Phạm Khắc Trung

1.
Hiểu theo nghĩa bình dân thì “tu” là một động từ, có nghĩa là uống bằng cách dốc chai hay bình cho chất lỏng chảy vào miệng, và người tu chỉ nuốt xuống thôi chứ không phải làm bất cứ động tác nào khác. Trường hợp phải dùng lực tác động vào để uống thì gọi là bú, hoặc mút.

Khi hiểu “tu” là uống như vậy, đa phần người ta lại mường tượng đến “chai bia”. Mà đã “tu bia” thì khỏi cần bàn, bởi kết quả đã chứng minh hết sức rõ ràng rằng “tu là cội phúc”:

Trong đợt khủng hoảng tài chánh toàn cầu 2007-2008, khởi đầu từ giữa năm 2007, những tổ chức tài chính đầu tiên của Hoa Kỳ liên quan đến tín dụng nhà ở thứ cấp bị phá sản, giá chứng khoán bắt đầu rơi rụng dần. Cho tới tháng 08 năm 2008, khi cổ phiếu của một số công ty lớn và giàu có ở Canada và Hoa Kỳ bị tuột dốc không phanh, thì tin tức về lợi ích của việc “tu chai” được truyền nhanh trên mạng Internet (trích):
Đọc tiếp »

Chu Thụy Nguyên

1.
Em bé tóc thắt bím khóc nhề nhệ
Con thích trà sữa con không sợ chất độc, con không sợ ung thư.
Lão ông vuốt chòm râu bạc thều thào
Mình thiệt có phước chả bao giờ còn phải lo bị bắt cóc lấy nội tạng

2.
Cô học sinh dưới tuổi thành niên khóc vật vã còn hơn nghe tin cha mẹ chết
Chỉ vì nam thần tượng xứ Hàn của cô vừa lên xe bông
Chàng sinh viên trẻ ngáo đá, đập chai bia đứng lên quát vô mặt người cha đẻ ra mình
Ông có tin là tôi đưa ông về bên kia thế giới ngay lúc nầy hay không?
Đọc tiếp »

Hồ Đình Nghiêm
Khi nghe tin Đà Lạt sắp xoá sổ khu chợ Hoà Bình.

Anh tôi tốt nghiệp Sư phạm Quy Nhơn để rồi lên Đà Lạt làm giáo viên dạy trường Tiểu học Đa Nghĩa. Anh thuê nhà ở cuối đường Hai Bà Trưng, đi bộ đâu chừng năm bảy phút là đến trường, rất tiện lợi. Anh có chiếc xe gắn máy Suzuki dùng để chở vợ đi chợ hoặc chở tôi mỗi cuối tuần trời đẹp đi câu cá ở hồ Xuân Hương, phía bên kia cầu Ông Đạo. Xem câu cá như một thú tiêu khiển chứ không nhằm muốn làm xôm tụ bữa cơm chiều vẫn thường sơ sài đạm bạc. Những con cá chép to hơn bàn tay không mấy khi cắn câu dù anh vẫn khổ công ran cám thơm làm hương hoa chiêu dụ. Mặt hồ luôn dợn sóng, chẳng hiểu vì sao, trong khi sông Hương ở Huế mãi phẳng lặng dù bề mặt nó thoáng rộng hơn.

Tôi vừa từ chốn Thần Kinh vào ở trọ cùng anh như sự bàn tính và chỉ định của các anh chị ngay sau khi Mạ tôi qua đời. Tôi câm lặng ra đi, mắt còn mọng đỏ, dấu kín nỗi buồn trong lòng và xem sự hoán đổi ấy là một giải pháp chẳng mấy vẹn toàn. Tôi sững sờ khi xuống tới phi trường Liên Khương, Đà Lạt mang vẻ đẹp lạ lùng nằm ngoài những dự tưởng chôn chặt trong trí tôi. Đó là thứ nhan sắc nửa thơ mộng nửa quý phái. Chỉ một nửa thôi, nếu nó tròn đầy quá nó sẽ làm hỏng cái kiều diễm nó mang. Lắm lúc beauté phải tiềm ẩn chút bất toàn, bởi mong manh cũng là thứ chen vai, dự phần và tôn tạo nên cái đẹp. Một đứa con vừa mất mẹ, nó sẽ sầu thảm biết dường nào nếu đến một thành phố tiêu điều khác. Đà Lạt đón tôi, choáng ngộp như thằng con trai lần đầu bị “coup de foudre” bởi một bóng hình nữ nhân. Lạc đà là con vật giỏi chịu khát vẫn thường thồ người và đồ đoàn băng qua sa mạc. Đà Lạt là một địa danh có thể chữa lành vết thương trong tôi, dung thứ tôi, dìu tôi qua chặng đời niên thiếu lắm mộng mị.
Đọc tiếp »

Phạm Nga

1.
Anh Hiền dẫn tôi đi lòng vòng trong con hẻm cả tiếng đồng hồ mới tìm được đúng cái địa chỉ mơ hồ mà tôi muốn tìm đến. Thấy cửa khóa im ỉm, chúng tôi hỏi hàng xóm thì được biết cặp vợ chồng già người Bắc làm nghề đồng bóng này đã lần lượt qua đời sau 30-4, chỉ còn lại người con trai nhưng anh ta hiện cũng đi vắng.

Thấy bộ mặt thất vọng của tôi, anh Hiền rủ đi uống café:

– Anh muốn viết về nghề lên đồng, hát chầu văn của người Bắc? Mình tìm đến ông bà này là đúng chỗ rồi, hồi xưa cả hai rất nổi tiếng ở vùng Phú Nhuận, giờ tiếc là…

– Vậy anh rành về chuyện đồng cốt của người Bắc lắm hả, kể nghe đi. Tôi thì chỉ biết chút ít về chuyện lên đồng, nhập xác của dân Nam bộ thôi.
Đọc tiếp »

Mặc Phương Tử
Tặng Lê Đăng Mành, Kha Tiệm Ly, Nhã My, Ca Dao cùng quý thi hữu thơ Đường.

Dâu bể đôi bờ đường thế nhân
Lãng du chừ, trót cuộc phong trần!
Thuyền về bụi vẳng chiều sương rụng
Trăng lạnh non ngàn lệ đá ngân.  Đọc tiếp »

Trần Thoại Nguyên

Tiếng hát Thu Vàng

Tặng Ca sĩ Thu Vàng

Đêm đã về khuya màu trăng úa
Vẳng đâu đây tiếng hát Thu Vàng
Cây lá lặng thinh mơ góa bụa
Tiếng ca cao vút bóng sương tan

Có ai về lại mùa Xuân trước
Về lại mùa xanh mộng bướm hoa
Tiếng hát đường thai bay lả lướt
Chập chờn vườn khuya cánh tiên nga
Đọc tiếp »

Phạm Đình Trọng


Nguyễn Đăng Quang, Chủ tịch Tập đoàn Masan

Theo dõi cuộc chiến trên truyền thông giữa nước mắm Việt và nước chấm hóa học Masan, tôi thấy các bài viết đã chỉ ra sự mờ ám, gian dối, bất lương của Dự thảo TCVN12607.2019 về quy phạm thực hành sản xuất nước mắm do cục Chế biến và phát triển thị trường nông nghiệp thuộc bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ngạo ngược trình ra và nhăm nhe thực hiện. Qua đó cũng thấy đươc sự man rợ, mất tính người của những kẻ mưu mô giết hại một nghề tinh của tài hoa Việt Nam, loại bỏ nước mắm Việt ra khỏi đời sống người Việt cho thứ nước chấm hóa học Masan lên ngôi, độc chiếm thị trường, độc quyền trong bữa ăn hàng ngày của người Việt.

Chỉ vậy thôi cũng đã thấy cơ quan nhà nước cộng sản hiện nay được đồng tiền thuế máu, mồ hôi, nước mắt của dân nuôi nấng nhưng đã đốn mạt phản lại dân và cũng cho thấy đội ngữ quan chức đã bị quyền lực đồng tiền của những con buôn bất lương sai kiến như thế nào. Dự thảo về quy phạm thực hành sản xuất nước mắm của bộ Nông Nghiệp cũng tanh tưởi nhức nhối như những BOT trấn lột móc túi người dân của bộ Giao Thông mọc lên nhan nhản như phường lục lâm thảo khấu nổi lên thời xã hội nhiễu nhương, mục nát, quan tham là cướp cả đêm lẫn ngày – Thơ Nguyễn Duy.
Đọc tiếp »

Trần Huy Sao

Một thời tình nóng & lạnh

hồi em áo trắng Bùi thị Xuân
Đà Lạt
rồi chuyển trường về Nữ Học
Nha Trang
Núi xa Biển khiến lòng tôi hoạn nạn
nỗi lòng…

Núi
trầm mặc ngàn thông
bao phủ sương mù
Biển
dạt dào sóng vỗ
dã tràng se cát
Đọc tiếp »

Tưởng Năng Tiến

Quỷ Lộng Chùa Hoang (Thành ngữ Việt)

Bố mẹ tôi đều gốc gác nông dân, và đều là những phật tử thuần thành. Cũng như bao nhiêu người dân Việt chân chất khác, ngoài việc cặm cụi mưu sinh, đời sống (văn hoá, tinh thần, tâm linh) của ông bà – dường như – chỉ xoay quanh việc kinh kệ, chùa chiền, lễ bái, cúng dường …

Thưở ấu thơ (khi còn “lon xon như con với mẹ”) vào những lễ tết, tôi vẫn lon ton theo chân thân mẫu đến chùa. Vì đây là đất Phật nên bà yên tâm để tôi tha thẩn khắp nơi, suốt buổi, trong khi bận rộn làm công quả.

Cho đến lúc có thể đi đây, đi đó một mình thì tôi (thôi) không bao giờ lai vãng đến chùa chiền gì nữa. Không gian tâm linh của nơi thờ phượng tĩnh lặng và trang nghiêm quá, xem ra, không hợp lắm với cái “tạng” hiếu động của tôi!
Đọc tiếp »

Song Thao


Nhà thơ Thành Tôn, người và sách

Thời giờ đi chơi như ánh chớp. Không biết sao cho đủ. Tới Cali, người đầu tiên tôi ới bao giờ cũng là Thành Tôn. Cà phê cà pháo, ăn nhậu sương sương, ké xe của anh đi gặp bạn này bạn khác, nhưng tiết mục phải có bao giờ cũng là tới nhà anh. Có thời giờ thì được chị cho ăn mì Quảng. Không có thời giờ thì dăm ba câu chuyện vội vàng. Nhưng phải là tại nhà anh. Chẳng phải vì anh mà vì sách.

Trong văn giới Việt Nam tại hải ngoại có hai người khổ sở vì sách là Trần Hoài Thư và Lê Thành Tôn. Trần Hoài Thư có tên cúng cơm là Trần Quý Sách. Tên nào cũng…khổ. Tên Hán Việt “Hoài Thư” hay tên thuần nôm “Quý Sách” đều vận vào người như nhau. Anh vất vả sưu tầm và phổ biến kho tàng văn chương thời Việt Nam Cộng Hòa. Những đầu sách anh đã tự tay in và phát hành và nhất là Thư Quán Bản Thảo là tim óc, mồ hôi và, đôi khi, nước mắt của anh. Với tên cúng cơm và bút hiệu, anh là một người quý sách có cầu chứng tại tòa. Cái tên Lê Thành Tôn không được chính thống như vậy nhưng anh cũng là người quý sách có tiếng. Tới thủ đô của dân tỵ nạn Việt Nam, cứ theo Thành Tôn là có thể liên lạc với toàn thể giới viết lách vẽ vời tại đây. Anh như con chim bay qua bay lại với những cuốn sách quặp nơi chân. Anh chuyển sách một cách say sưa, không bao giờ biết mệt. Trên tay anh, trên xe anh, lúc nào cũng có sách. Khi qua Mỹ định cư, hành lý của anh cũng chỉ toàn sách. Sách không phải như bánh kẹo, hũ mắm, con tôm, con cá mà người rời nước mang theo dễ dàng. Sách, nhất là sách của thời trước 1975, là thứ phải đút lót mới mang ra khỏi nước được. Anh đã phải chi tiền. Nhưng sách anh mang theo đâu có phải là sách cho anh. Anh mang qua cho tác giả những cuốn sách đó dù không biết họ ở đâu, làm cách nào cho châu về hiệp phố. Những sách đó anh đã thấy trên vỉa hè sách cũ, nhiều cuốn có chữ ký tặng của tác giả. Những đứa con vất vả lưu lạc đó, anh bỏ tiền ra thu thập chờ ngày xuất cảnh. Qua tới đất tạm dung, anh tìm từng tác giả, tặng lại họ những đứa con họ phải dứt tình bỏ lại để ra đi.
Đọc tiếp »

Mặt trời Xuân

Posted: 25/03/2019 in Thơ, Trần Thụ Ân

Trần Thụ Ân


Soleil de printemps
Đỗ Thành

Ở giữa lòng tôi, khung cửa sổ
Mặt trời hồng vừa mới bay lên
Có phải Xuân vừa đến bên thềm?
Mưa mới tạnh, tóc người mới ráo?

Ở giữa lòng tôi, những đường máu
Đã xanh màu mạ mới mọc lên
Những dòng sông vẫn chảy êm đềm
Bên đám cỏ vàng, hoa ửng đỏ
Đọc tiếp »

Giã từ

Posted: 25/03/2019 in Locphuc., Thơ

Locphuc.

Những hình những bóng cứ rời xa
Trườn lên nỗng cát tợ sóng nhòa
Rồi vội lao về bên kia biển
Với một đại dương ở tít xa.

Bao giấc mơ say đẹp hoàng hôn
Rời bỏ tôi đi để trắng hồn
Ở phía chân trời cong cong ấy
Liệu có riềm mi với môi hôn?
Đọc tiếp »

Nguyễn Mạnh Trinh


Nhà văn Đặng Trần Huân (1929-2003)

Tháng ba, có nhiều ngày để tưởng nhớ. Tháng ba, có những ngày giỗ Hữu Loan, Thanh Tâm Tuyền, Nguyễn Ðức Lập… và ngày 21 tháng ba là ngày giỗ Ðặng Trần Huân. Nhìn những cuốn sách có một lớp bụi mỏng mà tôi biết là những công trình tim óc của một người lênh đênh trôi nổi với văn chương, bềnh bồng trôi dạt với thời thế, tôi lại nhớ đến cái lạnh lùng của đời người. Rồi mọi chuyện cũng qua. Rồi tất cả cũng sẽ vào quên lãng. Có phải? Tự nhiên, tôi muốn viết về chân dung một tác giả có nhiều đóng góp cho văn chương Việt Nam.

Nhà văn Ðặng Trần Huân là một trường hợp đặc biệt của hai mươi năm văn học miền Nam và ba mươi năm văn học Việt Nam hải ngoại. Trước năm 1975, mặc dù là một sĩ quan thuộc Cục Tâm Lý Chiến phụ trách tòa soạn các tờ báo quân đội trong một thời gian dài nhưng chỉ xuất bản có vài tác phẩm như tập truyện ngắn Ngày Vui năm 1962, truyện dịch Hải Ðảo Thần Tiên năm 1963, bút ký Thành Phố Buồn Thiu năm 1979, và tập truyện vui Chuyện Cấm Ðàn Bà (hai tập) năm 1969 và Chuyện Vợ Chồng năm 1970. Sau năm 1975, ông bị tù cải tạo đến năm 1988, được trở về rồi năm 1992 thì định cư tại Hoa Kỳ theo diện HO. Chỉ trong 5 năm ông đã xuất bản liên tiếp ba tác phẩm dù tình trạng gia cảnh khó khăn, mỗi cuốn sách ra đời là cả một công trình thành quả từ những cố gắng. Ba tác phẩm ấy là bút ký Hành Trình Một Hát Ô xuất bản năm 1995, tập tạp văn Những Người Thích Dấu Huyền in năm 1998 và chuyện văn nghệ Chữ Nghĩa Bề Bề xuất bản năm 2000.
Đọc tiếp »

Bùi Nguyên Phong

Mưa tháng tư

Tháng Tư mưa về bất chợt.
Mưa giăng trắng xóa khoảng trời.
Mưa đồm độp qua kẽ lá.
Run run héo hắt môi người.

Sợi mưa căng ngang nỗi nhớ.
Tí tách khoét sâu vào hồn.
Từng giọt…từng giọt thánh thót.
Giọt nhớ thương…giọt tủi hờn.
Đọc tiếp »

Trần Bạch Thu

Máy bay đáp xuống phi trường Seattle vào khoảng giữa trưa. Trời đượm mây mù xám ngắt. Nhìn ra khung cửa thấy cả một khoảng không gian bát ngát đồi núi chập chùng. Lác đác bóng người nhỏ xíu mặc áo công nhân màu xanh đọt chuối, đầu đội mũ nhựa trắng đang làm nhiệm vụ hướng dẫn máy bay vào chỗ đậu. Văng vẳng tiếng người tiếp viên phi hành phát thanh rè rè qua loa báo thời tiết và nhiệt độ bên ngoài. Mọi người nhốn nháo đứng lên chuẩn bị mở ngăn phía trên để lấy hành lý xách tay.

Trong lòng như còn đang đi trên mây. Tôi bước ra khỏi khoang máy bay cùng với dòng người mang túi xách tay bằng ni-lon trắng có in hình IOM màu xanh dương đậm của Liên Hiệp Quốc. Đi cạnh anh bạn người Cái Bè nguyên là Đại úy quân đội trước đây. Anh bảo:

– Gia đình chú đúng tiêu chuẩn hai vợ chồng tay dắt đứa con.
Đọc tiếp »

Babui


Biếm họa của Babui

Nguồn: Tác giả gửi

Khổng thị Thanh-Hương

Ngày Thứ Bẩy mồng 9 tháng Hai, năm 1985, bố mẹ tôi đã được trông thấy một mảnh Thiên Đàng trong vòng hơn 20 cây số, trên Quốc Lộ 15, khúc đường đèo quanh co. Hơn 34 năm sau, ngày Thứ Năm mồng 7 tháng Ba năm nay, chàng và tôi có một kinh nghiệm tương tự, dù chỉ trong tích tắc.

Chiều hôm đó, sau khi ra khỏi lớp Hawaiian, hai đứa lái thẳng về nhà, vì thời tiết lạnh hơn thường lệ. Mọi khi, chúng tôi hay ghé Coconut Island (Đảo Dừa hay là Đảo Chữa Bệnh) để đi bộ ra ghềnh đá ngắm trời, ngắm mây, coi trẻ con phóng xuống biển từ một cái tháp xây bằng đá dung nham, trước khi nhúng đôi chân trần vào nước mát.
Đọc tiếp »

Cũng

Posted: 22/03/2019 in Chu Vương Miện, Thơ

Chu Vương Miện

đều là cái con người
da trắng mặt xanh mũi lõ
da vàng mũi tẹt mắt nâu
đều máu đỏ
đầu đội trời
chân đạp đất
không giai cấp
không còn cảnh người bóc lột người
ai cũng đảng viên
ai cũng chủ tịch
thì còn ai là đồng bào
để lột
nếu tất cả mọi người
đều ngồi trên kiệu
thử hỏi? còn ai khiêng kiệu?
các vị đọc là hiểu
Đọc tiếp »

Phan Tấn Hải


Nhà thơ W. S. Merwin (1927-2019)

Nhà thơ W. S. Merwin vừa từ trần trong một giấc ngủ hôm 15/3/2019. Trong gần nửa thế kỷ, ông cũng nổi tiếng là một Phật tử, thực tập theo Thiền Tông Nhật Bản. Cuộc đời ông là một điển hình của giới trí thức Hoa Kỳ thập niên 1960-1970s, nhiều người nghiêng về Phật giáo khi nhìn thấy xã hội Hoa Kỳ tranh cãi về Chiến Tranh Việt Nam và khắp thế giới chiến tranh như dường bất tận.

Nhà phê bình thi ca Reginald Shepherd viết trên Poetry Foundation về các thi phẩm  thời kỳ đầu của Merwin, được viết trong thời Chiến Tranh Việt Nam: “Đó là những bài thơ không được viết cho một nghị trình [chính trị], nhưng đã thiết lập ra một nghị trình. Trân trọng giữ gìn và tái sáng tạo thế giới trong những chữ từ ái. Merwin luôn luôn quan tâm với quan hệ giữa đạo đức và mỹ học, cân nhắc cả hai phía đồng đều nhau. Thơ của ông là một đáp trả đối với một thế giới đã tan rã, không phải như những vùng địa lý nhưng là như các sự kiện thẩm mỹ.”
Đọc tiếp »

Hoa Nguyên

Đứng mãi làm chi! tàn pho tượng
Ta đi về cho kịp chuyến tàu
Ô cửa nhỏ có gì khiên cưỡng
Chiều lâm ly qua những ngọn lau

Cô nữ sinh thời nhiên hậu
Chưa kịp mừng ngày Thánh nữ em
Ta về đây mang điều hệ lụy
Và nỗi buồn chưa kịp thôi miên
Đọc tiếp »

Khê Kinh Kha


Piano Rouge
Vũ Thái Hòa

Thơ: Diễm Phương; Nhạc: Khê Kinh Kha; Tiếng hát: Bảo Yến
ban_ky_am

Nguồn: Tác giả gửi nhạc và âm bản mp3

Hồ Đình Nghiêm

– Bạn thích đọc truyện dài, ngắn?

– Tuỳ thuộc vào cái dở hoặc hay. Nhưng nói nào ngay dạo này tôi lười lắm.

– Đương hưu non mà, biết làm gì cho hết ngày? Thổi lửa nấu cơm vẫn tốt hơn là trụng mì ăn liền chớ?

– Tuổi này tự dưng mắt mờ, tay yếu, chân run, làm gì cũng chẳng ra đầu ra đuôi. Không làm bà xã hài lòng, đêm hôm nghe bả ngầy ngà cho tới sáng.

– Chữ ngầy ngà đồng nghĩa với rầy la, thấy không tới, không thơ mộng cho bằng ba chữ “nghe chim hót”.

– Ừ, thương người thì nên hoán đổi. Chim quyên ăn trái nhãn lồng, chích choè cao giọng đèo bồng ngũ cung. Chào mào sợ ná dây thun, riêng con chim sẻ mình thu nhỏ dần.
Đọc tiếp »

Lý Thừa Nghiệp

Mưa hạ

Treo tôi lơ lững hiên trời
Nghe cơn mưa hạ gõ thời vãng lai
Lâm râm giọt vắn giọt dài
Tóc sương trổ muộn một vài búp sen
Cỏ xanh đợi tiếng dế rền
Tôi mang mùa hạ lênh đênh theo người.
Đọc tiếp »

Babui


Biếm họa của Babui

Nguồn: Tác giả gửi

Tưởng Năng Tiến

BOT ĐẶT SAI VỊ TRÍ LÀ ĂN CƯỚP. (FB Nho Vu)

Tôi tạt ngang qua Kuala Lumpur đôi ba lần. Lần nào cũng ngụ ở Phố Tầu vì giá nhà trọ rẻ, lại cạnh bến xe, rất tiện cho việc đi lại và ăn uống. Gần cuối con đường lớn có tiệm Nam Heong Chicken Rice Chinatown, khai trương từ năm 1938, khách khứa lúc nào cũng ra/vào tấp nập.

“Chắc ngon, ngon chắc.” Tôi tưởng vậy. Thiệt là Tưởng Tầm Bậy. Cũng tạm được thôi, chớ thua cơm gà Hải Nam (San Jose) hay Nam An và Tasty Garden (Westminster) ở California xa lắc. Chỉ được cái là tiền bạc rất nhẹ nhàng: mỗi phần ăn chỉ cỡ 3 Mỹ Kim thôi là no chết mẹ luôn!

Chợ Nhà Lồng, tên chính thức là International Foods Center, cách đó chừng vài trăm mét cũng vậy. Mọi thứ cũng rẻ rề hà. Họ có khoảng hai chục quầy thức ăn của nhiều quốc gia lân cận: Thai, India, Indonesia, China, Pakistan … đủ mặt. Bia bốc thì đủ loại (Tiger, Leo, Heineken, Carlsberg, Chang, Singha, Asahi…) với giá cả vô cùng nhân nhượng.
Đọc tiếp »

Nguyễn Minh Phúc

Cho mẹ nhân ngày 8/3

Mẹ về theo giấc chiêm bao
Lời ru như thuở năm nào mẹ ru
Chiều trên mộ mẹ mây mù
Hay là mẹ khóc tạ từ đàn con

Ngày xưa mẹ dạy trên non
Nuôi con chín đứa tuổi còn thơ ngây
Trà Bồng, rồi Tịnh Ấn Tây
Mẹ nào có biết ngày nầy tháng ba
Đọc tiếp »

Phan Ni Tấn

Nhạc và lời: Phan Ni Tấn; Tiếng hát: Hương Lan
ban_ky_am


Hương Lan và Phan Ni Tấn

Nguồn: Tác giả gửi nhạc, âm bản mp3 và ảnh.

Ý Ngôn

Tết vừa rồi hai vợ chồng tôi có về Việt Nam “ăn Tết”, sẵn dịp thăm bà con cùng là cúng kiến thăm mồ mã ông bà. Tôi có ghé qua cái xóm cũ của mình coi nó giờ ra sao, giờ nó lạ nhìn không ra, người ở đó một phần thì chết do tuổi già, phần thì bỏ xứ đi tứ tán khắp bốn phương trời, chỉ còn lại một hai gia đình là còn bám trụ lại cái xóm ngoại ô đèn vàng nầy. Con Tám, nhỏ bạn học cùng lớp thời trước, gặp tôi hỏi “Nguyệt còn nhớ mình không? Tám bánh ú nè!”. Tôi với nó vẫn mày tao như ngày xưa, má nó bán bánh ú bánh tét ngoài chợ nên bạn bè lối xóm kêu nó là Tám bánh ú, để phân biệt với con Tám Điệu là con nhỏ con nhà giàu mà hay làm điệu, quần này áo nọ, đi học mà dám đánh phấn thoa son. “Nguyệt còn nhớ thằng Nhiều không? Thằng Nhiều là em anh Đông chị Đầm con chú Hai ở xóm mình đó, hôm trước nó có về chơi, nó bữa nay mập tù lù tóc bạc muối tiêu trông già lắm”.
Đọc tiếp »

Nguyễn An Bình

Tiếng chim trong thành nội

Hình như có tiếng chim trong tàng lá
Ríu rít điều gì làm nắng xôn xao
Giọt nắng vàng ngập ngừng lòng tôn nữ
Ánh mắt lá râm lẩn trốn nơi nào.

Mái ngói âm dương nhuốm màu cổ tích
Nước hồ thơm từng cánh lá gương sen
Mắt rưng rưng trước mái vòm u tịch
Giấc mơ trôi hồn thiên cổ trước đèn.
Đọc tiếp »

Đỗ Trường


Thi sĩ Nguyễn Tất Nhiên (1952-1992)

Khi ngôi sao mai Nguyễn Nho Sa Mạc chợt vụt tắt, khoảng trống để lại tưởng như khó có thể bù lấp, thì may mắn thay, trên vòm trời thi ca xuất hiện một Nguyễn Tất Nhiên. Tuy còn tuổi học trò, và khác nhau về thi pháp sáng tạo, nhưng có thể nói, Nguyễn Nho Sa Mạc và Nguyễn Tất Nhiên là hai thi sĩ đích thực. Sự xuất hiện của họ góp phần làm dịu mát, và giải tỏa sự bế tắc của văn thơ, cũng như âm nhạc miền Nam trong giai đoạn chiến tranh khốc liệt nhất của dân tộc.

Đọc và đi sâu vào nghiên cứu, ta có thể thấy, thi sĩ Nguyễn Tất Nhiên tên thật là Nguyễn Hoàng Hải, sinh năm 1952 tại Biên Hòa. Ông là hiện tượng rất đặc biệt của văn học miền Nam. Cái đặc biệt ấy, không chỉ ở tài năng chín sớm, mà ta còn thấy rõ ý tưởng, cũng như hình tượng và ngôn ngữ mới lạ trong thơ Nguyễn Tất Nhiên.
Đọc tiếp »