Phong trào Nhân Văn Giai Phẩm – Chương 15: Phan Khôi – Phụ lục – Văn bản Nguyễn Ái Quốc: Ai là tác giả những bài ký tên Nguyễn Ái Quốc tại Pháp từ 1919 đến 1927?

Posted: 31/07/2011 in Biên Khảo / Phê Bình, Thụy Khuê
Thẻ:,

Thụy Khuê


Hồ Chí Minh (1890-1969)

Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh

Khác hẳn với các nhà cách mạng như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng… Tiểu sử Hồ Chí Minh là một bí mật. Chỗ nào ông muốn viết (hoặc sai người viết), chỗ nào giấu đi hoặc thêm thắt vào, đều có chủ đích rõ ràng. Chủ đích đó không phục vụ sự thật, như Phan Bội Châu trong Ngục Trung Thư hay Tự Phán: những sai lầm của mình cũng viết, ý kiến nào do Nguyễn Thành hay Lương Khải Siêu nghĩ ra cũng nói rõ.

Hồ Chí Minh không ngần ngại nhận mình là tác giả những bài viết và những công trình không phải của ông. Đó là sự cách biệt sâu xa về nhân cách giữa hai nhà cách mạng. Lời Phan Khôi dặn con: “Khi con gái của Mác hỏi cha thích tính gì nhất? Mác đã trả lời: tính thật thà!” (Phan Thị Thái, Nhớ cha tôi học giả Phan Khôi, Kiến thức ngày nay, tháng 12/1996), là một chúc thư mà cũng là lời Phan Khôi cảnh cáo Hồ Chí Minh về toàn diện lịch sử mờ ám của ông.

Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chỉ chú ý đến thời kỳ Nguyễn Tất Thành ở Pháp, từ 1919 đến1923. Thời gian này, ông tự nhận mình là Nguyễn Ái Quốc và chính những bài báo ký tên Nguyễn Ái Quấc/Quốc đã xây dựng nên huyền thoại Hồ Chí Minh.

1- Nghi vấn thứ nhất: năm sinh?

Cuối lá thư viết ở Marseille ngày 15/9/1911, gửi cho Tổng thống Pháp, xin vào học trường Thuộc địa, có ghi sinh năm 1892 ở Vinh. Một mật báo ghi Nguyễn sinh ngày 24/1/1892. Một mật báo khác, ghi 15/1/1894. Trong hộ chiếu vào Nga năm 1923, theo Hồng Hà, ghi 15/1/1895. Còn ngày sinh chính thức 19/5/1890, có từ năm 1946, có thể lấy ngày thành lập Việt Minh. [Theo Nguyễn Thế Anh, L’itinéraire polytique de Ho Chi Minh, trong cuốn Ho Chi Minh, L’homme et son héritage, Đường Mới, Paris, 1990].

Những sử gia Pháp, như Hémery cho rằng: năm sinh chính thức 1890 (thay vì 1895 hay 1898) chỉ có mục đích phục vụ huyền thoại: 1890 tính đến 1945 là ngoại ngũ tuần, đáng được gọi bằng Bác. Năm Nguyễn Tất Thành từ Anh sang Pháp cũng thế, theo Hémery, Nguyễn Tất Thành đến Pháp năm 1919. Nhưng lại chính thức chọn năm 1917, vì có những mốc lịch sử gắn liền: những cuộc binh biến trong quân đội Pháp và cuộc cách mạng tháng 10 của Nga. (Pierre Brocheux, Ho Chi Minh, Presses Sciences Po, 2000, trang15).

Tiểu sử chính thức Hồ Chí Minh, được rút từ những cuốn hồi ký do chính ông viết ra hoặc sai người viết lại, như: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch của Trần Dân Tiên, bản đầu tiên viết mùa xuân năm 1948 bằng chữ Hán, in ở Thượng Hải năm 1949. Dịch và in ở Hà Nội năm 1958. Cuốn thứ nhì: Vừa đi đường vừa kể chuyện của T. Lan, in năm 1963 (T. Lan là một trong những bút hiệu của Hồ Chí Minh sau 1951, theo Bùi Tín, ông rút ngắn bí danh Trần Thái Lan của Nguyễn Thị Minh Khai khi hoạt động ở Hương Cảng và Quảng Đông). Cuốn thứ ba: Thời thanh niên của Bác Hồ, của Hồng Hà, nxb Thanh Niên, 1976. Cuốn của Trần Dân Tiên có một số đoạn tương đối thành thực hơn cả. Cuốn của Hồng Hà, đầy đủ và logique hơn, nhưng có những đoạn (được lệnh) bớt đi hoặc thêm vào, khá lộ liễu, cốt để nâng cao giá trị thần tượng.

Trong thời gian 1911-1923, cuộc đời Nguyễn Tất Thành, có thể đã diễn ra như sau :

Ngày 4/6/1911, Nguyễn Tất Thành, đáp tàu L’Amiral Latouche-Tréville, trọng tải 6000 tấn, chạy đường Sàigòn-Dunkerque, làm phụ bếp, lấy tên là Văn Ba. Tháng 9, tới Marseille, gửi thư cho Tổng Thống Pháp, nói rõ mình là con quan, muốn xin học trường Thuộc Địa, rồi theo tàu về Le Havre. Bộ Thuộc địa từ chối vì trường này chỉ nhận người đã được tuyển chọn ở Đông Dương. Nguyễn làm việc nhà cho ông chủ tàu ở Sainte- Adresse, ngoại ô Le Havre độ một tháng, rồi lại tiếp tục lên tàu đi Phi Châu.

Từ 1912 tới mùa hè 1914, vẫn dùng tên Ba, tiếp tục làm bồi, phụ bếp, hoặc phu khuân vác trên những tàu xuyên Đại Tây Dương, chạy đường Le Havre – Londres – New York, hoặc Châu Phi – Châu Mỹ. Từ 1914-1919, bỏ việc trên tàu, sống tại Luân Đôn với tên Nguyễn Tất Thành, ở số 8 Tottenham Road. (Theo Hémery, trong thế chiến, Tất Thành tránh sang Pháp vì ngại có thể bị gọi đi quân dịch). Làm việc tại khách sạn Carlton, rửa bát, rồi phụ bếp. Học tiếng Anh và hình như buổi tối có học thêm Máy móc (Mécanique) và Điện. Trao đổi thư từ thường xuyên với Phan Châu Trinh, bằng Hán văn. Khoảng tháng 5-6/1919, sang Paris. Hoạt động trong Hội Người An Nam Yêu Nước.

Ngày 27/12/1920, khai mạc hội nghị Tours của đảng Xã hội (SFIO), Tất Thành xuất hiện với tên Nguyễn Ái Quốc.

Ngày13/6/1923, Nguyễn Ái Quốc bí mật đi Nga, tới Moscou ngày 30/6/1923.

Tháng 2/1925, Lý Thụy xuất hiện ở Quảng Đông -tình báo Trung Hoa nhận diện là Nguyễn Ái Quốc- Thành lập Việt nam Thanh niên Cách mệnh Đồng chí hội.

2- Nghi vấn thứ nhì: Trình độ học vấn

Theo năm sinh chính thức 1890, thì khi xuống tàu đi Pháp năm 1911, Tất Thành 21 tuổi.

Từ điển Văn học và các tiểu sử chính thức đều ghi: thủa nhỏ học chữ Hán rồi chữ quốc ngữ, sau vào Quốc Học Huế. Đầu năm 1911, bỏ học, vào Phan Thiết dạy ở trường Dục Thanh [trường đầu tiên của phong trào Duy Tân], ít lâu sau vào Sàigòn, rồi từ Sàigòn “xuất dương tìm đường cứu nước”.

Daniel Hémery viết: “Theo lời khai của của Đạt (anh cả của Thành) với Sở Mật thám năm 1920, thì Thành học trường bảo hộ (franco-indigène), dường như Đông Ba, đậu bằng Tiểu học (Certificat d’études primaires). Cả hai ghi tên vào trường Quốc học (…) nhưng Thành học dở dang, bỏ đi làm (khoảng 1909?), làm trợ giáo, lương 8 đồng một tháng, ở trường Dục Thanh tại Phan Thiết.” Daniel Hémery, Ho Chi Minh De L’Indochine au Viet Nam, Gallimard 1990, trang 32-33).

Hémery ghi rõ học trường Pháp-Việt và còn đậu cả bằng Certificat d’études primaires.

Nếu những chi tiết trên đây đúng, thì Nguyễn Tất Thành đi học đến năm 19 hoặc 21 tuổi, và nếu có cả Certificat d’études primaires tất phải biết tiếng Pháp.

Nhưng Trần Dân Tiên/Hồ Chí Minh lại đưa ra những chứng cớ trái ngược, như sau: Ở trên tàu Latouche-Tréville “mỗi ngày anh Ba phải làm từ 4 giờ sáng”, “công việc kéo dài suốt ngày”, “suốt ngày anh Ba đẫm nước, hơi và mồ hôi, mình đầy bụi than”, buổi tối có hai người lính giải ngũ, về Pháp, tốt bụng, “dạy cho anh đọc và viết” (TDT, trang 15-16-17)

Khi làm vườn cho ông chủ tàu ở Sainte-Adresse, thì “anh học tiếng Pháp với cô sen” (TDT, trang 20).

Không có lý gì mà Hồ Chí Minh viết sai về chuyện này, nhất là ông còn lập lại nhiều lần việc khi đến Pháp ông không thạo tiếng Pháp, không viết được tiếng Pháp, phải nhờ Phan Văn Trường viết hộ.

Vì vậy vấn đề học vấn của Nguyễn Tất Thành, phần chữ Hán là chắc chắn, vì cha là Phó bảng Nguyễn Sinh Huy, bạn học của Trần Quý Cáp, Phan Châu Trinh… Còn việc học ở các trường Đông Ba, Quốc học, dường như không lấy gì làm chắc lắm. Những lời khai của ông Đạt, năm 1920, với sở mật thám Pháp, mà Daniel Hémery chép lại, cần phải hiểu như thế nào? Đó là một nghi vấn.

3- Nghi vấn thứ ba: Nguyễn Tất Thành đến Paris năm nào?

a- Trong thời gian ở Luân Đôn, Nguyễn Tất Thành trao đổi thư từ thường xuyên với Phan Châu Trinh, gọi cụ Phan là Hy Mã nghi bá đại nhơn (Hy Mã là tên hiệu của Phan Châu Trinh, nghi bá là bác kính) và tự xưng là cuồng điệt Nguyễn Tất Thành (cuồng điệt là người cháu hăng say). Vì Phan Châu Trinh bị theo dõi rất kỹ, loạt thư này không qua mắt được mật thám, đó cũng là một trong những lý do xác định khoảng thời gian 1914-1918, Nguyễn Tất Thành sống ở Luân Đôn.

b- Mật báo tìm thấy thẻ thư viện mang tên Nguyễn Ái Quốc, ghi năm 1919. (Thu Trang, Rapport ký tên Jean, in trong phần Phụ lục cuốn Những hoạt động của Phan Châu Trinh tại Pháp 1911-1925, Đông Nam Á, Paris, 1983). Chứng này không đáng tin lắm, vì thẻ thư viện, cũng như thẻ sinh viên, nếu có, thì phải, hoặc đề đầy đủ họ và tên thật Nguyễn Tất Thành, hoặc chỉ đề họ Nguyễn, chứ không thể đề tên hiệu Nguyễn Ái Quốc. Vậy chứng này có thể do mật thám bịa ra để lấy điểm.

c- Hồ Chí Minh tuyên bố khác hẳn, dưới ngòi bút Trần Dân Tiên, ông viết:

Thế giới đại chiến bùng nổ. (….) Anh Ba đến nói với tôi: “Xin từ biệt anh Nam”
– Anh đi đâu?
Tôi đi Pháp (…)
Sau khi rời Luân Đôn, anh Ba viết thư cho tôi. Đại ý thế này:
“Tôi đã gặp nhà ái quốc Phan Châu Trinh. (…) Tôi cũng gặp luật sư Phan Văn Trường và những người khác. Tôi nói với họ: Trong khi vua Duy Tân nổi dậy ở Huế, nhân dân Thái Nguyên và nhiều nơi khác khởi nghiã, thì chúng ta phải làm gì chứ?” (TDT, trang 30-31)

Mâu thuẫn: Đại chiến thứ nhất bùng nổ năm 1914. Vua Duy Tân nổi dậy, 1916 và khởi nghiã Thái Nguyên, 1917. Vậy nếu Tất Thành sang Paris khi đại chiến bùng nổ (1914) thì làm sao đã biết được những biến cố xẩy ra năm 1916 và 1917?

Xin nói rõ hơn: Khi Nguyễn Tất Thành đến Pháp (sẽ được xác định vào tháng 6/1919), Hội Nghị Hoà Bình thế giới đã khai mạc từ ngày 18/1/1919 ở Versailles. Nguyễn Tất Thành được hội Người An Nam yêu nước chỉ định đem bản Thỉnh Nguyện Thư Của Người An Nam đến hội nghị này.

Vậy việc Trần Dân Tiên/Hồ Chí Minh viết ông đến Pháp năm 1914, chỉ với hậu ý muốn chứng minh rằng: chính mình đã dựng nên hội Người An Nam yêu nước, chính mình là tác giả những bài báo ký tên Nguyễn Ái Quấc/Quốc, chính mình chủ động đưa ra ý kiến về bản Thỉnh Nguyện thư ở Hội nghị Hoà Bình Versailles, năm 1919, và việc mình viết được những bài báo ký tên Nguyễn Ái Quốc là do đã ở Pháp từ 1914 và đã hết sức cố gắng học tiếng Pháp.

Và sau đây là những đoạn văn rất quan trọng của Trần Dân Tiên:

“Họ đến để yêu cầu độc lập và tự do. Trong số đó, người ta thấy có ông Nguyễn Ái Quốc (tức là anh Ba). (…) Ông Nguyễn tổ chức nhóm người Việt Nam Yêu Nước ở Pa-ri và ở các tỉnh Pháp. Với danh nghiã của tổ chức này, ông đã đưa những yêu cầu ra trước hội nghị Véc-Xây (…) Cũng nên nhắc lại ý kiến đưa yêu cầu do ông Nguyễn đề ra nhưng lại do luật sư Phan Văn Trường viết, vì lúc bấy giờ ông Nguyễn chưa viết được tiếng Pháp. Cũng nên nhắc lại là ông Phan Châu Trinh và ông Phan Văn Trường không tán thành hoạt động của nhóm Việt nam Yêu nước, vì các ông ấy cho nhóm thanh niên là trẻ con” (Trần Dân Tiên, trang 32).

Trong đoạn này, Hồ Chí Minh nhận vơ hai sự kiện: Ông Nguyễn tổ chức nhóm người Việt Nam Yêu Nước ở Pa-ri và ở các tỉnh Pháp. Với danh nghiã của tổ chức này, ông đã đưa những yêu cầu ra trước hội nghị Véc-Xây Thực ra, hội Người An Nam Yêu Nước, mà tiền thân là Hội Đồng Bào Thân Ái do Phan Văn Trường thành lập từ năm 1912, và với danh nghiã chủ tịch hội này, Phan Văn Trường viết bản Thỉnh Nguyện Thư, ký tên Nguyễn Ái Quấc, thay mặt nhóm Người An Nam yêu nước (văn bản in kèm ở dưới). Nhưng có một câu Hồ Chí Minh nói thật về bản Thỉnh Nguyện thư: luật sư Phan Văn Trường viết, vì lúc bấy giờ ông Nguyễn chưa viết được tiếng Pháp.

Tiếp đến, những đoạn sau này, cũng rất đáng lưu ý:

“Lúc ấy, ông Nguyễn là một người yêu nước quyết tâm hy sinh tất cả vì Tổ quốc; nhưng ông Nguyễn lúc đó rất ít hiểu về chính trị, không biết thế nào là Công hội, thế nào là bãi công và thế nào là chính đảng (TDT, trang 34).

Ông Nguyễn không đủ tiếng Pháp để viết và phải khẩn khoản yêu cầu ông Phan Văn Trường viết thay. Ông Trường viết giỏi, nhưng không muốn ký tên. Mà chính ông Nguyễn đã phải ký tên những bài báo.

Những đoạn này xác định thêm một lần nữa: Nguyễn Tất Thành không biết tiếng Pháp và cũng không hiểu gì về chính trị, nhưng ở những bản tiểu sử chính thức sau này sẽ bị xoá hẳn.

Trần Dân Tiên viết tiếp:

“Nhược điểm về tri thức làm ông Nguyễn rất khó chịu. Nhất là ông Trường không viết tất cả những điều ông Nguyễn muốn nói. Vì vậy, ông Nguyễn bắt tay vào việc học làm báo.

Thường lui tới toà báo “Dân Chúng”, ông làm quen với những người Pháp khác trong đó có chủ bút tờ “Đời sống thợ thuyền”. Cũng như ông Lông-ghê, người chủ bút này cũng rất đáng mến. Ông bảo ông Nguyễn viết tin tức cho tờ báo của ông. Biết rằng không thể nhờ ông Trường viết mãi, ông Nguyễn nói thật là mình cón kém tiếng Pháp. Người chủ bút nói: Điều đó không ngại, có thế nào anh viết thế ấy. Tôi sẽ chữa bài của anh trước khi đưa in. Anh không cần viết dài, năm, sáu dòng cũng được”. Ông Nguyễn bắt đầu viết rất khó khăn. Tin tức về Việt nam, ông Nguyễn không thiếu. Ông thiếu nhất là văn Pháp (…) Khi thấy viết đã bớt sai lầm, ông chủ bút bảo ông Nguyễn: “Bây giờ anh viết dài hơn một tý, viết độ bảy tám dòng”. Ông Nguyễn viết bảy, tám dòng.

Dần dần, ông Nguyễn có thể viết cả một cột báo và có khi dài hơn. Lúc bấy giờ người chủ bút bạn thân của ông Nguyễn khẽ bảo:”Bây giờ anh viết ngắn lại. Viết từng này hoặc từng này dòng. Không viết dài hơn.” (Trần Dân Tiên, trang 35- 36).

Những người dạy tiếng Pháp cho Nguyễn Tất Thành, ngoài Phan Văn Trường, còn có Nguyễn Thế Truyền và Nguyễn An Ninh nữa. Nhiều mật báo nói đến việc ngày nào Thành cũng gặp Truyền, có khi mấy tiếng đồng hồ. Nhưng Hồ Chí Minh chỉ nhắc đến Phan Văn Trường mà không nói đến hai người kia vì Nguyễn Thế Truyền sau này chống Cộng và Nguyễn An Ninh, vô chính phủ và thân với nhóm Đệ Tứ. Việc học tiếng Pháp để viết báo như thế trong vài năm chỉ có thể đưa đến kết quả: Nguyễn Tất Thành có thể viết được những hàng tin tức. Còn tác giả những bài báo ký tên Nguyễn Ái Quốc là một chuyện khác hẳn.

Tóm lại: Phần thành thật trong nhật ký Trần Dân Tiên/Hồ Chí Minh là ông công nhận lúc ở Pháp, ông chưa biết gì về chính trị, tiếng Pháp kém và muốn học để viết báo. Nhưng lại cũng lại có chỗ không thành thật: vì ông đã nâng thời điểm ông đến Pháp từ 1919 lên 1914, để chứng tỏ những việc làm của Phan Văn Trường là do ông làm.

Nguyễn Tất Thành lộ diện với cái tên Nguyễn Ái Quốc từ Hội nghị Tours (bắt đầu ngày 27/12/1920). Hémery viết “Nguyễn xoay sở để được mời đi dự Đại Hội đảng Xã hội ở Tours, nhân danh đại biểu khu 13 của nhóm Xã hội Đông dương ma (fantomatique). Ngày 27/12 anh phát biểu ủng hộ kiến nghị Cachin-Frossard, ủng hộ việc đảng Xã hội gia nhập Quốc Tế cộng sản” (Hémery, trang 46).

Về hội nghị Tours, Trần Dân Tiên viết: “ông Nguyễn lắng nghe nhưng không hiểu rõ lắm, vì người ta thường nhắc đi nhắc lại những tiếng, những câu: chủ nghiã tư bản, giai cấp vô sản, bóc lột, chủ nghiã xã hội, cách mạng (…) Ông Nguyễn nhức đầu vì khó hiểu” (TDT, trang 46-47). Tuy không hiểu rõ những bàn cãi chính trị trong hội nghị Tours, nhưng Nguyễn vẫn bỏ phiếu cho Đệ Tam quốc tế vì “Đệ Tam quốc tế nói sẽ giúp đỡ các dân tộc bị áp bức giành lại tự do và độc lập của họ” (TDT, trang 49). Đoạn này ông cũng viết thành thực, nhưng trong cuốn Hồng Hà và các tài liệu chính thức về sau, những đoạn thành thực như thế này sẽ bị bỏ hẳn, để thêm vào những trang dài nói là ông đã nghiên cứu kỹ lý thuyết Mác-Lê trước khi đi dự Hội nghị Tours.

4- Xác định ngày tháng Nguyễn Tất Thành đến Pháp

a- Về ngày đến Pháp của Nguyễn Tất Thành, Sophie Quinn-Judge trong cuốn The Missing years (Hồ Chí Minh, Những năm tháng chưa được biết đến, bản dịch của Diên Vỹ và Hoài An) viết như sau:

“Về vấn đề ngày tháng tới Paris của Quốc, có lẽ bằng chứng đáng tin cậy nhất chính là hồ sơ của cảnh sát Pháp ở đó ghi nhận anh đến Paris tháng 6 năm 1919 từ London. Thông tin trong hồ sơ cho biết Hồ đến Paris ngày 7/6/1919 từ London, ban đầu anh ở số 10 rue de Stockholm sau đó là số 56 rue M. Le Price [chắc là rue Monsieur Le Prince] và tiếp theo là số 6 Villa des Gobelins” (trích theo tài liệu trên Internet).

Chứng cớ này phù hợp với thực tế. Nhưng những địa chỉ 10 rue de Stockholm 56 rue M. Le Prince không thấy Trần Dân Tiên ghi lại trong hồi ký, có lẽ vì ông chỉ ở đấy vài ngày.

b- Việc Trần Dân Tiên ghi Tất Thành sang Pháp năm 1914, quá khó tin; cho nên khi viết cuốn Thời thanh niên của bác Hồ (nxb Thanh Niên, 1976), Hồng Hà được lệnh sửa lại như sau:

“Anh bỏ nghề phụ bếp ở Luân Đôn, sang Pháp, đấy là vào cuối năm 1917 (Hồng Hà, trang 38)

Vừa tới Pa-ri, anh Nguyễn Ái Quốc đến ở nhà số 6 phố Vi-la đề Gô-bơ-lanh [6 villa des Gobelins], một phố yên tĩnh của quận 13. Đây là nhà của luật sư Phan Văn Trường. Cùng ở có cụ Phan Châu Trinh mà anh Nguyễn Ái Quốc có thư từ thăm hỏi luôn khi anh còn ở Luân Đôn. Ông Trường nhường cho anh một buồng con trên gác ba, vừa đủ kê một cái bàn, một cái giường và một cái tủ con. Dạo ấy, nhà số 6 phố Vi-la đề Gô-bơ-lanh là một trung tâm gặp gỡ của nhiều Việt kiều ở Pa-ri. Có khi bà con đến chơi ăn ở liền mấy ngày (…) Cụ [Phan Châu Trinh] làm nghề ảnh tư ngay tại nhà số 6. Để sống, anh Nguyễn – cả người Việt lẫn người Pháp quen gọi anh Nguyễn Ái Quốc như thế – cùng với một kiều bào khác là Tuyết giúp việc cho cụ Phan đồng thời học nghề rửa ảnh và phóng đại ảnh.

Cụ Phan là một nhà yêu nước chân thành, nổi tiếng ở Việt Nam và nước ngoài. Cụ hơn anh Nguyễn 19 tuổi, Còn ông Trường vốn là thông ngôn, học đến tiến sĩ luật học, làm nghề luật sư ở Pa-ri. Ông giỏi tiếng Pháp, vào quốc tịch Pháp, có nghiên cứu chủ nghiã Mác, quen biết nhiều trí thức và nhà chính trị Pháp. Điều mà anh Nguyễn băn khoăn hỏi hai người lúc đó làm gì cho đất nước trong khi đồng bào khao khát cách mạng thì không được trả lời thoả đáng, rõ ràng.

Anh Nguyễn vừa làm nghề rửa ảnh vừa chăm chỉ học thêm tiếng Pháp với ông Trường” (Hồng Hà, trang 19).

Trích đoạn này cho một số thông tin đáng lưu ý. Đặc biệt câu: Vừa tới Pa-ri, anh Nguyễn Ái Quốc đến ở nhà số 6 phố Vi-la đề Gô-bơ-lanh [6 villa des Gobelins].

Chính câu này đã xác định, một lần nữa, ngày tháng Nguyễn Tất Thành đến Paris:

Bởi vì căn nhà số 6 villa des Gobelins chỉ có sau khi Phan Văn Trường giải ngũ, tức là từ tháng 4/1919, ông về sống tại Paris, như ông đã ghi trong cuốn hồi ký Une histoire de conspirateurs annamites à Paris ou la vérité sur L’Indochine [Chuyện những người An Nam âm mưu ở Paris hay Sự thật về Đông Dương), L’Insomniaque, 2003]. Khoảng 1913-1914, Phan Văn Trường ở Rue Bertholet. 1914-1915 ông đi tù. Và sau khi ra tù, ông làm việc trong Công Binh Xưởng ở Toulouse. Tóm lại, nếu Nguyễn Tất Thành đến Paris ở ngay nhà Phan Văn Trường, thì chỉ có thể là sau tháng 4/1919, thời điểm Phan Văn Trường giải ngũ, lên Paris và trước khi Nguyễn Tất Thành đem bản Thỉnh nguyện đến Versailles, giữa tháng 6/1919.

Vậy có thể xác định chắc chắn rằng: Nguyễn Tất Thành đến Pháp trong tháng 5 hoặc tháng 6 năm 1919. Kết hợp với khám phá của Sophie Quinn-Judge tìm thấy trong hồ sơ cảnh sát Pháp Hồ đến Paris ngày 7/6/1919 từ London. Tất cả đều ăn khớp.

Nguyễn Tất Thành ở nhà số 6 villa des Gobelins của Phan Văn Trường hai năm, từ tháng 6/1919 đến ngày 14/7/1921, Tất Thành dọn tới số 9, Impasse Compoint, khu 17 (Hémery, trang 48). Đây là khu phố nghèo dành cho thợ thuyền, Tất Thành tiếp tục nghề ảnh ở một cửa hiệu gần nhà. Ngày 14/3/1923, Tất Thành dọn về trụ sở báo Le Paria (Người cùng khổ), số 3 phố Marché des Patriaches (Hồng Hà, trang 187).

Khi đã xác định được đúng thời gian Nguyễn Tất Thành ở Pháp. Chúng ta có thể đi sâu hơn nữa vào tổ chức Việt kiều, vào sự phát sinh cái tên Nguyễn Ái Quấc/Quốc và những công trình Hồ Chí Minh nhận là của ông nhưng lúc đó ông chưa có mặt tại Paris.

Hội Đồng Bào Thân Ái (La Fraternité des Compatriotes)

Phan Văn Trường viết:

“Một ngày trong năm 1912, sau khi đưa đám một thiếu niên An Nam, học sinh trường Parangon [trường Nguyễn Thế Truyền học], một số đồng bào đưa ra ý kiến lập hội Ái hữu Sinh viên An Nam tại Pháp (Association amicale des étudiants annamites en France). Họ đề nghị tôi nghiên cứu dự trình để thực hiện càng sớm càng tốt. Tôi trả lời ngay: “Làm thì dễ, Pháp có luật 1/7/1901, tự do lập hội. Nhưng luật không chưa đủ, còn phải tính đến chính sách thuộc địa nữa. Các bạn nên biết, nếu ta lập hội mà không có phép, chính quyền thuộc địa sẽ tìm cách dẹp ngay.” [Phan Văn Trường, hồi ký Une histoire de conspirateurs annamites à Paris ou la vérité sur L’Indochine (Chuyện những người An Nam âm mưu ở Paris hay Sự thật về Đông Dương), L’Insomniaque, 2003, trang 87]. Tuy nói vậy, nhưng ông cũng làm:

“Tôi bắt tay vào việc. Viết bản nội quy và thảo một chương trình [hành động] dài. Hội được thành lập trong sự hoan hỉ của đồng bào đã giao phó trách nhiệm cho tôi. Tôi yêu mến đặt tên nó là Thân Ái (La Fraternité). Hội có mục đích:

1- Giúp sinh viên Đông Dương xa gia đình có cơ hội gặp gỡ, kết bạn, đến chơi và giúp đỡ nhau trong trường hợp rủi ro, bệnh hoạn.

2- Học chung với nhau để trao đổi kiến thức khoa học và văn chương.

Hội Thân Ái mỗi tháng tổ chức nhiều cuộc hội họp, và diễn thuyết.” (Hồi ký PVT, chương 13, trang 87-88).

Qua sinh hoạt của hội, Phan Văn Trường gặp Phan Châu Trinh năm 1912, ông viết: “Tôi chưa bao giờ gặp ông [Phan Châu Trinh] ở trong nước. Tôi quen biết ông tại Paris năm 1912″ (trang 68) và ông xác nhận chính mình là người lập hội và đặt tên là Thân Ái dù ông không ghi rõ ngày tháng sự việc này.

Sau này, người ta thường viết Phan Châu Trinh và Phan Văn Trường lập hội là không đúng. Người lập hội là Phan Văn Trường. Và ông là chủ tịch.

Hội Đồng Bào Thân Ái là tế bào đầu tiên của người Việt yêu nước tại Pháp.

Phan Văn Trường và Phan Châu Trinh, trở thành hai nhà lãnh đạo của phong trào Việt kiều yêu nước tại Pháp. Vì hoạt động của hội, mà Phan Văn Trường và Phan Châu Trinh bị bắt năm 1914. Hội Đồng Bào Thân Ái phải ngưng hoạt động. Phan Văn Trường viết:

“Hội hoạt động công khai không mờ ám. Chúng tôi cũng biết là có mật thám trà trộn trong đám hội viên, nhưng không sao, càng tỏ cho họ thấy là hội của chúng tôi theo đuổi những mục đích hoàn toàn hợp pháp và đáng khuyến khích. (…) Bọn mờ ám vẫn rình rập, với thế lực trong chính quyền thực dân, thế nào họ cũng phá. Hội của chúng tôi bị tẩy chay, họ phao tin hội này là ổ cách mạng, gián tiếp cảnh cáo hội viên nếu cứ cứng đầu không chịu bỏ thì có ngày sẽ phải hối hận”. (Hồi ký PVT, trang 89).

Theo mật báo thì Hội Đồng Bào Thân Ái phải giải tán vào năm 1916 (Thu Trang, Những hoạt động của Phan Châu Trinh tại Pháp, Đông Nam Á, 1983, trang 43). Tuy nhiên thông tin này chưa chắc đã đúng. Có thể hội phải giải tán sớm hơn, từ khi hai vị thủ lĩnh bị bắt tháng 9/1914.

Hội Người An Nam Yêu Nước (Le Groupe des Patriotes Annamites) ra đời.

Sự xuất hiện bút hiệu Nguyễn Ái Quấc.

Về mặt chính thức, Hội Người An Nam Yêu Nước thành lập sau thế chiến, tức là sau khi Phan Văn Trường giải ngũ trở về Paris vào tháng 4/1919. Căn nhà 6 villa des Gobelins, quận 13, của ông trở thành trụ sở của hội, theo mật báo Pháp.

Nhưng về mặt không chính thức, có thể hội đã hình thành rất sớm, do Phan Văn Trường và Nguyễn Thế Truyền thành lập tại Toulouse. Phan Văn Trường, sớm để ý đến Nguyễn Thế Truyền (năm 1910, lúc 12 tuổi đã được sang Pháp du học) khi còn là học sinh trường Parangon. Hai người sau này lại cùng sống ở Toulouse từ 1916 đến 1919: Phan Văn Trường, tại ngũ, làm thông ngôn cho lính thợ và Nguyễn Thế Truyền, sinh viên, học kỹ sư.

Một mật báo cho biết:

“Hội những người An Nam yêu nước đã được thành lập từ nhiều năm nay do hai nhà cách mạng chống Pháp là Phan Văn Trường và Phan Châu Trinh. Đó là một nhóm hoạt động rất tích cực.

Trong suốt thời kỳ chiến tranh (1914-1918), trụ sở Hội này là nơi hẹn của rất nhiều binh lính An Nam và hạ sĩ quan cùng sĩ quan có cấp bực. Từ hồi hai người trên, Phan Văn Trường và Phan Châu Trinh, bị bắt vì tội chống an ninh quốc gia vào năm 1915, tuy Phan Văn Trường và Phan Châu Trinh vẫn giữ vai trò lãnh đạo Hội một cách không chính thức, nhưng thực tế thì đã chính là do Nguyễn Ái Quốc” (Thu Trang, Những hoạt động của Phan Châu Trinh tại Pháp 1911-1925, Đông Nam Á, Paris, 1983, trang 44).

Tóm lại, Phan Văn Trường và Phan Châu Trinh vẫn bị theo dõi gắt gao sau khi ra tù. Mật thám chưa để ý đến tên Nguyễn Thế Truyền, lúc đó còn là sinh viên, nhưng đã đưa ra cái tên Nguyễn Ái Quốc. Mật báo này rất quan trọng, vì nó cho biết:

1Cái tên Nguyễn Ái Quấc/Quốc đã xuất hiện trong khoảng 1914-1918, ít nhất là từ 1918. Tức là trước khi Nguyễn Tất Thành sang Paris rất lâu (Tất Thành sang Paris tháng 6/1919, như trên đã nói ở trên).

2– Hội Người An Nam Yêu Nước được thành lập trong khoảng 1914-1918. Như vậy, chỉ có thể ở Toulouse, nơi Phan Văn Trường và Nguyễn Thế Truyền sống từ 1916 đến 1919. Trong thời gian này Phan Văn Trường bị buộc tội xúi giục binh lính An Nam làm loạn, viết đơn xin giải ngũ. (Sẽ nói đến sau)

3– Ba người bạn thân của Nguyễn An Ninh, viết về Nguyễn An Ninh đầy đủ nhất, là Lê Văn Thử tác giả Hội kín Nguyễn An Ninh (Nam Việt, 1949), Phương Lan Bùi Thế Mỹ, tác giả Nhà cách mạng Nguyễn An Ninh 1899-1943 (Thúy Phương, Sàigòn, 1970) và Hồ Hữu Tường, tác giả 41 năm làm báo (Đông Nam Á, Paris, 1984), đều ghi nhận Nguyễn An Ninh sang Pháp lần đầu năm 1918.

Vậy cái tên Nguyễn Ái Quấc, Quấc chứ không phải Quốc, có từ năm 1918, phải là dấu ấn của Nguyễn An Ninh. Ninh người Nam, chỉ có người Nam, theo Huỳnh Tịnh Của, mới viết Quấc. Phan Văn Trường và Nguyễn Thế Truyền người Bắc, không viết như thế. Hai tên Quấc và Quốc cùng được sử dụng, sau này Nguyễn Thế Truyền chỉ dùng tên Quốc.

4– Bộ Thuộc địa bắt đầu theo dõi Nguyễn Ái Quốc vào khoảng tháng 10/1919. Báo cáo của Jean (tên của một người Việt làm mật thám cho Tây), tháng 10/1919, có đoạn sau:

“1- Ông Guesde nói phải, có Nguyễn Ái Quốc tên thật là Nguyễn Văn Quốc, người Sàigòn, học ở bên này đã lâu lắm. Song chưa biết tên ấy ở đâu – Phải quen Phan Văn Chường thời mới biết tên ấy được.

2- Xin ông làm ơn hỏi Sureté [An ninh] Paris xem Chường có ở Paris bây giờ không, hay là đi voyage như lời sergent interp [ông đội thông ngôn]. Khương nói và cho tôi chỗ hắn ở (số nhà và phố)” (Thu Trang, sđd, trang 54)

Theo báo cáo này, người mật thám tên là Jean, đến tháng 10/1919, vẫn chưa xác định được nhân dạng Nguyễn Ái Quốc, lúc thì coi Nguyễn Ái Quốc là Nguyễn An Ninh (người Sàigòn), khi thì coi Nguyễn Ái Quốc là Nguyễn Thế Truyền (học ở bên này đã lâu lắm), và chưa biết địa chỉ của Hội người An Nam yêu nước là nhà Phan Văn Trường, số 6 villa des Gobelins.

5- Về hoạt động của nhóm này, Daniel Hémery viết:

Từ mùa thu năm 1919, Nhóm Những Người Yêu Nước có cột viết trên các báo Le Popupaire (Người bình dân), L’Humanité (Nhân loại), Le Libertaire (Người tự do tuyệt đối), báo của CGT, La vie ouvrière (Đời sống thợ thuyền) và Le Peuple (Dân chúng). Họ diễn thuyết, tổ chức những buổi họp mặt công cộng, với chủ đích bảo vệ quyền lợi Đông Dương trong nền văn chương chống thực dân theo cách của những nhà văn Indonésia (Nam Dương) hay Ấn độ. Cuối năm 1919, Nguyễn Ái Quốc, theo lời khuyên của Paul Vigné d’Octon là người hết sức chống chế độ thuộc địa, làm việc ráo riết tại thư viện Quốc gia, sửa soạn ra cuốn sách Les Opprimés (Những kẻ bị đàn áp), có thể là sơ thảo văn bản tương lai Procès de la Colonisation (Bản án Chế độ thực dân) và nghiền ngẫm dự định dịch các tác phẩm tây phương, như L’Esprit des lois (Vạn pháp tinh lý) sang Quốc ngữ.” (Hémery, trang 45)

Câu này xác định hoạt động của nhóm Ngũ Long trên báo chí và diễn thuyết. Nhưng vì dùng những tài liệu sai của mật thám, cho nên Hémery đã hoàn toàn nhầm lẫn Nguyễn An Ninh với Nguyễn Tất Thành:

Trong các bài viết hoặc diễn thuyết của mình, Nguyễn An Ninh thường nhắc đến kinh nghiệm cần học hỏi của Ấn Độ, Nam Dương. Theo Lê Văn Thử, Phương Lan Bùi Thế Mỹ và Hồ Hữu Tường, Ninh thời ấy để tóc dài, kiểu “hyppy”, làm “người mẫu” kiếm tiền học, chơi thân với Paul Vigné d’Octon và nhóm anarchiste (vô chính phủ), cộng tác với báo Le Libertaire (Người tự do tuyệt đối) của nhóm này. Mỗi cuối tuần, Ninh ra ngoại ô Paris, vào rừng tập nói, để diễn thuyết cho hùng hồn. Đó là Nguyễn An Ninh những năm 1918-1920 ở Pháp. Theo Phạm Quỳnh, trong Pháp du hành trình nhật ký, thập niên 1920, ở Pháp, diễn thuyết là một cái mốt, hầu như cuộc hội họp nào cũng có diễn thuyết.

Nguyễn An Ninh còn viết cuốn La France en Indochine (Nước Pháp ở Đông Dương) chống Pháp mãnh liệt, in năm 1924, mang về Việt nam trong chuyến đi với Phan Châu Trinh, cuốn sách này đã bị tịch thu (nhưng có thể đọc bài La France et L’indochine đăng trên Europe số 31, ra ngày 15/7/1925 là thấy rõ nội dung). Ninh dịch Contrat social (Dân ước) của Rousseau và chắc có ý dịch cả L’Esprit des lois (Vạn pháp tinh lý) của Montesquieu nữa.

Vậy hình ảnh một thanh niên tên Nguyễn, chơi thân với nhóm anarchiste, diễn thuyết hùng hồn, viết hết sách này đến sách khác, vào khoảng cuối 1919 đầu 1920, mà mật thám Jean mô tả, và Hémery chép lại trên đây, chỉ có thể là Nguyễn An Ninh; vì Nguyễn Tất Thành, đến tháng 6/1919, mới sang Pháp, đang học tiếng Pháp, làm sao cuối năm 1919, đầu năm 1920, đã có thể “đăng đàn diễn thuyết”, viết sách, và dịch sách của Montesquieu được?

6– Một mật báo khác:

“Vào những năm 1920-1921, Hội những người An Nam yêu nước” đặt trụ sở tại số 6 villa des Gobelins. Số người lãnh đạo của Hội này, đã từng làm công việc tuyên truyền chống Pháp một cách rất mạnh nói chung, và đặc biệt chống ông Sarraut (toàn quyền Đông Dương) nói riêng. Những người này cho là ông ta đã gây nên nhiều nỗi đau khổ tại nước họ.

Tháng 10/năm 1921, Phan Văn Trường, Nguyễn Ái Quốc, Khánh Ký, Lê Văn Thuyết và Hai Tân đã quyết định đề nghị ám sát ông Sarraut (…) Nhưng nhờ sự can thiệp của Phan Châu Trinh mà dự án này không đem ra thi hành” (Thu Trang, trang 45)

Những thông tin trong đoạn đầu mật báo khá đúng. Còn việc Phan Văn Trường định ám sát Sarraut là sai. Phan Văn Trường là người thận trọng, ghét bạo lực, hành động công khai, ông đối lập với Sarraut bằng luật pháp và ngòi bút. Nguyễn Thế Truyền sôi nổi và nóng nẩy hơn trong những bài đả kích Albert Sarraut.

Ai là tác giả những bài báo ký tên Nguyễn Ái Quấc/Quốc?

Trong thư ngày 27/3/23, cụ thân sinh ra ông Nguyễn Thế Truyền khuyên con:“chớ bắt chước Nguyễn Ái Quốc làm báo nói lăng nhăng, chớ chơi với Nguyễn Ái Quốc” (Đặng Hữu Thụ, Thân thế và sự nghiệp nhà cách mạng Nguyễn Thế Truyền (tác giả xuất bản, Paris, 1993) trang19). Như thế, cái tên Nguyễn Ái Quốc, tuy là tên chung, tên ma, nhưng đã thành tên riêng của một người: Nguyễn Tất Thành. Và sự bí mật về việc ai viết những bài ký tên Nguyễn Ái Quốc gần như toàn diện, đến cả cụ thân sinh ra Nguyễn Thế Truyền cũng không biết con mình viết bài ký tên Nguyễn Ái Quốc! Sự bí mật này trở thành chiến lược của nhóm Ngũ Long, chúng tôi sẽ trở lại trong bài phân tích văn bản Nguyễn Ái Quốc. Nhờ cuốn sách của Đặng Hữu Thụ, mà chúng ta biết rõ những hoạt động của Nguyễn Thế Truyền và các bạn đồng hành tại Pháp.

Hồ Chí Minh hiển nhiên nhận mình là Nguyễn Ái Quốc tác giả các bài báo. Nhưng nhiều dữ kiện chứng minh ngược lại.

1- Chính quyền Pháp: Không tin Nguyễn Tất Thành là Nguyễn Ái Quốc

– Trong thư gửi cho Toàn Quyền Đông Dương ngày 12/9/1923 (sau khi Nguyễn Tất Thành sang Nga), Tổng Thanh Tra quân đội Đông Dương và người Đông Dương viết:

“Les articles publiés sous le nom de Nguyễn Ái Quốc ne sont pas de lui ou ont été tout au moins l’objet des plus sérieures retouches. Cet annamite parle et écrit insuffisament le français pour rédiger tout ce qui paraît sous son nom” (Những bài ký tên Nguyễn Ái Quốc không phải do y viết hoặc đã được sửa chữa rất nhiều. Khả năng nói và viết tiếng Pháp của tay An Nam này không đủ để viết những bài y ký tên) [(Contrôleur général des troupes indochinois et des Indochinois à Gouverneur général de L’Indochine le 12/9/1923) (Slotfom Série I, Carton II – Đặng Hữu Thụ, trang124)]

– Về phía mật thám Pháp, cũng có thông tin tương tự: “Về những bài báo, có một vài mật thám đã ghi là do chính Phan Văn Trường viết và ký tên Nguyễn Ái Quốc” (Thu Trang, trang 95)

2- Những ai biết tiếng Pháp và đọc những văn bản này, đều thấy một sự thực hiển nhiên: Một người mới học tiếng Pháp như Nguyễn Tất Thành không thể viết những bài báo ký tên Nguyễn Ái Quốc. Hoàng Xuân Hãn viết: “bí danh này có thể là tên tượng trưng của tất cả người Việt (Nguyễn là họ thông thường của nhiều người Việt, chứ không phải chỉ là họ của Tất Thành). Nguyễn yêu nước, ba chữ ấy ứng vào tiếng Pháp: Groupes des patriotes Annamites thấy ký ở dưới truyền đơn: Bản yêu cầu tám điểm. Có lẽ một mặt vì họ Nguyễn mà mật thám coi đó là tên của Nguyễn Tất Thành. Rồi sau Nguyễn Tất Thành cũng mang tên ấy một thời gian mà thôi” (Thu Trang, trang 114). Những điều này giáo sư Hoàng Xuân Hãn viết khi còn giả thuyết Nguyễn Tất Thành sang Pháp từ năm 1917.

3- Tác giả bản Thỉnh nguyện thư gửi Hội nghị Hoà bình năm 1919:

– Mật thám ghi:“Bản yêu cầu gửi cho Hội Nghị Hoà bình là do Phan Văn Trường viết. Những điểm yêu sách đã do Phan Châu Trinh dịch sang chữ An Nam” (Thu Trang, 104)

– Hoàng Xuân Hãn cho rằng: Phan Châu Trinh viết phần Hán văn, Phan Văn Trường dịch ra Pháp văn, Nguyễn Tất Thành làm bài lục bát Việt nam yêu cầu ca. (Thu Trang, trang 9).

– Nhưng qua văn bản, chúng tôi có thể xác định: Phan Văn Trường viết thẳng phần tiếng Pháp, Phan Châu Trinh dịch sang Hán Văn. Nguyễn Tất Thành làm bài thơ (đúng hơn là vè). Bài này, Thu Trang chụp được bản chép tay, cho thấy Tất Thành làm thơ dở và trình độ quốc ngữ còn kém. (Xin xem toàn thể văn bản ở phần phụ lục). Sở dĩ chúng tôi xác định Phan Văn Trường viết vì những lý do sau:

– Phan Văn Trường đã có buổi diễn thuyết với đề tài Les revendications indigènes (Những thỉnh nguyện của người bản xứ) tháng 3/1914 ở trường Cao Đẳng Xã Hội.

– Lời văn trong bản thỉnh nguyện 1919 phù hợp với lối viết của Phan Văn Trường: Kín đáo, kiêu kỳ, châm biếm. Trong khi văn Phan Châu Trinh là lối trực bút, không châm biếm, không có ẩn nghĩa. Tây Hồ khi viết về Tây phương thường có giọng khiêm tốn trong khi Phan Văn Trường có niềm kiêu hãnh của người Phương đông.

Sự so sánh văn bản này dựa trên đoạn đầuđoạn cuối của bản thỉnh nguyện, hai đoạn văn ngắn và cô đọng chứng tỏ văn tài của tác giả: vừa khiêm tốn đòi hỏi chủ quyền, lại vừa kẻ cả, tự xưng nước mình là một Đế quốc lâu đời, ngầm ý mắng bọn thực dân là mọi rợ, cướp nước. Tác giả tìm cách thu phục lòng người Pháp dân chủ tiến bộ, kích động niềm tự hào dân tộc của họ, để họ thấy xấu hổ mà bãi bõ chế độ thuộc địa tàn ác, không xứng đáng với truyền thống dân chủ của họ. Cách vận động này, trong bức thư ngỏ gửi Nguyễn Ái Quốc năm 1922, Phan Châu Trinh gọi là “cái dụng lý thuyết thâu nhân tâm của Phan”, mà Tây Hồ không đồng ý.

4- Hồ Hữu Tường là người đầu tiên “tiết lộ bí mật” về nhóm Ngũ Long, những lời ông viết dưới đây có vài chi tiết sai trong đoạn đầu, nhưng đại thể là đúng: “Khi ra rù, hai cụ được Nguyễn Thế Truyền, học xong ở Toulouse lên hiệp tác. Đầu tháng bẩy cụ Tây Hồ móc nối được với Nguyễn Tất Thành, lúc đó ở London, nên viết thơ gọi về Paris. (…), Đến 1918, nhóm nầy lại được Nguyễn An Ninh ở Sài gòn sang nhập bọn.

Người ngoài cho đó là năm con Rồng, bởi người Việt xưng mình là “con Rồng”. Linh hồn của nhóm “Ngũ long” nầy là cụ Phan Châu Trinh.

Và khi chường ra công chúng, nhứt là khi viết báo chống thực dân, thì ý kiến thường do cụ Tây Hồ xướng ra, Nguyễn Thế Truyền, Phan Văn Trường và Nguyễn An Ninh thảo thành tiếng Pháp, và giao cho Tất Thành đem giao cho nhà báo với một bút hiệu chung.

Về cái bút hiệu nầy, có một giai thoại kể ra cũng buồn cười. Lúc ban đầu, các cụ chọn bút hiệu là Nguyễn Ố Pháp. Nghiã là thằng Nguyễn ghét người Pháp. Tên nầy được độc giả Pháp hoan nghinh lắm, vì giọng nói dí dỏm của người Việt nam, lại thêm câu văn của Ninh và Truyền gọt giũa nên có duyên. Độc giả gởi thơ đến nhà báo hỏi Nguyễn Ố Pháp là ai và tên ấy có nghiã gì? Các cụ buộc lòng phải dịch cho ngay tình. Các bạn Pháp phản đối cái tên cực đoan dễ ghét, mà tiếng Pháp gọi là sô vanh (chauvin), và đề nghị đổi đi. Từ đó bút hiệu Nguyễn Ố Pháp bị đổi là Nguyễn Ái Quốc. Về sau bốn vị kia tách ra, tên Nguyễn Ái Quốc còn lại riêng cho Hồ Chí Minh”. (Hồ Hữu Tường, 41 năm làm báo, Đông Nam Á, Paris, 1984, trang 18-19). Những điều Hồ Hữu Tường viết trên đây, theo lời kể của Phan Văn Trường, khi Hồ gặp cụ Trường ở Paris năm 1930, sau khi cụ ra tù lần thứ nhì, và sắp lên đường về nước.

Hồ Hữu Tường kể tiếp một giai thoại khác:

Bộ trưởng Thuộc địa tống trát đòi “Nguyễn Ái Quốc đến cấp tốc tại Bộ thuộc địa gặp ông bộ trưởng”, nhưng lại đem trát giao tận nhà Phan Châu Trinh. Cụ Tây Hồ gọi Tất Thành đến giao tờ trát, Tất Thành cầm trát đến gặp ông bộ trưởng Pháp và câu đầu nói xỏ rằng “Nguyễn Ái Quốc là tôi. May mà trát gởi đến nhà chú tôi là Phan Châu Trinh, nên được chú tôi đưa lại. Không thì lạc mất rồi! (…) Ngày ấy, cụ Tây Hồ xỏ Tây tế nhị xong, xuống chợ Mouffetard mua lòng lợn về mời đủ năm Rồng xơi một tiệc “khải hoàn”. (Trang 19-20).

Hồ Hữu Tường viết tiếp về chương trình Ngũ Long về nước hoạt động:

“Theo lời cụ Phan Văn Trường thuật lại, thì năm 1922, khi Nguyễn An Ninh sắp sửa về nhà mà sáng lập tờ báo La Cloche fêlée, thì cụ Phan Châu Trinh có đưa ra một phân công, gọi là “ngũ long tề khởi”. Tại quê nhà, bầu không khí thực dân và phong kiến còn quá nặng, Ninh lãnh sứ mạng đem tư tưởng dân quyền của Pháp ra mà “dĩ di diệt di”. Nên chi báo của Ninh nêu lên đường lối là “cơ quan tuyên truyền cho tư tưởng Pháp” (organe de propagande des idées françaises). Nguyễn Tất Thành và Nguyễn Thế Truyền thì tựa vào đảng xã hội, sau biến thành đảng cộng sản, nhưng Thành thì thiên tả mà đi vào lao động, Truyền thì đứng trên lập trường “quốc gia mượn thế lực cộng sản để mưu đồ sự giải phóng dân tộc”.

Còn hai cụ Phan thì chờ Ninh xung phong, dọn dẹp chông gai bên nhà, hai cụ sẽ về góp sức mà tiến lên gây một phong trào dân chủ. Nhưng mà theo kế hoạch nầy, phân ra thì có, mà tụ lại thì chưa. Năm 1925, quả Ninh có rước hai cụ Phan về xứ. Nhưng sang năm 1926, cụ Tây Hồ lìa trần, Ninh lo tổ chức quần chúng, giao cho cụ Trường đứng mũi chịu sào tờ L’Annam. Rồi Ninh vào tù, cụ Trường ba chìm bẩy nổi, bị án tù, sang Paris chịu vào khám. Còn Tất Thành mang tên chung là Nguyễn Ái Quốc, theo cộng sản luôn, một đi không trở lại.

Nguyễn Thế Truyền vào đảng cộng sản Pháp, mượn phương tiện mà thành lập Việt Nam Hồn, sau đổi lại là Hồn Việt nam, rồi Phục Quốc… ” (HHT, sđd, trang 24-25).

5- Về bản Le Procès de la colonisation française (Bản án chế đô thực dân Pháp)

Tên tác giả là Nguyễn Ái Quốc. Nguyễn Thế Truyền viết tựa. Nhưng thực ra ai viết?

a- Ngô Văn viết:

“Sau khi Phan Châu Trinh khởi hành về Sàigòn, vào tháng 5 năm 1925 một luận văn châm biếm nẩy lửa do Thư điếm Lao động (Librairie du Travail) phát hành và lập tức bị cấm ở Đông Dương. Đó là tập Bản án chế độ thực dân Pháp (Procès de la colonisation française) ký tên Nguyễn Ái Quốc, nhưng có thể là do Phan Văn Trường và Nguyễn Thế Truyền viết” (Ngô Văn, Việt Nam 1920-1945 Cách mạng và phản cách mạng thời đô hộ thực dân, Chuông rè/L’Insomniaque, Paris, 2000, trang 42).

b- Đặng Hữu Thụ có nhắc đến một giai thoại: Ông Bửi Nghi, bạn của tác giả, kể cho ông biết: Nguyễn Thế Truyền có đưa bản thảo cuốn Bản án chế độ thực dân cho ông Bửu Nghi đọc, nhờ chữa lỗi chính tả, và nói là của Nguyễn Ái Quốc viết. (ĐHT trang 123). Chứng này, nếu có thật, cũng chẳng nói lên được điều gì, vì cả nhóm Ngũ Long đã đồng ý với nhau rằng Nguyễn Ái Quốc là tác giả chính thức các văn bản, như lời Hồ Hữu Tường viết ở trên: Nguyễn Thế Truyền, Phan Văn Trường và Nguyễn An Ninh thảo thành tiếng Pháp, và giao cho Tất Thành đem giao cho nhà báo với một bút hiệu chung. Đó là chiến lược chung của cả nhóm.

c- Trần Dân Tiên chỉ viết một câu ngắn gọn về văn bản này:

“Ông Nguyễn chỉ viết một quyển sách duy nhất là quyển: “Bản án chế độ thực dân Pháp”; quyển này gồm những tài liệu chống thực dân Pháp, trích trong những sách của người Pháp viết để ở thư viện quốc gia. Đầy hăng hái, ông Nguyễn viết cả vở kịch “Rồng tre”. (Trần Dân Tiên, trang 37).

Tại sao Hồ Chí Minh không nói rõ là ông đã viết cuốn Le Procès trong hoàn cảnh nào? Nhất là cuốn sách lại in sau khi ông đi Nga hai năm. Lý do dễ hiểu: có lẽ Hồ Chí Minh chưa đọc Le Procès khi ông viết những dòng này năm 1947, cho nên ông mới viết câu: “quyển này gồm những tài liệu chống thực dân Pháp, trích trong những sách của người Pháp viết để ở thư viện quốc gia”.

d- Chúng tôi tạm đưa ra giả thuyết: Nguyễn Tất Thành không đủ khả năng tiếng Pháp để viết tác phẩm này. Có thể Nguyễn Thế Truyền đã tập hợp những bài báo ký tên Nguyễn Ái Quốc/Quốc, sửa đổi rồi viết tựa. Một tài liệu phong phú và cực kỳ chi tiết về sự tàn ác của chế độ thực dân trên các nước nhược tiểu, viết với lối văn trực tiếp, đả kích mạnh mẽ, không thâm trầm kín đáo như văn Phan Văn Trường, vậy tác giả có lẽ là Nguyễn An Ninh và Nguyễn Thế Truyền. Tuy nhiên cần phải khảo sát văn bản các bài báo ký tên Nguyễn Ái Quấc/Quốc và so sánh với cuốn Bản Án Chế độ thực dân, mới có thể xác định được.

e- Vở kịch Rồng tre (le dragon de bambou) không biết ai viết (Nguyễn Thế Truyền hay Nguyễn An Ninh?), nhưng chắc chắn không phải Tất Thành, vì chữ Rồng ở đây có ý tự trào, ngạo nghễ ám chỉ đám Ngũ Long, tuy là đồ chơi mà… là Rồng, tức là chơi lối… Rồng (Đế vương). Lại vừa có ý nhạo vua Khải Định là Rồng mà… rồng tre (đồ chơi). Ý nghĩa thâm thúy như thế, nhưng chắc ông Hồ không hiểu rõ, nên mới nhận là mình viết. Bởi nếu ông viết thì không thể viết như thế, khác nào lậy ông tôi ở bụi này: đã tự coi mình là Nguyễn Ái Quốc duy nhất, thì làm sao lại chấp nhận có các con Rồng khác?

f- Le dragon de bambou, cái tựa của vở kịch, chúng tôi xin nhấn mạnh thêm một lần nữa, nguyên tên tiếng Pháp là Le dragon de bambou (Rồng tre) chứ không phải Le dragon en bambou (Rồng bằng tre) như mới đây có chỗ đã cố ý sửa lại, bởi người sửa không thấy được sắc thái (nuance) khác nhau giữa le dragon de bamboule dragon en bambou.

Kịch bản đã mất, nhưng nhờ cái tựa Le dragon de bambou (Rồng tre) mà chúng ta thấy sự tinh tế về Pháp ngữ của tác giả. Léo Poldès, người được Nguyễn Ái Quốc/Nguyễn Tất Thành đưa cho vở kịch để giúp việc trình diễn, viết: Le dragon de bambou, titre de la pièce, était un chef d’Etat asiatique impuissant, incapable, ignorant, et dont l’auteur fustigeait sans pitié, pendant trois actes” (Như cái tựa của vở kịch, Rồng tre là một vị nguyên thủ quốc gia Á châu bất lực, bất tài, ngu dốt, bị tác giả mắng nhiếc thậm tệ trong ba màn). (Trích bài của Léo Poldès, trên báo Ici Paris Hebdo ngày 11/6/1946, in lại trong Hồ Chí Minh Le procès de la colonisation, L’Harmattan, 2007, trang 194).

Hội Liên hiệp thuộc địa (Union Intercoloniale) và báo Le Paria (Người cùng khổ)

Hội Liên hiệp Thuộc địa – là cơ sở quan trọng thứ nhì, đối với người Việt tại Pháp, sau Hội Người An Nam Yêu nước – quy tụ đại diện những nước nhược tiểu bị Pháp đô hộ, họp lại để cùng chống thực dân. Hội ra tờ báo Le Paria (Người cùng khổ).

Trần Dân Tiên khoe về vai trò của ông trong tờ báo này như sau:

“Để mở rộng việc tuyên truyền đến các thuộc địa, ông Nguyễn và các đồng chí của ông ra tờ báo Người cùng khổ (Le paria) do ông là chủ bút kiêm chủ nhiệm (…) Ông Nguyễn kiêm cả viết, chủ nhiệm, chủ bút, chữa bài, thủ quỹ, xuất bản và liên lạc (Trần Dân Tiên, trang 44).

Hồng Hà viết:Báo Người cùng khổ, cơ quan ngôn luận của vô sản thuộc địa do anh Nguyễn Ái Quốc sáng lập, làm chủ bút kiêm chủ nhiệm, phát hành trong những năm từ 1922 đến 1924″ (Hồng Hà, trang 150).

Anh Nguyễn viết khỏe nhất và nhiều nhất, có số anh viết tới ba, bốn bài. Chính từ đây và từ năm 1922 này, người đọc được thấy những bài báo đầy tính chiến đấu mãnh liệt của anh Nguyễn” (Hồng Hà, trang 156).

Chỉ cần lướt qua tờ Le Paria cũng thấy: đây là tờ báo chống thực dân một cách trào phúng và thâm thúy, kiểu “gậy ông đập lưng ông”, phải đủ những điều kiện: có óc châm biếm, có uy-mua Pháp, thâm hiểu văn hoá Pháp mới viết được. Nguyễn Ái Quốc làm đại diện cho Đông Dương trên tờ báo này là đúng lắm, vì bút danh Nguyễn Ái Quốc đã nổi tiếng trên báo chí ở Pháp từ mấy năm nay. Nhưng những bài ký tên Nguyễn Ái Quốc có phải Nguyễn Tất Thành viết không? Hay vẫn chỉ là Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn An Ninh và Phan Văn Trường? Trong một bài bênh vực Nguyễn Ái Quốc, Nguyễn Thế Truyền ngụ ý: tiếng nói của Nguyễn Ái Quốc là tiếng nói của toàn dân Việt Nam, hình như ông đã kín đáo thổ lộ sự thật về cái bút hiệu chung ấy. Còn sự thực về hội Liên hiệp thuộc địa và báo Le Paria, thì như thế nào?

Hội Liên Hiệp thuộc địa (Union intercoloniale) được sáng lập tháng 7/1921, tại Paris. Mỗi thuộc địa có một đại diện trong Ban chấp hành. Trụ sở: số 9 rue Vallette, sau dời đến số 3 rue Marché des Patriarches.

Tờ báo của hội là tờ Le Paria (Người cùng khổ), ra hàng tháng, dưới sự bảo trợ của nhà văn Henri Barbusse. Báo viết tiếng Pháp, tên in ba thứ chữ: Pháp, Hán và Ả Rập, tồn tại 4 năm, ra được 38 số: số 1, ra ngày 1/4/1922 và số 38 ra ngày 1/4/1926.

Thành phần của Hội khi mới thành lập gồm có: Marie Bloncourt, luật sư, đại diện Dahomey (Phi Châu) làm Tổng thư ký. Nguyễn Ái Quốc là đại diện cho Đông Dương. Jean Baptiste, đại diện Guadeloupe, v.v…

Lúc đầu có khoảng 200 hội viên. Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền và Nguyễn An Ninh đều là hội viên từ 1922, cả ba đều đã diễn thuyết nhiều lần tại trụ sở của Hội hoặc ở Hội trường hội Bác Học (Salle des Sociétés savantes) đường Danton. Ví dụ, ngày 18/2/1923, Phan Văn Trường diễn thuyết so sánh sự cai trị Việt Nam của Pháp và của Trung Hoa. Nguyễn An Ninh diễn thuyết nhiều lần tại Hội trường hội Bác Học. Ngày 17/10/1924 Nguyễn Thế Truyền diễn thuyết về Đông Dương dưới sự cai trị của Albert Sarraut và Martial Merlin. Mỗi lần Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn An Ninh diễn thuyết, Phan Châu Trinh đều đến nghe. (Đặng Hữu Thụ, trang 40).

Số 4, tháng 7/1920, báo Le Paria có 2 bài ký tên Nguyễn Ái Quốc, tựa đề La haine des races (Sự căm thù chủng tộc) và Les cilivisateurs (Những kẻ giáo hoá). Các bài ký tên Nguyễn Ái Quốc đều có ảnh kèm, bài L’Humanité coloniale (Nhân nghiã thuộc địa) trong số 6 (tháng 7/1920) có kèm ảnh những người bị xử bắn, và trong bài báo tác giả mỉa mai ghi: đó là hành động của những con người văn minh. (Thu Trang, trang 144).

Bài đầu tiên ký tên Nguyễn Thế Truyền xuất hiện trên Le Paria, số 9 ra ngày 1/12/1922, tựa đề Un bolchevick jaune (Một người Bôn-sơ-vích da vàng), nội dung bênh vực Nguyễn Ái Quốc bị báo La Dépêche Coloniale (Bản tin thuộc địa) đả kích, trong bài này, Nguyễn Thế Truyền có ngụ ý: Tiếng nói của Nguyễn Ái Quốc là tiếng nói của toàn dân Việt Nam, như đã nói ở trên.

Sau khi Nguyễn Tất Thành đi Nga, tên Nguyễn Thế Truyền xuất hiện nhiều hơn và tên Nguyễn Ái Quốc giảm dần, nhưng vẫn tồn tại đến 1927, chứng tỏ Nguyễn Thế Truyền tuy đã viết bằng tên thật nhưng vẫn còn tiếp tục dùng tên Nguyễn Ái Quốc trong 4 năm nữa (Phan Văn Trường, Nguyễn An Ninh về nước, cuối 1923 và Nguyễn Tất Thành đi Nga, giữa 1923).

Số 21 ra ngày 1/12/1923, trong bài Le vase de Chine (Chiếc bình sứ Trung Hoa), Nguyễn Thế Truyền đả kích kịch liệt bác sĩ Cognacq, nguyên giám đốc học chính Đông dương, về tội hối lộ. Số 22, Nguyễn Thế Truyền nhắc đến lòng yêu nước của Phan Tuấn Phong và Phan Trọng Kiên, anh em ruột của Phan Văn Trường, trong phong trào Đông Du, bị bắt năm 1913. Số 24, đả kích toàn quyền Albert Sarraut đầu độc dân tộc VN bằng rượu và thuốc phiện. Số 27, viết về Phạm Hồng Thái và tiếng bom Sa Điện. Số 28, đả kích Outrey, dân biểu Nam Kỳ, tuyên bố trong quốc hội Pháp không nên áp dụng luật ân xá tại Việt Nam, vì người Việt Nam không biết ân xá là gì. Nguyễn Thế Truyền chê Outrey dốt nát không biết gì vì chín trăm năm trước vua Lý Thánh Tông đã ân xá cho phạm nhân, trong một năm trời làm rét mướt. (Đặng Hữu Thụ, trang 43).

Từ ngày 4/11/1923, Nguyễn Thế Truyền thay thế Nguyễn Ái Quốc làm trị sự toà báo. Đầu năm 1925, Nguyễn Thế Truyền trở thành phó tổng thư ký của Hội và chủ bút tờ Le Paria. Trong năm 1925, hầu như số nào cũng có bài của Nguyễn Thế Truyền. Sau số kép 36-37 (tháng 10/1925) toàn bộ viết bài bênh vực Phan Bội Châu, Nguyễn Thế Truyền ra khỏi Le Paria để sửa soạn ra tờ Việt Nam Hồn, tiếng Việt. Không có Nguyễn Thế Truyền, Le Paria chỉ ra được một số chót (số 38, tháng 4/1926) rồi đình bản. (Đặng Hữu Thụ, trang 51)

*

Trong thời gian từ 1919 đến 1923, nhóm Ngũ Long, qua bút hiệu chung Nguyễn Ái Quấc/Quốc, rồi từ 1923 đến 1927, chỉ còn lại Nguyễn Thế Truyền ở Pháp, đã tả xung hữu đột, tranh đấu quyết liệt cho sự độc lập và dân chủ của đất nước. Sự phân công có thể như sau: Phan Châu Trinh, lãnh đạo tinh thần; Phan Văn Trường lãnh đạo chính thức. Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn An Ninh viết nhanh, viết mạnh. Nguyễn Tất Thành phụ trách phần tin tức, việc quản trị Hội Liên Hiệp Thuộc Địa và cổ động bán báo, in truyền đơn…

Phần lớn những người tham gia kháng chiến chống Pháp, từ Nho học đến Tây học, đều học giỏi nổi tiếng, nhưng đã gạt văn bằng sang một bên để dấn thân. Hồ Chí Minh là một trường hợp đặc biệt, dù con quan, nhưng sớm bỏ học, trình độ quốc ngữ kém (xem bài Việt Nam Yêu Cầu Ca trong phụ bản dưới đây), tiếng Pháp sơ sài, ông đã sống rất cực khổ, làm bồi bếp trong suốt quãng đời thanh niên từ 1911 đến 1919, trước khi tới Pháp. Tại Pháp cũng chỉ có hai năm ở nhà Phan Văn Trường khu Gobelins là khá, sau này ra Compoint, một khu nghèo nàn thợ thuyền và ông cũng tiếp tục sống rất cơ cực, không kể còn có mặc cảm sâu xa đối với các bạn đồng hành trí thức. Đó là những lý do khiến Nguyễn Tất Thành theo cộng sản, mặc dù ông chưa hiểu rõ lý thuyết cộng sản như thế nào. Sau này, khi lên cầm quyền, việc đầu tiên là ông sẽ bắt mọi người phải kính nể, phải gọi ông bằng Bác, phải cúi đầu trước chân dung ông, và riêng đối với trí thức, ông sẽ dành cho họ những nhục nhằn mà ông đã phải gánh chịu trong suốt cuộc đời thanh niên.

Phan Khôi, Trương Tửu, Nguyễn Mạnh Tường, Đào Duy Anh, Trần Đức Thảo… là những người sẽ phải gánh tội của trí thức. Phan Khôi nặng nhất vì đã dám trực tiếp biếm vua: Tội đáng trảm quyết trên phương diện tinh thần.

Phụ bản

Chúng tôi in lại bản Revendications du Peuple Annamite dưới đây, nguyên văn tiếng Pháp, bản dịch sang tiếng Việt, và bài thơ Việt Nam Yêu Cầu Ca.

Revendications du Peuple Annamite

Depuis la victoire des Alliés, tous les peuples assujettis frémissent d’espoir devant la perspective de l’être de droit et de justice qui doit s’ouvrir pour eux en vertu des engagements formels et solennels, pris devant le monde entier par des différentes puissances de l’entente dans la lutte de la Civilisation contre la Barbarie.

En attendant que le principe des Nationnalités passe du domaine de l’idéal dans celui de la réalité par la reconnaissance effective du droit sacré pour les peuples de disposer d’eux- même, le peuple de l’ancien Empire Annam, aujourd’hui Indo-Chine Française, présente aux Nobles Gouvernements de l’Entente en général et à l’honorable Gouvernement Français en particulier les humbles revendications suivantes:

1- Amnistie Générale en faveur de tous les condamnés politiques indigènes.

2- Réforme de la justice indochinoise par l’octroi aux Indigènes des mêmes garanties judiciaires qu’aux Européens, et la suppression complète et définitive des Tribunaux d’exception qui sont des instruments de terrorisation et d’oppression contre la partie la plus honnête du peuple Annamite.

3- Liberté de presse et d’opinion.

4- Liberté d’association et de réunion.

5- Liberté d’émigration et de voyage à l’étranger.

6- Liberté d’enseignement et création dans toutes les provinces des écoles d’enseignements techniques et professionnels à l’usage des indigènes.

7- Remplacement du Régime des lois. (1)

8- Délégation permanente d’indigènes élus auprès du Parlement Français pour le tenir au courant des désidérata indigènes.

Le peuple Annamite, en présentant des revendications ci-dessus formulées, compte sur la justice mondiale des toutes les Puissances et se recommande en particulier à la bienveillance du Noble Peuple Français qui tient son sort entre ses mains et qui, La France étant une République, est censée d’avoir pris sous sa protection. En se réclamant de la protection du Peuple Français, Le Peuple Annamite, bien loin de s’humilier, s’honore au contraire; car il sait que le Peuple Français représente la liberté et la justice, et ne renoncera jamais à son sublime idéal de Fraternité universelle. En conséquence, en écoutant la voix des opprimés, le Peuple Français fera son devoir envers la France et envers l’Humanité.

Pour le Groupe des Patriotes Annamites: Nguyễn Ái Quấc

Thỉnh nguyện của dân tộc An Nam

Từ khi Đồng Minh thắng trận, các cường quốc long trọng cam kết rõ ràng trước thế giới quyết tâm tranh đấu, lấy Văn Minh chống lại Hung Tàn; tất cả những dân tộc bị áp bức đều nôn nao hy vọng, trước viễn ảnh, sẽ được sống trong công bằng và luật pháp.

Trong khi chờ đợi nguyên tắc dân tộc tự quyết, từ lý tưởng sang thực hành, bằng sự nhìn nhận thực sự quyền thiêng của mỗi dân tộc, tự định đoạt lấy số phận mình; Chúng tôi, Thần dân của Đế quốc An Nam ngày trước, nay là Đông Dương Pháp, trình bày với Cao Quyền Đồng Minh nói chung và Kính Quyền Pháp nói riêng, những thỉnh nguyện khiêm tốn sau đây:

1- Đại xá tất cả tù binh chính trị bản xứ.

2- Cải tổ luật pháp Đông dương, bằng cách bảo đảm cho người dân bản xứ, những điều kiện về luật pháp như người Âu châu. Bỏ hẳn các toà án đặc biệt là công cụ khủng bố và đàn áp thành phần lương thiện nhất của dân tộc An Nam.

3- Tự do báo chí và tư tưởng.

4- Tự do lập hội và hội họp.

5-Tự do di dân và du lịch ra nước ngoài.

6- Tự do giáo dục và xây dựng những trường kỹ thuật và thực nghiệp tại các tỉnh cho người bản xứ.

7- Thay thế Chế độ pháp lý.

8- Có phái đoàn đại diện thường trực dân biểu bản xứ tại Nghị viện Pháp để thông báo những nguyện vọng của người dân bản xứ.

Dân tộc An Nam, qua những thỉnh nguyện trên đây, tin tưởng ở công pháp quốc tế của các cường quốc và đặc biệt trông cậy vào lòng thành của dân tộc Pháp cao quý, đang cầm vận mệnh của chúng tôi trong tay; nước Pháp là một nước Cộng hoà, cầm bằng như đã bảo hộ chúng tôi. Khi thỉnh cầu sự bảo trợ của Dân tộc Pháp, Dân tộc An Nam, không hề tự hạ mình, mà ngược lại còn lấy làm vinh hạnh, vì họ biết Dân tộc Pháp biểu hiện tự do và công bằng, không bao giờ từ khước lý tưởng cao cả: Tứ hải giai huynh đệ. Vì vậy, khi đáp ứng tiếng kêu của người bị áp bức, Dân tộc Pháp không những làm tròn bổn phận đối với nước Pháp mà còn đối với cả Nhân loại.

Thay mặt nhóm An Nam Yêu Nước – Nguyễn Ái Quấc.

(Thụy Khuê dịch)

Việt-Nam yêu cầu ca

Bằng nay gặp hội Giao hoà.
Muôn giân hèn yếu gần xa vui tình.
Cầy rằng các nước Đồng minh
Đem gươm công lí giứt hình giã man
Mấy phen công bố rõ ràng.
Dân nào rồi cũng được trang bình quyền
Việt Nam xưa cũng oai thiêng
Mà nay đứng giới thuộc quyền Lang-sa.
Lòng thành tỏ nỗi sút sa.
Giám xin đại quấc soi qua chút nào.
1 xin tha kẻ đồng-bào.
Vì chưng chính trị mắc vào tù giam.
2 xin phép luột sửa sang
Người Tây người Việt hai phương cùng đồng.
Những toà đặc-biệt bất công
Giám xin bỏ giứt rộng giung dân lành
3 xin rộng phép học hành
Mở mang kỵ nghệ, tập tành công thương
4 xin được phép hội hàng
5 xin nghị ngượi nói bàn tự gio
6 xin được phép lịch giu
Bốn phương mặc sức, năm châu mặc tình.
7 xin hiến-pháp ban hành
Trăm đều phải có thần-linh pháp quyền.
8 xin được cử nghị-viên.
Qua Tây thay mặt giữ quyền thổ giân.
Tám đều cặn tỏ xa gần.
Chưng nhờ vạn quốc công giân xét tình
Riêng nhờ giân Pháp công bình
Đem lòng đoái lại của mình trong tay.
Pháp giân nức tiếng xưa nay.
Đồng-bào, bác ái sánh tày không ai.
Nỡ nào ngảnh mặt ngơ tai.
Để cho mấy ức triệu người bơ vơ.
Giân Nam một giạ ước mơ
Lâu nay tiếng núp bóng cờ tự-gio.
Rộng xin giân Pháp xét cho
Trước phò tiếng nước, sau phò lẽ công.
Gịch mấy chữ quấc âm bày tỏ
Để đồng-bào lớn nhỏ được hay.
Hoà bình may gặp hồi nầy
Tôn sùng công lí, đoạ đày gia-man
Nay gặp hội khải hoàn hĩ hạ
Tiếng vui mừng khắp cả đồng-giân
Tây vui chắc đã mười phần
Lẽ nào Nam lại chịu thân tôi đòi
*******
Hẵng mở mắt mà soi cho rõ
Nào Ai-lan, Ấn-độ, Cao-ly.
Xưa, hèn phải bước suy vi
Nay, gần độc lập cũng vì giân khôn
Hai mươi triệu quấc hồn Nam Việt
Thế cuộc nầy phải biết mà lo
Đồng bào, bình đẳng tự gio
Xét mình rồi lại đem so mấy người
Ngổn ngang lời vắn ý giài
Anh em đã thấu lòng nầy cho chưa

Chú thích (1): Bản in trong cuốn Một ngôi trường khác cho Nguyễn Tất Thành, của Vũ Ngự Chiêu và Nguyễn Thế Anh, (Tủ sách Văn hoá, Paris, 1983), trang 125, điều 7 này được viết như sau: Remplacement du régime des decrets par le régime des lois (Thay chế độ sắc lệnh bằng chế độ pháp lệnh). Chúng tôi dùng bản in trong sách của Thu Trang vì có bài thơ viết tay Việt Nam Yêu Cầu Ca đính kèm. Văn bản này trong bộ Hồ Chí Minh toàn tập đã được sửa hết các lỗi chính tả.

© Copyright Thụy Khuê [http://thuykhue.free.fr]
Nguồn: Tác giả gửi


Mời đọc:

Đã đóng bình luận.