Archive for the ‘Tùy Bút / Tản Mạn / Tạp Ghi’ Category

Phạm Nga

1.
Xa xưa, vài năm đầu thập kỷ 60, chiến tranh còn chưa khốc liệt mà chỉ mới có mặt đâu đó ở những vùng rừng núi thật xa đô thành Sài Gòn, lâu lắm mới nghe tiếng đại bác chợt vọng về thành phố ban đêm. Do đó, ít ra là đối với tuổi niên thiếu hồn nhiên của những cậu bé dân Sài Gòn như tôi, những tháng 12 thời ấy quả là “bình yên dưới thế”, bọn nhóc chúng tôi tha hồ háo hức trông chờ những lễ hội lớn lao, thật vui vẻ là Noel và Tết dương lịch.

Cứ bắt đầu nghe bản Jingle Bells vang vang ngoài phố cùng hình ảnh ông già Noel cỡi xe tuần lộc, tươi cười trên những tấm thiệp đẹp đẽ là tôi đã cảm thấy vô cùng nôn nao, hí hửng. Bọn trẻ, bọn thanh niên nam nữ thì lúc nào chẳng chộn rộn trong những mùa hoan lễ.
(more…)

Hồ Đình Nghiêm

Tôi viết tặng em bài thơ buồn. Câm lặng. Đôi ba hôm sau nghĩ chẳng đặng, em hồi âm. Mưa lâm thâm ướt dầm lá hẹ, bây giờ em thôi làm mẹ, qua mùa đông sẽ lên chức bà nội, đừng làm tình làm tội nữa nha anh. Sao đứt thắng có người bảo hỏng phanh mà kêu ca cho đến hồi khản tiếng gọi là thất thanh? Rõ là em đã soán đoạt ở anh màu trời xanh. Anh chết máy giữa đường đầy nắng hanh.

Yêu cần tri kỷ viết cần tri âm, hai món hỷ tín này coi bộ anh vô duyên. Nói huyên thuyên tiếc sợi dây nối vào gàu giếng cạn, ừ thì sức người vốn hữu hạn, mình thôi làm bạn từ dạo súng nổ đạn bay. Ớt thì cay mà miệng anh thày lay: Dễ như ăn ớt. Vậy đụng phải trớt quớt trách chi ai? Thơ văn có lúc là thứ mang tai ương đến tha nhân, hành hạ người ta đủ điều lần khân. Đẻ ra chán, oải, nhàm, nản, ngấy… “những điều trông thấy mà đau đớn lòng”.
(more…)

Hồ Đình Nghiêm

Ngày xưa thân ái. Bốn chữ này thường được sử dụng nhiều trong các cuốn lưu bút, bạn cùng lớp bịn rịn trao tay khi hè về chấm hết một niên học. Trong ca từ một bản nhạc cũng có gợi nhắc, hình như là (thể điệu boléro?): “Những ngày xưa thân ái, xin trả lại cho nhau…”

Tôi có nhiều bạn, tên bắt đầu bằng N. Trong cuốn sổ điểm danh kích cỡ to một cách lạ thường nằm trên bàn thầy cô, đứng trên những đường kẽ chữ xanh nhạt đều đặn thẳng tắp, đè đầu cỡi cổ chen chúc vây quanh tôi có lắm đứa thân thích: Nam, Nhã, Như, Nhân, Ngọc, Ngôn, Ngữ, Nghĩa, Nguyện… Và họ Nguyễn bao giờ cũng lấn át những họ khác. Tôi lạc mất tin về Nguyễn Thanh Ngọc từ năm 1968. Nguyễn Văn Ngữ thì mất vào mùa hè 1972. Nguyễn Duy Nguyện thì bị động viên, vào lính năm 1974 chả biết sống chết ra sao. Lớn lên theo thời gian, bạn bè cứ thế mà lần hồi chìm tăm biệt tích. Những ngày xưa thân ái có hiện ra cũng nhạt nhoà dần bao trang vở khắc ghi tới thời vàng son thuở nọ. Một nhà văn thành danh từng nói với tôi: Giai đoạn mà cậu sống với, quả có bất hạnh.
(more…)

Tưởng Năng Tiến

Những kẻ đặt Khổng Tử lên bàn thờ, thánh hóa ông chính là những kẻ cầm quyền, hoặc những kẻ muốn nắm quyền. Việc này hoàn toàn không phải là việc của dân chúng bình thường. (Lỗ Tấn)

Tháng trước, nhân dịp kỷ niệm 95 năm sinh nhật của nhạc sỹ Văn Cao (15/11/1923 – 15/11/2018) nhà văn Đặng Văn Sinh đã chịu khó viết lại vài đoạn (“ghi chép vụn”) của bạn đồng nghiệp Hoàng Minh Tường, trên trang FB của ông:

Có chuyện này về cụ Văn Cao, chỉ mình hai bố con tôi chứng kiến – Long Bụi kể – Ấy là cái năm Hội Nhà văn hay Nhạc sỹ Hunggari có giấy mời đích danh Văn Cao sang chơi hay hội thảo gì đó. Tổ chức không muốn cho Văn Cao đi, vì ông thuộc diện văn nghệ sỹ bất hảo, nhưng chưa tìm ra cớ gì ngăn cản. Tối ấy, tôi lai bố Lê Chính cùng bác Văn Cao đi đâu đó. Đến ngã tư Trần Nhân Tông – Mai Hắc Đế, bỗng thấy hai thằng du côn tự nhiên xô vào xe bác Văn, rồi chửi ông và đánh ông túi bụi. Khi ấy tôi đã là một thầy dạy võ, có lò võ riêng. Điên tiết, tôi xông đến, giằng hai thằng côn đồ ra, định dạy cho chúng một bài học. Thấy tôi ra đòn, biết gặp cao thủ, chúng bí quá, liền dí tấm thẻ đỏ vào mặt tôi: “Mày không biết chúng bố là ai, hả? Xéo đi cho các bố làm việc.”
(more…)

Người Buôn Gió

Từ Phất Lộc đến Weimar là cuốn tự truyện tôi viết trong thời gian nhận học bổng của thành phố Weimar 6 tháng. Giấy mời của thị trưởng thành phố Weimar gửi đến địa chỉ nhà tôi 22 ngõ Phất Lộc, Phường Hàng Buồm, quận Hoàn Kiếm có đoạn.

– Chúng tôi đánh giá cao khả năng văn chương và báo chí của ông. Chúng tôi mời ông đến thành phố của chúng tôi 6 tháng để thăm và tạo điều kiện để ông có thể viết những gì ông muốn.

Khả năng văn chương và báo chí của tôi là gì, tôi cũng không biết. Thiên hạ cũng chẳng rõ, những gì tôi viết ra sự khen chê khác nhau. Những loại dư luận viên tôi không bàn đến, những người thân với tôi cũng không bàn đến. Bởi nhận xét của họ không thể khách quan.
(more…)

Tâm Nhiên

 
Từ trái: Thiền sư Tuệ Sỹ và tác giả

“Năm tháng vẫn như nụ cười trong mộng” là một câu thơ của Thầy Tuệ Sỹ mà tôi cứ đọc đi đọc lại mãi trên những chuyến phiêu bạt, giang hồ khắp đó đây. Ngày đi, tháng đi, năm đi và đời mình cũng đang chuyển dịch đi qua. Đi trên nhịp bước sương lồng sông núi lặng: “Đi để nhớ những chiều pha tóc trắng. Mắt lưng chừng trông giọt máu phiêu lưu.” 1 Phiêu lưu, phiêu lãng ngàn phương, theo cách điệu tiêu dao du chơi giữa vô thường:

“Bước đi nghe cỏ động
Đi mãi thành tâm không
Hun hút rừng như mộng
Tồn sinh rụng cánh hồng” 2
(more…)

Song Thao


Thánh Andrew Dũng-Lạc

Ngày 5 tháng 11 năm 2018, Tòa Tổng Giám Mục Hà Nội đã gửi “Đơn Kiến Nghị Khẩn Cấp” do Hồng Y Nguyễn văn Nhơn và Giám Mục Chu văn Minh ký, yêu cầu thành phố Hà Nội đình chỉ việc ngang nhiên xây dựng trên đất của tòa Tổng Giám mục. Khu đất này chính là khu trường Dũng Lạc trước kia.

Tin xấu này làm nhiều người bất bình. Tôi là học sinh trường Dũng Lạc trong bốn niên khóa từ năm 1950 đến 1954, từ Đệ Thất đến Đệ Tứ, nên xót xa cho mái trường xưa, mái trường mà ít ngày trước đây tôi thẫn thờ nhớ khi cô cháu tôi từ Việt Nam qua chơi, đã mang qua cho tôi cuốn học bạ bốn năm tại trường Dũng Lạc. Cuốn sổ mỏng, vàng ố, chỉ có 16 trang, ghi lại thành tích học tập của tôi trong bốn năm học Trung Học Đệ Nhất Cấp này. Học bạ được in tại nhà in Tiến Long, 25 phố Nhà Chung, Hà Nội. Phố Nhà Chung, con phố ngắn nhưng rất thân thuộc với học trò Dũng Lạc.
(more…)

Nguyễn Quang Duy


Trương Vĩnh Ký (1837-1898)

Trương Vĩnh Ký, người tạo nền móng cho giáo dục và cải cách ngôn ngữ Việt Nam vào thế kỷ 19, là nhà bác học nhiều năm qua vẫn chưa được hậu sinh hiểu một cách tận tường. Bài viết này muốn nhắc lại nỗ lực giáo dục và cải cách ngôn ngữ tiếng Việt của ông nhân kỷ niệm 181 năm ngày sinh của ông, vào ngày 6/12/1837 tại ấp Cái Mơn, tỉnh Vĩnh Long.

Sau 30/4/1975, khi ngôi trường trung học Petrus Trương vĩnh Ký bị đổi tên và bức tượng bán thân giữa sân trường bị dời đi, học sinh chúng tôi thường tranh luận về “công và tội” của Petrus Ký khi mượn tay người Pháp giúp nền văn học nước nhà. Chúng tôi thường kết thúc bằng ngạn ngữ được Pétrus Ký dùng nhiều lần khi viết thư “Sic vos non vobis”. Hồi ấy chúng tôi hiểu câu ngạn ngữ trên là “Ở với họ mà không theo họ”, vừa tránh dẫn đến chuyện bị quy kết “phản động”, vừa tỏ bày tâm sự “Ở với cộng sản mà không theo cộng sản”. Gần đây tôi mới biết câu ngạn ngữ tiếng La Tinh “Sic vos non vobis” có 2 nghĩa và dịch như trên là hoàn toàn sai ý Pétrus Ký.
(more…)

Tưởng Năng Tiến

Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội!
Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi!
Lẽ nào trời đất dung tha?
Ai bảo thần dân chịu được?
(Bình Ngô Đại Cáo)

Khoảng bằng giờ này năm trước, báo Thanh Niên Online (số ra ngày 7 tháng 11) ái ngại loan tin:

Cụ bà Hoàng Thị Minh Hồ, quả phụ nhà tư sản dân tộc yêu nước Trịnh Văn Bô vừa trút hơi thở cuối cùng vào đêm 5.11 tại Hà Nội trong sự tiếc thương và ngưỡng mộ của hàng triệu người Việt Nam yêu Tổ quốc. Không nhiều người biết, lúc cụ nhắm mắt, nỗi buồn sâu thẳm trong lòng vẫn chưa được khơi thông, thậm chí còn là nỗi buồn nhân đôi!

Chuyện gì mà buồn dữ vậy, Trời?

Tác giả bài báo thượng dẫn, nhà báo Quốc Phong, cho biết:

Năm 1954, sau khi Cách mạng về tiếp quản Thủ đô, hai vợ chồng cụ Trịnh Văn Bô khi đó đã cho Tổng Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái mượn ngôi biệt thự tại 34 Hoàng Diệu, Hà Nội có khuôn viên rộng 3.000 m2 trong 2 năm. Lý do tướng Thái muốn mượn là vì nó rất tiện cho công việc. Nhất là lúc này, đất nước vẫn còn chia cắt và cuộc chiến đấu giải phóng đất nước vẫn chưa trọn vẹn. Vị trí này rất tiện làm việc vì nó rất gần Bộ Quốc phòng. Theo như lời hứa của tướng Thái (sau này là đại tướng) thì “khi nào Bắc Nam thống nhất, quân đội sẽ trả anh chị”…
(more…)

Đỗ Trường


Nhà văn Trương Văn Dân và vợ ông nhà văn Elena Pucillo

Nếu không có gần nửa thế kỷ sống xa quê, xa Tổ Quốc, thì có lẽ, chưa chắc Trương Văn Dân đã dính vào cái nghiệp văn chương, viết lách. Những năm tháng chia ly ấy, như một sự thiếu hụt trong tâm hồn, luôn làm cho ông chông chênh và trống trải. Để lấp đi khoảng trống đó, Trương Văn Dân phải độc thoại trên từng trang viết của mình. Sự tìm tòi và sáng tạo ấy, không chỉ vơi đi nỗi nhớ thương, mà còn giúp ông tìm lại một nửa linh hồn của mình, dường như vẫn còn ở lại nơi quê nhà. Do vậy, có thể nói, cũng như Trần Trung Đạo, Phạm Tín An Ninh, hay Cao Xuân Huy, nhà hóa học Trương Văn Dân đến với văn thơ một cách ngẫu nhiên, bởi hoàn cảnh cuộc sống, và trái tim thúc bách, chứ hoàn toàn không có sự chuẩn bị để trở thành một nhà văn. Văn thơ Trương Văn Dân, tuy không vụt sáng lên, song nó góp phần không nhỏ cho sự tiếp cận, giao thoa giữa hai nền văn học Việt – Ý (Italia).
(more…)

Trang Nguyen

Nha trang là nơi tôi sinh ra và đã sống trong thời thơ ấu, Ninh hòa là nơi tôi đã sống sau ngày vận nước thay đổi, cả một quãng đời niên thiếu và thanh xuân trôi qua trong lam lũ và buồn bả. Lòng tôi luôn nhớ về làng quê nhỏ bé, con đường đất gập gềnh, với hàng tre bến sông, ánh trăng quê… Nhắc đến Ninh hòa tôi thường không ngăn được những dòng nước mắt, nhớ đến những tháng ngày đắng cay, buồn nhiều hơn vui mà tôi đã từng trải.

Tuổi thần tiên

Khi còn bé, trước khi về Ninh hòa sống, tôi rất thích bài hát “tuổi mộng mơ” của Phạm Duy “em ước mơ mơ gì tuổi 12, tuổi 13, em ước mơ em được em được làm tiên nữ…” và nhất là bản nhạc “tuổi thần tiên” của Phạm Duy
(more…)

Hồ Đình Nghiêm

Nói tới bóng đen, không thể không nhớ lại một câu chuyện cổ. Truyền thuyết chất đủ sự nông nổi, vụng dại, đầy kịch tính:

Hai vợ chồng có con mọn. Chồng mang họ Trương, vì lính thú phải đi trấn nhậm đồn xa. Vợ ở nhà đơn thân nuôi con dại, để dỗ dành con và làm nguôi nỗi nhớ chồng, mỗi tối thắp đèn lên, chỉ tay vào bóng chiếu trên vách: “Cha con kìa”. Lâu ngày, Trương được phép về thăm nhà, mừng vui gọi con lại nhưng đứa bé lắc đầu: “Không, phải đợi trời tối kia, khi ấy thì cha mới về”. Trương đau lòng nghĩ là vợ đã ngoại tình. Vợ chẳng tìm ra cách minh oan, lẳng lặng gạt lệ ra tới bên sông, trầm mình tự tử. Chiều xuống, đêm về, Trương thắp đèn lên. Nhìn bóng đen hắt vào vách nghe tiếng con reo vui: “Cha về rồi, đó mới đúng là cha”. Trương chợt hiểu, giật mình, nhưng đã muộn. Hối lỗi tìm ra bờ sông lập đàn chay mong giải oan cho vợ… Về sau vua Lê Thánh Tông hay chuyện đã hạ bút làm nên bài thơ trách cứ, cho khắc vào bia đá trước miếu vợ chàng Trương. Hai câu cuối là:

“Qua đây mới rõ nguồn cơn ấy
Khá trách chàng Trương khéo phũ phàng”.
(more…)

Tưởng Năng Tiến

Trong nỗ lực xóa bỏ ký ức tập thể về sự kiện này, người ta đã không chỉ đục bia, mà còn đục cả thơ… một hành vi không chỉ xảo trá với lịch sử, vô ơn với chiến sĩ mà còn đớn hèn và nhục nhã về chính trị. (Nguyễn Anh Tuấn)

Ngày 11 tháng 11 năm 2018, báo Nhân Dân trang trọng loan tin: “Lễ kỷ niệm 100 năm ngày ký Hiệp ước đình chiến kết thúc cuộc chiến tàn khốc trong lịch sử nhân loại, đã diễn ra tại Khải Hoàn Môn trên đại lộ Champs Elysée ở trung tâm thủ đô Paris. Tham dự sự kiện này có 72 nguyên thủ và lãnh đạo quốc gia.”


Ảnh: thenational

Tui lấy kính lúp xăm soi hoài nhưng không thấy mặt mũi của “lãnh đạo quốc gia” Việt Nam đâu ráo trọi. “Đại diện của dân tộc” này cũng khỏi có luôn, theo như lời phàn nàn của nhà báo Lưu Trọng Văn:
(more…)

Lê Phú Khải


Nhà thơ Nguyễn Duy

Ca dao là những viên ngọc lung linh, trong suốt, lấp lánh trên bầu trời văn hóa của dân tộc. Tưởng chừng không ai có thể làm cho nó đẹp hơn, hay hơn được nữa. Thử nghĩ, ai có thể gọt dũa thêm, trau chuốt hơn những câu ca dao như thế này:

Hỡi cô tát nước bên đàng
Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi

Vậy mà thật bất ngờ cho tất cả những người Việt trong nước và trên toàn thế giới phải sững sờ, phải lặng người đau đớn khi đọc bài thơ “Cướp” của Nguyễn Duy:

Con ơi nhớ lấy câu này
Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan (ca dao)
Cướp xưa băng nhóm làng nhàng
Cướp nay có đảng có đoàn hẳn hoi
Có con dấu đóng đỏ tươi
Có còng có súng dùi cui nhà tù

(more…)

Võ Kỳ Điền

Tôi nhớ có lần thi sĩ Borges xứ Argentina, Nam Bán Cầu viết câu thơ hay: “Tôi sanh ra ở xứ lạnh, để sưởi ấm đôi bàn tay, nên tôi làm thơ.” Tứ thơ đẹp lung linh khiến người đọc giật mình nên tôi mạo muội bắt chước ý nghĩ đó – mình cũng hiện ở xứ lạnh nè, ngó qua ngó lại thì sự nghiệp công danh không có gì hết, trơ trọi một thân già, những khi trời đông lạnh, tuyết bay phơi phới trắng xóa đầy trời, thì tại sao không mượn câu thơ để gầy lò sưởi ấm. Và hôm nay tôi mượn bài Tiết Phụ Ngâm của Trương Tịch, một thi sĩ nổi tiếng thời Trung Đường, vì bài nầy cứ mỗi lần đọc là mỗi lần thú vị, thâm trầm.

TIẾT PHỤ NGÂM
Trương Tịch (766-827 đời Đường)

Quân tri thiếp hữu phu
Tặng thiếp song minh châu,
Cảm quân triền miên ý,
Hệ tại hồng la nhu
Thiếp gia cao lâu liên uyển khởi
Lương nhân chấp kích Minh Quang lý
Tri quân dụng tâm như nhật nguyệt
Sự phu thệ nghĩ đồng sinh tử
Hoàn quân minh châu song lệ thùy
Hận bất tương phùng vị giá thì.
(more…)

Nguyễn Mạnh Trinh


Nhà văn Lại Thanh Hà

Tác phẩm đầu tay của Lại Thanh Hà là “Inside Out & Back Again” được giải thưởng National Book Award năm 2011 về văn chương dành cho thiếu nhi. Tập thơ này làm cô nổi tiếng, có nhân vật chính là cô bé Kim Hà với những ý nghĩ hồn nhiên. Vẫn là hành trình gập ghềnh của một gia đình tị nạn. Vẫn là những nỗi niềm của một tuổi thơ lớn lên giữa những nếp sống xa lạ mà ngôn ngữ khác biệt đã tạo thành những rào chắn để tiến đến sự cảm thông với những người chung quanh. Tác phẩm viết về một câu chuyện của một cô bé Việt Nam tị nạn lúc mười tuổi tên Kim Hà. Nhưng, một điều đặc biệt, là tác giả đã viết tiểu thuyết bằng thơ. Cô tả người, tả tình, tả cảnh bằng những vần thơ Anh ngữ có chất hóm hỉnh trộn lẫn với cảm xúc để chuyên chở một cách linh động tâm tình của những người phải bỏ xứ ra đi sống ở nước ngoài.
(more…)

Ngọc Ánh

Có ai đó nói quê hương là nơi đi xa thì nhớ mà ở gần thì yêu thích luyến lưu, tôi nghĩ điều này đúng với những người có nguồn gốc Việt Nam nhưng đã sinh ra và lớn lên ở một đất nước khác, hoặc khi họ ra đi cùng gia đình theo dòng di tản thì tuổi thơ của họ còn quá bé nhỏ để cảm nhận sự háo hức đọng lại trong hình ảnh của con diều lộng gió trên bầu trời cao, hay con cá lia thia đủng đỉnh trong cái keo thủy tinh trên kệ tủ. họ không có khái niệm gì về vùng đất xa xôi “ chôn nhao cắt rún” của cha mẹ ông bà, mà đôi khi họ cũng có gởi ở đó một chút thịt da của lúc lọt lòng. Cũng có những người ra đi khi tuổi thanh xuân vừa chớm, cái tuổi 18-20 nhựa sống tràn trề để mơ về phương trời rộng mở phía trước mà vô tình quên hẳn lũy tre làng.
(more…)

Nguyễn Kiến Việt

Mẹ tôi chỉ là một thư ký thường cho một công sở ở Sài Gòn trước năm 1975. Vào cái trưa ngày 30 tháng 4, 1975, khi biết chắc miền Nam đã thất thủ và Việt cộng đang từ từ tiến vô Sài Gòn, mẹ tôi lặng lẽ mở tủ lấy lá cờ quốc gia, bỏ vô chiếc thau đồng vẫn thường để đốt vàng bạc trong các dịp cúng giổ trong gia đình, rồi đem xuống bếp, thắp ba cây nhang lâm râm khấn vái trước khi châm lửa đốt. Lúc đó chúng tôi cũng biết việc cất giữ những gì thuộc về chế độ cũ sẽ mang tới tai họa cho gia đình, huống chi là lá cờ quốc gia, nên mẹ tôi phải đốt đi; nhưng những điều mà mẹ tôi giải thích sau đó về việc khấn vái trước khi đốt lá cờ mang một ý nghĩa khác hơn mà suốt đời tôi không quên được. Mẹ tôi nói: “Biết bao nhiêu anh chiến sĩ quốc gia đã chết dưới lá cờ ni, chừ vì thời thế mà mình phải đốt đi, mình cũng phải xin phép người ta một tiếng!”
(more…)

Nguyễn Mạnh Trinh

Nguyễn Huy Thiệp nổi tiếng về những truyện ngắn. Với những truyện như Phẩm Tiết, Tướng Về Hưu, Vàng Lửa, Kiếm Sắc, Cún, Con Gái Thủy Thần… đã tạo nhiều ảnh hưởng trong giới làm văn học nghệ thuật trong nước và lôi cuốn theo cả giới độc giả. Truyện của ông có người thích có người không ưa và đã tạo ra nhiều cuộc tranh luận. Những tác phẩm của ông xuất hiện trong một thời kỳ mà có nhiều nhận định cho rằng bắt đầu cuộc đổi mới văn học sau tín hiệu của lời tuyên bố cởi trói cho văn nghệ sĩ ở trong nước của Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Việt Nam Nguyễn Văn Linh.

Nhưng, Tuổi 20 Yêu Dấu lại là tiểu thuyết đầu tay của Nguyễn Huy Thiệp. Từ thể loại truyện ngắn đổi sang tiểu thuyết, đã có nhiều thay đổi từ bút pháp đến suy tưởng. Tuổi 20 Yêu Dấu được viết xong năm 2003, được xuất bản ở hải ngoại năm 2004 do nhà xuất bản Văn Mới năm 2004 và được chuyển sang Pháp ngữ năm 2005 với tên “A Nos Vingt Ans” nhà xuất bản L’Aube, dịch giả Sean James Rose. Và đến bây giờ, tháng 9 năm 2018, được chính thức ra mắt. Trên mạng, tiểu thuyết này cũng được phổ biến khá rộng rãi.
(more…)

Phan Trà


Nhà thơ Nguyễn Minh Phúc

Cứ mặc cho dòng đời trắc trở, thơ của anh Nguyễn Minh Phúc, đặc biệt những vần lục bát, có một sức hút kỳ lạ, như mời gọi người đọc chúng ta, cùng nhau về lục tung quá khứ, cùng đến gõ cửa tương lai, miệt mài góp nhặt tinh khôi.

Trong chuyến lữ hành xa xăm, dường như phiêu lãng đó, dù có tìm được những reo vui, như:

“ừ nhỉ… hình như là tình yêu
tôi nghe nồng ấm khói lam chiều
có em tha thướt về trong nắng
và gió… hay là hương tóc theo…”
(Hay Bởi Tình yêu)

Hoặc, dù có gặp phải những buồn bã, như:

“em về phơi mỏng hồn tôi
mùa thu hoa cải hiên trời xôn xao
gửi trên môi một câu chào
đã nghe thương nhớ đậu vào tim nhau

giờ em tay bế tay bồng
bùi ngùi tôi nhớ tình nồng năm xưa
mà thu cũng đã sang mùa
còn chăng tiếng vọng gió lùa qua song…”
(Gõ Cửa Mùa Thu)
(more…)

Phạm Nga

Năm tháng trôi qua, cứ ăn-chắc-mặc-bền, cà phê bình dân thầm lặng phục vụ cho giới người nghèo, dân lao động nơi nơi, tại những quán cóc trong hóc hẽm hay các sạp, tủ bán cà phê /nước giải khát trên vỉa hè, trong bến xe, trước cửa các trường học, nhà thương, rạp hát, chỗ làm giấy tờ… Có điều là cách pha cà phê đã dần hồi đổi khác…

1. Cà Phê “Vợt” Bình Dân

Trong cõi nhân sinh đầy triền phược, bất công này lại có một điều bình đẳng thật hay ho là mọi người chúng ta, bất kể giàu hay nghèo, đều có thể uống cà phê. Từ những người nghèo, thật nghèo hèn như anh xe ôm, cậu sinh viên, dân lượm ve chai cho đến những người giàu, thật giàu có như ngài tổng giám đốc ngân hàng, ông chủ hãng xe hơi, vị trưởng phòng kinh doanh công ty nước ngoài…, đến cơn ghiền hay khi chợt nghĩ mình nên đi uống cà phê, hoặc vào bất cứ lúc nào đó rảnh rang, đều có thể đi một mình hay cùng bạn bè, đồng nghiệp ghé một quán cóc thật xập xệ bên đường hay một quán cà phê giá vửa phải hoặc một quán máy lạnh thật sang trọng, để mỗi người có thể nhâm nhi, thưởng thức món cà phê theo ý mình.
(more…)

Tưởng Năng Tiến

Nhưng phải nói lá cờ máu này xui thấy mẹ. Mang đi ủng hộ đội tuyển bóng đá, màu cờ đỏ ngập tràn sân vận động thì ta thua liểng xiểng. Vác cờ đỏ sao vàng đi biểu tình thì CA cứ thấy thằng mang cờ đỏ sao vàng là xông vào đánh tơi bời. (Mai Tú Ân)

Chị Phương Anh (nhà xuất bản Quê Mẹ) và chị Trương Anh Thụy (nxb Cành Nam) cùng vài ông anh khác – Võ Thắng Tiết, Uyên Thao, Trần Phong Vũ, Huy Phương – đều đã có lúc khuyến khích tôi “ra” một cuốn sách, cho nó … giống với mọi người. Tôi lắc đầu quầy quậy trước sự ân cần và tử tế của qúi anh/qúi chị vì sợ lỡ có tác phẩm, rồi bị trao giải Nobel (về văn học) là hư bột/hư đường ráo trọi.

Lập thân tối hạ thị văn chương! Tôi tin rằng mình có thừa khả năng để có thể “lập thân” trong rất nhiều lãnh vực khác, ngon lành và bảnh bao hơn nhiều! Ngoài việc tìm hiểu (để giải trí) Vũ Trụ Học và Thiên Văn Học, tôi dành hết đời mình để cặm cụi nghiên cứu về nguyên nhân nghèo đói của những nước ở Đông Nam Á. Tài liệu, nay, đã chất thành từng núi. Chỉ cần sắp xếp, ghi chép lại, rồi cho trình làng xong là tôi tin (chắc) rằng mình sẽ ẵm cái giải Nobel về kinh tế.
(more…)

Phan Tấn Hải

Tôi có một thói quen rất bình dân, là rất mực ưa thích những gì gọi là bình dân. Chính vì như thế, tiếng Việt tôi sử dụng thường là bình dân, không có gì cầu kỳ, kiểu cọ, chẳng hề sang chảnh ngữ ngôn cách điệu gì cả. Nói cách khác, chữ tôi dùng rất mực nhà quê, ưa theo đám đông quần chúng.

Thí dụ, tôi ưa dùng theo đám đông, viết là “hồi ký” thay vì “hồi kí” và chẳng hề có thì giờ để xem các nhà ngữ học tranh cãi về y hay i. Đời mình chẳng có bao nhiêu ngày để sống, chẳng bận tâm những chuyện có thể là đã nằm ngoài tầm hiểu biết của mình. Đất nước lại chẳng có một Viện Hàn Lâm ở cấp quốc gia để thống nhất các chuyện như thế.

Thế rồi cũng mệt với dấu gạch nối. Thí dụ, một số nhà ngữ học viết có gạch nối là “hồi-ký” – người khác viết là “hồi-kí” và độc giả trung bình cỡ như tôi là khựng lại.

Sau này, tôi quyết định giữ thói quen kiểu Mỹ là đi con đường ngắn nhất, đơn giản nhất. Đó là, cứ viết “hồi ký” với y và không gạch nối.
(more…)

Tưởng Năng Tiến

Chống cờ đỏ nghĩa là biểu tỏ sự bất đồng của những người bình thường với một chính quyền tham tàn. (Huỳnh Thục Vy)

Bà chị đi lấy chồng đúng vào lúc tôi vừa đủ lớn để giã từ tuổi thơ, vĩnh biệt cá chim/diều dế (chia tay những trò chơi của thưở ấu thời) để bước vào một thế giới khác với khói thuốc lá Bastos, nhạc Beatles, café noir, bière 33, và tràn lan phim truyện.

Nhà vốn nhỏ hẹp nên vắng chị tôi được “thừa hưởng” nguyên cái giường trống (khỏi phải nằm chung với bố hay mẹ nữa) cùng một tủ sách nho nhỏ có đủ mặt Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam, Lan Khai, Đinh Hùng, Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Thị Vinh, Linh Bảo, Minh Đức Hoài Trinh, Võ Hồng, Thanh Nam, Mai Thảo, Nhật Tiến, Tuấn Huy, Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Đình Toàn, Văn Quang, Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc …

Tôi đọc tuốt luốt nhưng “chịu” Doãn Quốc Sỹ, và vẫn cứ tiếp tục lẽo đẽo theo ông cho đến lúc xế chiều. Theo Nguyễn Mộng Giác: “Khi xây dựng nhân vật, Doãn Quốc Sỹ thường không lưu tâm moi móc những ngóc ngách xấu xa của họ.” Võ Phiến cũng có nhận xét (gần) tương tự: “Các truyện của ông Doãn nhân vật nào cũng tốt, việc gì cũng có khía cạnh hay. Ông bất lực không tạo được người xấu, kể nổi việc xấu. Đọc sách ông thơm tho cả tâm hồn.” (Văn Học Miền Nam Tổng Quan. Westminster, CA: Văn Nghệ, 1999).
(more…)

Đinh Quang Anh Thái


Nhà văn Dương Thu Hương

Dương Thu Hương tự nhận mình là “người rừng”, “mụ đàn bà nhà quê răng đen, mắt toét”. Báo chí Pháp thì gọi Dương Thư Hương là “Con Sói Đơn Độc”. Còn lãnh đạo CSVN thì chửi bà là “con đĩ chống đảng”.

Gọi bằng gì thì gọi, Dương Thu Hương vẫn là chính mình: bản chất chân quê không hội nhập vào thế giới trên mạng, bõ bã, đốp chát, đơn độc, và trên hết, ngay thẳng, hết mực với mục tiêu nhắm tới là tranh đấu cho một nước Việt Nam dân chủ, tự do, thoát khỏi cái chế độ hiện nay mà bà gọi là “chỉ sống bằng xác chết, không có bất cứ giá trị gì cả.”

Sinh năm 1948, lớn lên tại miền Bắc vào đúng giai đoạn Cộng sản Hà Nội tung toàn lực lượng nhất quyết bằng mọi giá phải đạt được tham vọng “giải phóng miền Nam thoát khỏi sự kềm kẹp của Mỹ-Ngụy.” (sic)

Như lời bà kể, cùng với hơn 100 bạn ngang lứa tuổi, bà đã cắt máu xin vào Nam “đánh Mỹ cứu nước”.
(more…)

Nguyễn Lệ Uyên

“Ta mãi lơ mơ suốt một đời tình
Mãi lưu lạc những hiên nhà gái đẹp”

(Hoàng Lộc)


Nhà thơ Hoàng Lộc

Sau khi nhóm Sáng Tạo “hoàn thành sứ mệnh” làm mới nền văn học nghệ thuật Việt Nam bằng những tuyên ngôn, thảo luận bàn tròn, tung hê đầy dẫy trên tạp chí Sáng Tạo bộ cũ và mới với những tên tuổi “lớn”: Mai Thảo, Trần Thanh Hiệp, Thanh Tâm Tuyền, Ngọc Dũng, Nguyễn Sỹ Tế… thì có một khoảng trống lộ ra, nhưng không lâu.

Lấp vào khoảng trống của Sáng Tạo, giữa thập niên 1960, là các tạp chí Văn, Khởi Hành, Văn Học… nơi tụ hội của các cây bút trẻ, lần đầu thử sức với văn chương. Và họ đã thành công, với những tên tuổi như Y Uyên, Trần Hoài Thư, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Trần Thị NgH. Cao Huy Khanh, Luân Hoán, Huy Tưởng, Lâm Chương, Nguyễn Tất Nhiên, Nguyễn Bắc Sơn, Ngụy Ngữ, Phạm Ngọc Lư, Lê Văn Thiện… trải dài từ bờ nam sông Bến Hải tới tận Cà Mau. Nhưng công tâm mà nói, thì dải đất miền Trung xương xẩu, ôm gọn núi rừng, đồng bằng, duyên hải đã phải giang tay đỡ lấy máu, xương trắng, khăn tang… là chốn xuất hiện nhiều nhà văn nhà thơ trẻ. Số đông vẫn là Huế và Quảng Nam.
(more…)

Mẹ Nấm

Những ngày tháng 6 năm 2018 tại trại giam số 5, Yên Định – Thanh Hóa, tôi thao thức trằn trọc mãi sau mỗi lần xem ti vi và tin tức trên báo Nhân Dân về những cuộc xuống đường biểu tình chống luật An Ninh mạng và Luật Đặc khu. Khi cảm giác vui mừng, hãnh diện biết rằng bên ngoài mọi người vẫn đang tiếp tục tranh đấu trôi qua thì tôi lo lắng. Lo lắng không biết sau khi biểu tình có anh chị em nào phải rơi vào cảnh tù đày hay không? Lo lắng hơn nữa là với âm mưu dùng luật để chính thức dâng 3 địa bàn chiến lược của Việt Nam cho Trung cộng, đảng và nhà nước cộng sản đã thực sự chấp nhận làm thân chư hầu cho thiên triều phương Bắc để mãi quốc cầu vinh. Tôi trằn trọc nhiều đêm với câu hỏi rồi chúng ta sẽ ra sao trên chính quê hương mình khi đất nước đang đối diện với nguy cơ trở thành một Tây Tạng, một Tân Cương?
(more…)

Nguyễn Bàng


Nhà thơ Chu Vương Miện

Từ ngày 03 tháng 9 năm 2018 đến nay, mới vừa đầy 2 tháng, nhà thơ Chu Vương Miện đã liên tiếp trình làng 23 chùm Thơ Thiền trên nhiều chiếu thơ mạng ở trong nước và ở ngoài nước. Mỗi chùm thơ có từ 2 đến 5 bài, vị chi đã có cả non 100 bài Thơ Thiền Chu Vương Miện đến với bạn đọc. Chữ Thiền, Thiền học vốn từ chữ Thiền tông mà ra, thường được dịch là suy tưởng, suy ngẫm. Xem vậy thật đáng nể sự suy tưởng, suy ngẫm một nhà thơ không phải là thiền sư.

Thơ Thiền không phải bây giờ mới có. Nó xuất phát từ Trung Hoa và phát triển mạnh từ thời nhà Đường. Ở Việt Nam, Thơ Thiền phát triển vào thời Lý Trần với các tác giả – các thiền sư của các thiền phái như Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông, Thảo Đường, Trúc Lâm Yên Tử mà đỉnh cao có thể kể là Tuệ Trung Thượng Sĩ.
(more…)

Nguyễn Thị Tịnh Thy


Elena Truong
dinhcuong

Trong làn sóng di dân của nhân loại từ xưa đến nay, người ta thường bỏ nơi nghèo khó để đến xứ giàu sang, bỏ nơi lạc hậu để đến vùng văn minh… Nhưng ở thế kỷ XXI này, có một nữ tiến sĩ người Ý lại đi ngược so với mọi người; chị bỏ nơi giàu sang, văn minh để về với nghèo khó, lạc hậu. Đó là Elena Pucillo Truong.

Nhà văn Trần Hữu Hội đã từng có một nhận định rất chính xác về Elena: Chị chọn định cư ở nước ngoài không vì mục đích kinh tế, chính trị, mà là vì tình yêu, đơn – thuần – vì – tình – yêu. Tình yêu đã khiến chị đi ngược so với nhiều người, chấp nhận một đời sống vật chất và tiện nghi thua kém xa quê mẹ, để rồi thích nghi và yêu mến quê chồng như chính nơi chôn rau cắt rốn của mình. Từ tình yêu với một người, Elena yêu muôn người; từ tình yêu với mảnh đất Bình Định quê chồng, chị yêu luôn cả đất nước Việt Nam; từ tình yêu với “bánh ít lá gai”, chị yêu luôn cả mắm ruốc tương cà…
(more…)

Tưởng Năng Tiến

If you want a picture of the future, imagine a boot stamping on a human face – for ever. Nếu bạn muốn có một hình ảnh về tương lai, hãy hình dung ra một chiếc dầy bốt đạp vào mặt nhân loại – mãi mãi. (George Orwell, Nineteen Eighty-Four)

Cách đây vài bữa, bạn Ngô Duy Quyền bỗng lên tiếng phàn nàn về một ông láng giềng (thổ tả) nào đó:

Chiều nay tôi thấy anh chủ nhà hàng xóm là Tiến sĩ vật lý ở Viện Vật lý địa cầu (nơi bác Nguyễn Thanh Giang từng làm việc) có mặt ở nhà mới sang nói chuyện: – anh Cường ơi em nói cái này, em thấy cái camera nhà anh quay hướng thẳng vào cửa nhà em như vậy không ổn chút nào…

Anh ta cười ruồi: – àh, như em cũng biết đấy, việc này nó liên quan tới cái chung…
(more…)