Nam viết trong cơn loạn cuồng của thời thế lịch sử. Và cũng có một bài thơ của một thi sĩ viết từ tâm cảm thâm trầm của một thời tao loạn để như tiên tri cho một thời đại rất đen tối của dân tộc. Bài thơ viết vào mùa xuân Bính Thìn năm 1976, sau biến cố tháng tư năm 1975 với sự sụp đổ của chính quyền VNCH. Bài thơ viết theo thể Đường Luật chỉ có thất ngôn bát cú nhưng chuyên chở được cả một thế thời đầy chật nỗi niềm của một buổi đời tranh tối tranh sáng mà đen thẳm như đe dọa ở tương lai. Thơ đầy những ẩn dụ, có thể xuất phát từ ngôn ngữ bình dân hàng ngày nhưng lại ẩn chứa những ngụ ý châm biếm của một liên tưởng đến những kẻ chiến thắng. Bài thơ được truyền tụng và trong hoàn cảnh của một xã hội đang xuống dốc và tan vỡ, đã có nhiều âm vang trong dư luận những người dân miền Nam đang thảng thốt vì đường lối độc tài đảng trị đang siết chặt đời sống mà nghèo đói và bạo ngược là hậu qủa dẫn đến đầu tiên.
(more…)

Tưởng Năng Tiến

Sự thật ngày nay đã chứng minh rõ ràng công cuộc giải phóng thuộc địa có mục đích rất cao cả nhưng kết cục của nó nói chung thường ngược lại. (Phạm Hồng Sơn)

Đến khi tôi đủ tuổi để dự thí tú tài thì Bộ Giáo Dục đã quyết định bỏ thi vấn đáp. Thiệt khoẻ. Cứ theo như lời của qúi vị đàn anh lớp trước thì phải trải qua oral – kỳ hạch miệng – mới thiệt sự biết đá biết vàng, chớ “hai cái bằng tú tài của thời chú mày thì kể như là đồ bỏ.”

Nghe cũng hơi tưng tức.

Coi: năm tôi đậu tú tài I, tỉ lệ trúng tuyển toàn miền Nam (VN) cho ban C chỉ có 8 phần trăm. Một trăm đứa đi thi thì rớt hết 92, vậy mà cái bằng của tui bị “coi như đồ bỏ” là sao – hả Trời?
(more…)

T.Vấn


Nhạc sĩ Nguyễn Đình Tòan (Ảnh: Lưu Na)

Để giới thiệu một người đã thành danh như Nguyễn Đình Tòan, quả là một việc làm thừa thãi. Và khó. Dù vậy, cảm giác mình mang món nợ gần hết một đời người với ông, cứ làm tôi vào suy, ra nghĩ, lấn cấn không yên. Cho đến khi nhận được mấy CD nhạc ông gởi “nghe chơi” qua người bạn trẻ Lưu Na, và lời “tiết lộ” rằng ông phải mầy mò tìm chỗ này một bài, chỗ kia một bài mới tạm gom lại được những đứa con âm nhạc của mình, tôi chợt nghĩ ra cách để… trả ơn ông, món nợ càng mang càng nặng, vì lãi đẻ ra lời, lời đẻ ra lãi.

Gần 50 năm, kể từ ngày tôi đọc những dòng chữ đầu tiên của tiểu thuyết “Con Đường” (Sài Gòn 1972- Giao Điểm xuất bản), làm quen với thế giới văn chương Nguyễn Đình Tòan, và từ đó, không nỡ buông ra, không thể buông ra, tôi đã nghiện cái không khí ẩm ướt của những trang chuyện, với những nhân vật không thật mà như có thật, không tên mà như có tên, mỗi người đều mang nỗi buồn riêng, như nỗi buồn của chính tôi. Từ ngày ấy, tôi biết thế nào là văn chương, qua chữ nghĩa Nguyễn Đình Tòan. Trên trang viết TV&BH, tôi đã hơn một lần nhận ông là người thầy chưa một lần gặp, dù quanh tôi, luôn phảng phất bóng dáng ông.
(more…)

Phạm Đức Thân

Độc giả nào nghĩ đây là chuyện tầm phào của phụ nữ chẳng đáng bàn thì người viết xin chỉ ngay hai sai lầm. Thứ nhất theo khảo sát của các nhà tâm lý, xã hội học, đàn ông cũng thích ngồi lê đôi mách như đàn bà. Thứ hai nó không phải tầm phào mà rất quan trọng, là một bản tính cố hữu của con người được nhiều nhà tư tưởng quan tâm; chưa kể nó có thể gây ảnh hưởng rất lớn làm người ta thân bại danh liệt cũng như chính quyền sụp đổ.

Ngồi lê đôi mách là cụm từ VN rất tượng hình, nói lên điển hình cơ bản chuyện gẫu nhàn tản giữa hai người (ám chỉ là phái nữ). trong khi Anh ngữ có chữ gossip do cổ ngữ god sib nguyên thủy nghĩa là phụ nữ đỡ đầu hoặc bạn hỗ trợ được mời có mặt lúc sinh nở. Đàn ông Anh nghi là nhân đó họ chuyện vãn nói xấu mình, cho nên gossip hàm ý chê bai, giống như cụm từ VN do đàn ông đặt ra cũng ngụ ý tương tự.
(more…)

Tưởng Năng Tiến

I know what I choose to do is risky but I accept the fight. (Lê Anh Hùng )

Every time Le Anh Hung starts to write he thinks of his three young children. The 38-year-old has already been imprisoned twice for blogging about human rights and corruption from his home in Hanoi and lives half-expecting another fateful knock at the door. And yet “I’m not scared,” he says, “I know what I choose to do is risky but I accept the fight. Cứ mỗi lần cầm bút là Lê Anh Hùng nghĩ đến ba đứa con thơ. Người đàn ông 38 tuổi này đã hai lần vào tù, vì viết blog về nhân quyền và nạn hối lộ, hiện đang sống phấp phỏng trong căn nhà của ông ở Hà Nội. Tuy thế, ông nói, ‘Tôi biết điều mình lựa chọn là nguy hiểm nhưng tôi chấp nhận trận chiến này.” (Charlie Campbell. “Internet Censorship Is Taking Root in Southeast Asia.” Time 18 Jul 2013).
(more…)

Phạm Đình Trọng

Đêm nào cụ Mượt cũng bị Thị Hến lôi vào cuộc vui xác thịt như một cực hình. Thị mới bước qua tuổi ngoài năm mươi rừng rực hồi xuân mà cụ Mượt thì đã xấp xỉ tuổi tám mươi, dù răng chắc, gối bền đến mấy mà phải cứ như máy may suốt đêm, làm sao không cực hình. Hôm sau cụ Mượt xác xơ, phờ phạc như con cú gặp trời mưa, ngồi đâu ngủ gật đấy. Thị Hến bảo gì, cụ Mượt nghe nấy. Tài khoản ngân hàng của cụ Mượt, của chìm của nổi nhà cụ Mượt, bỗng trở thành của Thị Hến.

Lúc còn quyền lực đầy mình, được đón rước đi khắp nơi trong nước nhưng đầu óc trống rỗng, đến đâu cụ Mượt cũng chỉ có một câu cửa miệng: Trồng cây gì, nuôi con gì. Như câu cửa miệng của cụ Cố Hồng trong kiệt tác Số Đỏ của tài năng văn chương kiệt xuất Vũ Trọng Phụng: Biết rồi! Khổ lắm! Nói mãi! Nay dù hết quyền nhưng vị thế đã có của cụ Mượt vẫn là một thế lực giúp cho Thị Hến trong việc làm ăn của Thị và Thị chủ động đến với cụ Mượt. Cụ Mượt cần cho Thị Hến cũng chỉ là làm con Sam, nuôi con Hến mà thôi.
(more…)

Phan Tấn Hải


Nhà văn, nhạc sĩ Nguyễn Đình Toàn

Chữ nghĩa của Nguyễn Đình Toàn là một phần rất lớn trong thời đi học của tôi. Cũng như sương buổi sớm, không mấy ai thấy rõ, nhưng sương vẫn bay phả khắp trời – chữ của Nguyễn Đình Toàn là như thế trong trí nhớ tôi thời còn mang sách tới trường. Bàng bạc, nhưng làm ướt tóc, ướt vai.

Trong cái nhìn thời mới lớn của tôi, Nguyễn Đình Toàn là hiện thân của Hà Nội, là những gì rất mực tinh tế, nhạy cảm. Tôi sinh ra và lớn lên tại Sài Gòn, bạn trong xóm toàn Nam Kỳ rặt, bước ra đầu hẻm là một tiệm hớt tóc lúc nào cũng có bàn cờ tướng cho mấy bác trong xóm tụ họp khề khà, hễ đi xe đạp ngang qua tiệm thường là nghe từ la-dô (máy radio) để nơi một kệ trong tiệm vang lên mấy câu ca từ những tuồng cải lương, thí dụ “ngày mai đám cưới người ta, vì sao sơn nữ Phà Ca lại buồn”… Thế cho nên, khi vào trung học Chu Văn An là một chân trời khác hẳn, hầu hết là Bắc Kỳ — chữ này gọi không đúng, nhưng là để đối lại hình ảnh trên, vì cậu học trò trong tôi lúc đó đồng nhất tất cả nơi đây là Hà Nội. Vâng, trung học Chu Văn An là hiện thân Hà Nội, nơi nhà thơ Vũ Hoàng Chương dạy văn, nơi thầy Nguyễn Đình Quỹ dạy toán. Cũng là Hà Nội dưới mắt tôi, kể cả khi tôi học Pháp văn từ thầy Nguyễn Đăng Thường, một người Nam Kỳ thuần.  Nghĩa là, Hà Nội là một phẩm chất của văn hóa khó tìm. Và rồi, cùng bạn hữu la cà các tiệm cà phê, tôi gặp một Hà Nội được hiện thân qua Nguyễn Đình Toàn.
(more…)