Nguyễn Văn Sâm

Một tác phẩm có giá trị khi nó được nhiều người nói tới, bàn luận, kể cả tranh cãi và nhất là có nhiều phó phẩm để có thể nói được là nó tạo nên một nguồn văn hóa mới. Trong văn chương Việt Nam có hai tác phẩm lớn được ở vào trường hợp đó, chính là Lục Vân Tiên ở Nam và Đoạn Trường Tân Thanh (tức Truyện Kiều) ở Bắc. Một vài trường hợp khác như Lâm Xanh Xuân Nương, như Lưu Bình Dương Lễ cũng tạo được những phó phẩm tương tự nhưng không nhiều bằng, và nhứt là không có được những bình luận nghiên cứu, ưa thích, sùng thượng như hai tác phẩm trên.
Đọc tiếp »

Nguyễn Hiền


Dalat Nostalgia
dinhcuong

Đà Lạt của tôi đâu?
những sớm mai lạnh run hai lớp áo len
thường ghé vào quán cà phê ở bến xe lam
sau lưng khu hòa bình
ngồi chồm hổm
trên băng ghế dài
ăn mấy miếng bánh mì nướng bơ
uống ly cà phê sữa
nợ mới chồng nợ cũ
lão chủ quán nhắc khéo
bữa nào có tiền nhớ trả tao
Đọc tiếp »

Khê Kinh Kha

Nhạc và lời: Khê Kinh Kha; Tiếng hát: Hoàng Quân
ban_ky_am

Nguồn: Tác giả gửi nhạc và âm bản mp3

Hồ Đình Nghiêm

Lễ Phật Đản, theo lời mời của cô Tâm, Đặng đến quán bán bún bò để ăn trưa. Cô Tâm có gọi thêm hai đứa học trò cũ nữa, bốn người ngồi thong dong trong quán bán bún nổi tiếng ngon. Bình thường ở đây luôn đông chật thực khách, hôm nay vắng lặng như chùa Bà Đanh vì nhằm lễ Phật Đản, đa số không ưa ngã mặn. Họ treo lồng đèn, họ mua cá mua chim về phóng sanh và họ quyết tâm ăn chay niệm Phật. Có một vài ông trước đây nhảy núi lên xanh trang bị vũ khí súng dài súng ngắn đến tận răng, tuy vô thần nhưng khi về làm chủ phố phường đã “tâm sự”: Ở Trường Sơn tôi chưa từng bắn đi một viên đạn, đang di chuyển gặp đàn kiến dưới chân phải tránh, đôi dép râu này không nỡ chà đạp chúng. Mọi người đóng vai hàng thần lơ láo ngồi nghe, tịnh khẩu như bình, cố thực thi ép mình theo lá bùa ba không: Không nghe, không thấy, không biết.
Đọc tiếp »

Lê Phước Dạ Đăng

Bong Bóng Cười bán trên hè phố
bơm vào
hít thở
há miệng hớn hở
nhập tràn niềm vui
những Bóng Đời ngây ngô ơi
thiếu niên thanh nữ
em bé khăn quàng cổ
góp mặt trò chơi  Đọc tiếp »

Mặc Phương Tử

Dòng thời gian cứ cuồn cuộn hay lặng lẽ mãi miết trôi, và mọi cảm nhận tiếp thụ của con người vẫn cứ lan chảy bất tận theo dòng đời rẽ về muôn hướng, tưởng nghĩ không phút giây dừng nghỉ, và nếu có chăng thì chỉ trong một thoáng xa xôi mơ hồ đâu đó, rồi cũng lao vào vòng xoay của bao ý niệm trong cuộc sống đầy vật vã, bon chen, toan tính, sầu muộn… như bánh xe càng đi tới là càng quay tròn trở lại.

Mùa xuân thoáng đến, rồi như vội vã qua đi “Thiều quang chín chục…”, thời tiết tháng 5 đang hắt hiu, nghe ấm dần lên bởi khí trời man man ngọn gió trưa hè ngang qua thềm mây trắng. Trông cái cảnh con người vẫn tất bật lao vào cuộc sống như bao ngày tháng hôm nào, vẫn xôn xao nhập cuộc vào giữa hai chiều ngược xuôi, lên xuống, thất bại, thành công, vui buồn… như để tìm kiếm, đong đo, trang trải những điều gì trong chốn cuộc phù sinh.
Đọc tiếp »

Trần Huy Sao

Năm tháng ngày ngồi ngó cá bơi

tau dẫu nghèo
vẫn nhín (tới) nhường
đồng tiền hưu (đúng hẹn kỳ giải mỏi)
nuôi bây không (hề) bỏ đói
mập ú phổng phao
bơi qua lượn lại
cho tau ngó đã (đời) bốn mắt
nhấp nhem
lấn lướt tới tèm hem
mờ dáng lặng thầm
Đọc tiếp »

Trịnh Y Thư

1.
Trong một bài phỏng vấn đăng trên tạp chí văn học The Paris Review cách đây khá lâu, nhà văn Nhật Hakuri Murakami có một phát biểu rất ý nhị, “Cái hay của việc viết văn là bạn có thể mơ trong lúc thực sự đang tỉnh táo.” Tôi thấy điều đó quá đúng, bởi nếu bạn không mơ mộng, không mơ ngày, không sống với  không-thời-gian của tưởng tượng bay bổng trong cõi huyền ảo, phi thực tại thì có lẽ bạn không nên chọn nghiệp văn. Đối với những người cầm bút như Murakami, viết tức là mơ, là mộng du trong chốn phi thực. Sự khác biệt với mộng du trong lúc ngủ là ý thức vẫn hiện hữu, mơ và thực bởi thế hòa quyện nhau, trí tưởng tượng vượt ra ngoài kiểm soát của lí trí. Nhờ đó, người viết không nhất thiết quan tâm nhiều đến cái giống thật, không phải bám sát sự thật để có thể dễ dàng mạo hiểm vào những cảnh giới mới của sáng tạo. Tôi đồ khi viết cuốn tiểu thuyết Những ghi chép trên tầng thứ 14 [Văn Học Press xuất bản, 2019] nhà văn Thận Nhiên của văn học Việt Nam hải ngoại cũng ở trong một tâm cảnh tương tự. Chính vì thế, mặc dù cuốn tiểu thuyết phản ánh khá nhiều đời sống thật của tác giả ngoài đời – khiến người đọc không ngớt thắc mắc phải chăng nhân vật chính diện ở ngôi thứ nhất ấy chính là tác giả – nhưng thật sai lầm nếu chúng ta xem đây là cuốn tiểu thuyết tự truyện, và càng sai lầm hơn nếu chúng ta đánh giá nó dưới góc độ hiện thực.
Đọc tiếp »

Nguyễn An Bình

Tam Giang ngày về

Chiều trên sóng nước Tam Giang
Thuyền trôi lấp lánh trăng vàng nghiêng vai
Ngược dòng ngọn tóc em bay
Thủy triều lên xuống từng ngày nhớ không?

Chim về cuối bãi mênh mông
Lao xao tiếng sóng nặng dòng Ô Lâu
Bến đò Ca Cút tìm đâu
Một thời xuôi ngược đầm sâu cũng buồn.
Đọc tiếp »

Nguyễn thị Khánh Minh
Tặng Nguyễn Lương Vỵ cùng sinh nhật tháng 5.


Nhà thơ Nguyễn Lương Vỵ

Đang thong thả dong ruổi những ngày góc phố cà phê, đang yên tâm những lần đi bác sĩ, lúc nào tôi cũng có người bạn thân tình Nguyễn Lương Vỵ (NLV) đón đưa, chia sẻ, đùng một cái, anh nằm viện, mổ tim. Đã hơn một năm từ ngày trái tim thơ ấy bị nghẽn mạch, giờ NLV vẫn đang ngày ngày trông nắng đến nắng đi nơi phòng bệnh. Từ khung cửa sổ ấy tôi thấy hoa tím vàng rơi đầy vào một ngày mùa thu đến thăm anh. Nhìn và hình dung những giây phút sớm khuya đâu đó của anh:

…sương rơi nương bóng thềm rêu nhạt
lá rụng nghiêng vai giọt nắng tràn…

… ngồi im nghe nắng khuya đang vỡ…

một vạt nắng chiều giăng tiếc nhớ
hai hàng mưa bụi đẫm thương mong…
Đọc tiếp »

Tưởng Năng Tiến

Cái bung đồng, năm Cải cách, đội lấy của các nhà giàu trong làng chia cho, nó không phải của nhà mình, các con nên tìm chủ mà trả lại. (Cụ Đậu Thị Mực)

Tôi vừa tình cờ đọc được một bài báo cũ (“Hành trình 60 năm của một chiếc bung hay câu chuyện hòa giải giữa địa chủ và bần cố nông”) nhưng nội dung vẫn còn nguyên tính thời sự, củ̉a nhà báo Huy Đức, trên trang Dân Luận. Xin được ghi lại nguyên văn, cùng hình ảnh:

Cách đây hơn 4 tháng, trên Facebook này, tôi viết: Trong đám giỗ lần thứ 51 của chồng – ngày 28-11 năm Giáp Ngọ (18-1-2015) – cụ bà Đậu Thị Mực, sinh năm 1916 – thường gọi là bà Dương – dặn con cháu: “Trong hai vật dụng mẹ đưa từ Thanh Chương, Nghệ An, vào Bình Dương lập nghiệp năm 1990 chỉ có một là của nhà ta, cái bình vôi. Khi mẹ về làm dâu (cuối thập niên 1930s), bà nội đã dùng cái bình vôi (ăn trầu) này; còn cái bung đồng, năm Cải cách, đội lấy của các nhà giàu trong làng chia cho, nó không phải của nhà mình, các con nên tìm chủ mà trả lại”.
Đọc tiếp »

Trần Yên Thảo

1.
Từ khi tham ngọn bỏ nguồn
cuộc vui có hạn nỗi buồn vô chung
bao giờ hết kiếp lao lung
lộng hình ma-quỉ vào khung thánh thần.

2.
Cây vườn lặng tiếng im hơi
trổ hoa năm trước cho vơi oán hờn.
Cây thương chiếc bóng mỏi mòn
chờ người phiêu bạt hãy còn biệt tăm.
Đọc tiếp »

Tà ru

Posted: 16/05/2019 in Hoàng Xuân Sơn, Thơ

Hoàng Xuân Sơn
chào mừng anh Ba

tà ru*
hay lắm, tù ra
ủ tờ đáo hạn
tà tà
go
home
ngón tay cao. vượt
cái đồn
V(ê) là chiến thắng
rợp hồn nhân văn  Đọc tiếp »

Mỹ Trí Tử

Có những kỷ niệm thấm sâu vào tâm trí bắt nguồn từ những món ăn dân dã, đậm chất quê nhà. Ở đó có bàn tay chăm lo của mẹ qua từng cách chế biến tạo thêm sự phong phú trong mỗi món tưởng chừng như đơn giản ấy tượng trưng cho tình yêu mà mẹ dành cho các con.

Nghe mẹ kể lại rằng lúc xưa quê miền Trung nghèo khổ của mẹ, vùng đất với những hạt cát khô cằn cộng những sỏi đá nhấp nhô hay những cánh đồng trải dài được bao bọc bởi núi đồi và uốn quanh là dòng sông hiền hoà, đậm chất mộc mạc của miền Trung nắng gió. Miền Trung đất cày lên sỏi đá, mùa hạn nắng chói chang và mùa mưa thì ngập úng, lũ quét và mất mùa. Với khí hậu khắc nghiệt như thế, khi thì cơn nóng cháy da, lúc thì gió cuồng mưa lũ, nhưng cây chuối vẫn kiên gan, chống chỏi quyết liệt, nhiều khi đến trụi hết lá.
Đọc tiếp »

Nghe

Posted: 16/05/2019 in Nguyễn Hiền, Thơ

Nguyễn Hiền

Nghe tắc kè kêu

Đêm nghe con tắc kè kêu phận người
Tiếng may tiếng rủi rơi trúng ai nấy chịu
Chợt mắc cười nghĩ mình già còn dại
Tin cái trò con nít để buồn chơi

 
Nghe chuột kêu

Ai mà biết bọn mày trốn ở đâu
Gầm giường, nóc tủ hay xó bếp
Nếu bọn mày không cắn nhau kêu chí chóe
Chỉ vì miếng ăn để rồi rơi vào bẫy
Đọc tiếp »

Tô Đăng Khoa


Nhà thơ Nguyễn Lương Vỵ
(ảnh: Uyên Nguyên)

Năm 1973 tập san Văn Chương của Joseph Huỳnh Văn đăng bài thơ Âm Nhạc của Nguyễn Lương Vỵ viết năm 1970 (lúc ông mới 18 tuổi). Bài thơ gây tiếng vang lớn vào thời đó và như là một tiên tri cho sự hòa nhập có một không hai giửa Nguyễn Lương Vỵ và Âm: “Âm nhập cốt”

ÂM NHẠC

Ghi trên nền nhạc giao hưởng số 5 của Ludwig Van Beethoven

Âm nhập cốt
Âm binh phiêu hốt tiếng tru
Ta tru một kiếp cho mù mắt
Mù lệ đề thơ để nhớ đời
À ơi! Rượu đỏ hoàng hôn tắt
Ta dắt hồn ta túy lúy chơi!

Âm nhập cốt
Âm vàng mấy gót hồ ly
Vạn kỷ cung thương còn réo rắt
Còn ru ta mãi quãng đời xanh
À ơi! Ai hát ngoài phuơng Bắc
Chờ nhau tinh đẩu sáng long lanh
Đọc tiếp »

Phạm Hồng Ân

Khi buông súng

nghe lệnh rút lui về cửa Tiểu
lòng ta bấn loạn trước ba quân
đạn đã lên nòng chờ khai hỏa
từ trên ban xuống lệnh đầu hàng.

chong súng lên trời rồi ngó lính
hai hàng nước mắt bỗng tuôn rơi
ta ôm đầu đợi lời bất kính
từ những làn môi khinh bạc đời.
Đọc tiếp »

Lê Quang Thông

Đường bộ thì sợ Hải Vân.
Đường thủy thì sợ sóng thần Hang Dơi

(Ca dao)

Sáng 01 tháng Tư 1975, tôi quyết định ra Huế bằng chiếc Yamaha vẫn dùng từ lâu. Đà Nẵng xem như đã yên được ba ngày nay. Hỗn loạn chấm dứt từ trưa 29.3, sau khi vài chiếc T54 chạy dọc bờ sông Hàn từ trên Viện Cổ Chàm xuống rồi vòng vào phố.

Xe nào cũng cắm đầy cờ Mặt trận GPMN và cờ Phật giáo. Trên xe ngoài ba bốn người mặc quân phục, đội mũ cối hay mũ tai bèo, còn lại là thanh niên áo quần lộn xộn, có giải khăn đỏ trên bắp tay. Có xe còn thấy một hai vị sư đắp y vàng, ngồi dựa vào pháo tháp của xe và vẫy tay chào đám đông tụ tập ven đường.
Đọc tiếp »

Chu Vương Miện

trước mặt hiện trường
vua Lý Huệ Tôn chỉ còn
chiếc bồ đoàn để ngồi
một cuốn kinh
một chiếc mõ
đằng sau chánh điện
là một sợi dây thòng lọng
dùng treo cổ
cơ đồ nhà Mộc Tử đến đây là final
nước cũng mất
vợ về tay ngừơi khác
hai con gái cũng vậy  Đọc tiếp »

Thiếu Khanh

Nói đến vị Hùng Vương thứ 19 tức là mặc nhiên chấp nhận có 18 vị Hùng Vương trước đó.

Đây là nói về mặt logic chớ hầu như tất cả sử sách của ta đều dành chỗ trang trọng cho các vị hiền nhân minh triết này trong thời kỳ sơ khai khuyết sử của dân tộc. Trong Việt Nam Sử Lược (VNSL), học giả Trần Trọng Kim tỏ ý nghi ngờ tính xác thực của thời đại Hùng Vương trải dài trong 2622 năm với 18 đời “Vua,” bắt đầu từ năm 2879 trước Công nguyên (CN), tức cách đây (năm 2019) 4898 năm, và kết thúc sau khi Thục Phán đánh chiếm nước Văn Lang của Hùng Vương thứ 18 để sáp nhập với nước Tây Âu hay nước Âu Việt lập ra nước Âu Lạc vào năm 258 trước CN.

Có người, không biết dựa vào đâu, đã kể vanh vách tên của 18 vị “Vua” Hùng, như thể ngay từ thời khởi thủy xa xăm đó người Việt đã có tổ chức quốc gia chặt chẽ và đã có sách vở để ghi chép tên mỗi vị “Vua.”

Thật ra, Vương không phải là vua. Hùng Vương không phải là “Vua” Hùng.
Đọc tiếp »

Mìn

Posted: 14/05/2019 in Hoàng Xuân Sơn, Thơ

Hoàng Xuân Sơn

một đứa diêm dúa đứng đầu nhà dân
một kẻ sát nhân thập phần thổ tả
đất nước tôi sản sinh toàn của lạ
một trự rủng rẻng ca cẩm mình
một nường được tung hô tá lả
đúng quy mô hội chứng mẹ mìn  Đọc tiếp »

Hồ Đình Nghiêm

Đừng bỏ anh ở chùa. Vụ này, thoạt nghe qua là “ngộ” ngay, buộc phải rùng mình. Hàm nghĩa chữ bỏ cũng ác liệt. Bỏ bê, bỏ xó, bỏ hoang, đồ bỏ… Ngoài ra bỏ cũng tương tự với động từ đặt để, thu cất. Một đàng phụ phàng bỏ rơi, một đàng vị tình cắt đặt vào nơi am trú… Tuy vậy “Đừng Bỏ Anh Ở Chùa”, nghĩ cho tận, thì quá đỗi thương đau, một dấu chấm sau cùng, kết thúc một cảnh đời nhân thế. Khác biệt và trái ngược với một khởi đầu, cũng lắm oan trái, vạn bất đắc dĩ:

Con ai đem bỏ chùa nầy?
A di đà Phật con thầy thầy nuôi
”.

Hòng làm nhẹ tội, xin thú nhận ngay “Đừng Bỏ Anh Ở Chùa” là nhan một bài thơ của thi nhơn Hoàng Lộc mà tôi mạn phép chôm, không bỏ, tái sử dụng. Bài thơ ngắn, mang đủ cái chất riêng đầy ấn tượng của Hoàng Lộc. Hay đến nỗi dẫn tới cớ sự này đây. Thơ năm chữ, khởi đi với:

lỡ có một ngày kia
em nhận bình tro cốt

Đọc tiếp »

Yên Nhiên | Locphuc.

Vẫy tay chào

Rồi sẽ một mai tạ đất trời
Hành trang trút lại dọc đường thôi
Ga đời chen chúc người lên xuống
Bến đỗ lao xao tiếng gọi mời
Tay nải nhẹ tênh về trạm cuối
Bồi hồi nuối tiếc cuộc rong chơi
Tiếng còi tầu réo trong đêm vắng
Rồi sẽ vẫy tay giã biệt đời
Đọc tiếp »

Phan Tấn Uẩn

Thành phố cứng đờ khô chết sau cơn chém giết bão bùng khiếp đảm hai ngày trước. Ông Chí lúi cúi nhận mặt thằng Lớn trong dãy xác người ê ẩm nằm sãi dượi giữa đường, hiên. Những xác chết mềm nhũn như những sợi bún nằm hớ hênh, bắt ngang bắt dọc trước mặt phố, chao nghiêng dưới trụ đàn gốc cây. Ông Chí mếu máo, khóc rấm rức, nước mắt không còn trào nổi. trước mặt ông, những cụm tóc tơi tả như chòm râu bắp phủ xòa lơ thơ trên đài trán bạn thếch xanh xao. Những đôi mắt trợn trừng nuối tiếc chưa muốn vĩnh quyết dứt lìa. Ông Chí khẻ trờ tới khom xuống rà mắt thật kỷ trên từng vết tật ở cánh tay của tảng thịt chết. Con phố lạnh buốt điêu tàn. Những u uất phơi trãi chung quanh, rải rác đôi ba người mang hoàn cảnh ông Chí, đang nghẹn khóc đầu góc phố, sục sạo tìm kiếm tăm tích con cháu. Buổi sáng im lìm mun sẩm trì nặng trong hơi thở. Ông Chí sửng sờ đứng sựng lại khi nghe một tràng tớt tức tửi đứt cụt giữa trời không. Tiếng tớt ngắn cụt xao loãng của một ông già đầu đường chừng như còn thê lương chín khúc hơn cả vùng tâm tư nát hoảnh cồn cào trong ruột ông. Nghĩ thế, ông Chí tỉnh hơi ngước dòm phía người già. Thêm một khối thịt nằm đông cứng, gãy chân, vỡ sọ, dựa vắt trên tảng đá lớn bên đường. Người già đó vẫn còn quệt nước mắt, những vệt ghèn nhòe nhoẹt dán chặt trên đĩnh má cao. Ông Chí tới gần, ngó xuống chân người già, một thân thịt khác bị bắn tóe nát ở một bắp đùi, dấu bắn mới hoảnh tướt ra từ bả vế một nắm thịt màu nâu nhạt tĩa lia ria như miếng thịt bò gân. Cả bắp vế đó không khác chi cái đùi bò. Xáp mặt người già, ông Chí chỉ tay xuống tảng thịt:

– Bác khóc cái xác ni?
Đọc tiếp »

Nguyễn Minh Phúc

Còn dấu chân người

người đi rơi lại tiếng cười
môi thơm ngần ngại đêm mời mọc môi
bước thầm với một tôi thôi
loanh quanh nỗi nhớ mồ côi trong chiều

đêm buồn đổ bóng tịch liêu
phố im lời vắng liêu xiêu gót giày
còn đây trăng cũ lạc loài
ngọn đèn khuya thắp trời đầy hoang vu
Đọc tiếp »

Tưởng Năng Tiến

Trong nước CS mà đón tù chính trị về vui vẻ như thế này thì thời gian tồn tại của chế độ có thể kéo dài bao lâu? (Pham Nguyen Truong)

Thỉnh thoảng, khi trong túi có chút đỉnh tiền rủng rỉnh, tôi hay mời mấy đồng bào từ Tây Nguyên (đang tị nạn ở Thái Lan) dùng một bữa cơm thân mật. Bangkok chật và đông (rất đông và rất chật đối với những kẻ chỉ đủ tiền thuê nhà trong những khu ổ chuột) nên – đôi lúc – có dịp ngồi ngắm trời rộng/sông dài, từ một quán ăn nổi, trên dòng sông Chao Phraya, là điều mà tất cả chúng tôi đều lấy làm thích thú.

Khách thường đông vì tháng nào cũng có người mới đến (hoạ hoằn cũng có kẻ được đi định cư ở một nước thứ ba) nên chúng tôi hay mở đầu cuộc họp mặt bằng cách lần lượt tự giới thiệu tên tuổi/quê quán của từng người. Đến phiên mình, tôi thường đùa : “Tôi tên Tiến, dân làng Tà Ru.”
Đọc tiếp »

Nguyễn Tam Phù Sa

Thời thế bây giờ quái lạ, nghĩ không ra
Thanh thế ba miền 90 triệu dân câm nín
Quyền lực độc tôn xăng dầu điện nước thi nhau bóp họng
44 năm trời chưa cởi được vòng kim cô

Thời thế bây giờ mỗi ngày mỗi loạn cả lên
Thằng bợ đỡ bưng bô chết thành thần, ngồi ngang hàng với Phật
Quyền phép đình chùa linh thiêng cỡ nào anh đếch biết
Chỉ biết tán dù bao biện kẻ ấu dâm
Đọc tiếp »

Lê Hữu
Để tưởng nhớ chị Dung (1940-2019)

Tôi vẫn thích sưu tầm ảnh đẹp. Được nhìn ngắm một bức ảnh đẹp, thấy lòng mình như lắng xuống, thấy tâm hồn như dịu lại và cuộc sống như cũng dễ chịu hơn. Không chỉ thích ảnh đẹp tôi còn thích đặt tên cho ảnh. Nhiều ảnh không cần phải đặt tên, thế nhưng có đôi lúc gặp bức ảnh gợi nhiều cảm xúc tôi vẫn muốn tìm cho ảnh một cái tên.

Tấm ảnh tôi xem được ở nhà chị Dung là một ảnh như thế. Tấm ảnh khá quen thuộc với những người thân của chị. Tôi gọi tên ảnh là “Hình ảnh một buổi chiều”.

Tôi nhớ, trong chuyến đi Nam Cali ngắn ngày nhiều năm trước, chị Dung nhắn vợ chồng tôi ghé nhà chơi. Trước đó tôi được chị gửi tặng tập sách quý với chữ ký chỉ phác vài nét tên chị, cũng dung dị như tính cách của chị. Trong sách có cái “note” chị nói phải gửi qua bưu điện vì chờ mãi chẳng thấy xuống để đưa tận tay. Tập sách đầy đặn, là “Tuyển tập Lê Đình Điểu”.
Đọc tiếp »

Phạm Anh Dũng

Thơ: Y Dịch; Nhạc: Phạm Anh Dũng; Hòa âm: Duy Cường; Tiếng hát: Tuấn Ngọc

Nguồn: Tác giả gửi nhạc và âm bản mp3

Cảnh xe điện

Posted: 13/05/2019 in Thy An, Thơ

Thy An

mọi người giật mình
khi thấy người đàn bà mặc áo đắt tiền ôm con chó lông xù
sang trọng thơm tho bước lên xe điện
ai cũng tự hỏi: ngon lành như thế sao không có xe riêng?
rồi kế tiếp là đứa bé mặc quần xé rách
lòi đầu gối, ngồi nghênh ngang chơi iphone hạng xịn
bất kể cụ già đứng cạnh không có ghế ngồi
cặp tình nhân cười khúc khích câu yêu đương dậy thì
xa xa là những thanh niên Ả Rập
múa may to giọng, hôm nay hiền không gây sự  Đọc tiếp »