Nguyễn Văn Sâm


Quốc trưởng Phan Khắc Sửu (1905-1970)

Cụ Sửu’ là tiếng thân kính toàn thể 116/117 dân biểu Quốc Hội Lập Hiến (Sàigòn, 1966-1967) gọi cụ Phan Khắc Sửu, những đồng viện trẻ thì không nói làm gì, cả những đồng viện ngang tuổi cụ như DB Huỳnh Thành Vị, đơn vị Sàigòn hay DB Huỳnh Bình Yên đơn vị Vũng Tàu hoặc DB Nguyễn Văn Tho của đơn vị Cần Thơ hay DB Nguyễn Bá Lương đơn vị Phước Long cũng vậy. Tiếng gọi thân kính nầy tôi cũng nghe từ những người bạn tranh đấu với cụ Sửu như DB Trần Văn Văn đơn vị Sàigòn, DB Phan Quang Đán đơn vị Gia Định hay những người có thành tích cách mạng ở miền Trung như DB Trần Điền đơn vị Thừa thiên, DB Phan Thiệp đơn vị Quảng Nam (Ngãi ?)…

Sự thân kính đến từ đâu vậy? Không phải chỉ vì cụ lớn tuổi, không phải vì cụ thân thiện với những đồng viện mà căn bản là vì sự kiên cường trong quá khứ khi tranh đấu với thế lực ngoại bang (thực dân Pháp) hay đối đầu với những người theo phương cách cai trị mà theo cụ sẽ đưa nước nhà đến chỗ tồi tệ, nguy hại. Vì vậy khi cụ bị thực dân Pháp giam ở Khám Lớn trước 1945, mỗi ngày họ dẫn tù đi ngang qua một văn phòng có treo cờ tam tài họ bắt toàn thể tù nghiêm chỉnh cúi đầu chào thì Cụ Sửu phản đối sự kiện nầy và hình như mỗi ngày cụ ‘đều ăn một vài ba-trắc lên đầu, khiến cho đầu tôi u nần không bao giờ lặn’. Cụ Sửu kể lại chuyện nầy với nụ cười hiền nhưng đầy vẻ ngao ngán khi nói chuyện thân tình với các DB trẻ.
Đọc tiếp »

Luân Hoán
(tạ lòng người gợi ý)

chắc không đến nỗi mời lơi
cũng muốn luôn tiện thăm chơi nhưng mà…
cân nhắc do dự cái ta
sức yêu còn lực ngắm hoa qua đường
ngắm suông chỉ tổ thêm buồn
phụ tính quí chuộng sắc hương một đời

đi chơi không ra đi chơi
sợ sẽ ngủ gục khi ngồi hóng câu
sứ mệnh gắn kết liền nhau
ơi một dân tộc chân đầu chia phân
mong rằng đến lúc cái tâm
hồi hướng về lại núi sông chân tình
Đọc tiếp »

Trangđài Glassey-Trầnguyễn


Nhà văn Hồ Đình Nghiêm

20 tháng 10 năm ni
sinh nhật thơm giòn cõi trước
văng vẳng nến chữ hiện về
mừng người âm ty thức dậy

tay chân, ừ rằng, ừ rí
từ cọ, từ sắc, từ tranh
cố đô nửa đời thắt dạ
đầu thai trong ngực, nằm ì
Đọc tiếp »

Song Thao


Nhà văn Hồ Đình Nghiêm

Nghiêm là tên anh bạn văn nhỏ tuổi của tôi. Cái tên nghe như một khẩu lệnh không được ưa chuộng trong quân đội. Tên không phải là người. Nghiêm không…nghiêm, nhưng kín. Anh rất thiếu thoải mái trong giao tiếp. Cũng như anh bạn xứ Quảng Luân Hoán của chúng tôi. Cả hai rất e dè trong tiếp xúc.

Chẳng phải hai người bạn miền Trung của tôi chỉ giống nhau có vậy. Họ còn nhiều điểm tương đồng. Cả hai cùng không ăn cá, không ăn chim. Loài chim bị chê này còn mở rộng tới…gà, vịt, ngan, ngỗng. Cứ có cánh là không chơi, chắc hai ông này sợ bị bay lên trời mất tiêu! Cá và chim trên bàn nhậu được hai ông này nhìn với cặp mắt lơ là. Nhưng hai ông bạn này, một trẻ, một sắp già, cũng có điểm khác biệt. Ông Luân Hoán không hảo chất cay. Ông chỉ nhấm nháp chút đỉnh rượu vang rồi ăn phở. Muôn đời ăn phở chỉ vì thịt trong phở là thịt bò, không gà không cá. Phở có lạt thì ông coi như “nơ-pa” vì ông không bao giờ nhúng miệng vào nước mắm. Chẳng lẽ mang tội giết chết phở bằng …xì dầu! Có lúc nhìn ông Luân Hoán xích hũ nước mắm trước mặt ông ra chỗ khác vì cái mùi đặc trưng của nó, tôi thắc mắc không biết ông này có phải là con dân xứ nước mắm không. Nhưng khi tới nhà ông, thấy hộp thư trước cửa sơn hình cờ vàng, thắc mắc này lại nguội mất tiêu!  Ông Nghiêm thì khác. Ông không bao giờ nhấp rượu vang, dù chỉ chút đỉnh. Anh em đi nhậu thường xách theo rượu vang. Ông chê. Ông thủ theo hai lon bia. Ông chỉ uống bia. Khác với một ông Huế khác là ông Hoàng Xuân Sơn. Ông này uống…thập cẩm. Cứ chất chi có tí cay là ông đổ vào miệng, không phân biệt…chủng tộc.
Đọc tiếp »

Nguyễn An Bình

Tóc nhớ

Thả bay đi nỗi buồn
Thơm làn hương buổi sáng
Tình trong xanh suối nguồn
Cùng giấc mơ huyền hoặc.

Có tiếng chim chiền chiện
Hót đâu đây bên hồ
Lòng bỗng dưng héo úa
Rời cành chiếc lá khô.
Đọc tiếp »

Tri kỷ

Posted: 23/10/2017 in Hoàng Minh Châu, Thơ

Hoàng Minh Châu

Cũng không phải là dòng suối thủa thiếu thời
Cũng không phải là cánh rừng thu mưa ướt đẫm
Cũng không phải hoàng hôn trên biển mỗi chiều
Cuối đời mới biết kẻ tri kỷ của tôi là dòng sông mênh mông sương mù buổi sáng

Tôi nắm lấy tay dòng sông như nắm lấy hạnh phúc
Mặt trời đâu đó hẹn hò
Hương như từ rừng già lênh đênh với bầy củi mục
Lá trở về với rong rêu
Chỉ có tôi và dòng sông
Chỉ có tôi và em
Chỉ có bờ đá luyến lưu cơn cuồng lũ
Sự kết nối giữa rừng và biển
Cũng như con đò cô đơn đưa khách qua sông
Sông đưa nghìn xưa về với nghìn xa và mãi mãi
Đọc tiếp »

Đỗ Trường

Tôi có ông bạn, học Đại học an ninh cùng khóa với Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh, Phó chủ tịch Hội nhà văn VN Nguyễn Quang Thiều, và nhà văn Thùy Linh… Đang là an ninh nhòm ngó, chọc ngoáy khắp nơi, không hiểu thế quái nào lại chuồn sang Đức, xung vào đội quân lao động, đánh thuê trên ba chục năm nay. Không những vậy, khi ổn định giấy tờ, công ăn việc làm, hắn đưa tất tật tật vợ con, anh chị em sang Đức. Dù vợ hắn đang là Chef một công ty kinh tế của quân đội. Một vị trí, nói như giới chè chén vỉa hè là: Đắc địa. Ngày thống nhất nước Đức mùng 3 tháng 10 vừa rồi, ngồi khật khừ, đang xoáy về đề tài dã man của người Việt, đối với kẻ đánh bả và trộm chó, khi đã bắt được, xúm vào đánh hội đồng cho đến chết. Đột nhiên hắn vỗ vai tôi, bảo: Thời nay, không chỉ bọn bắt chó trộm mới biết dùng Bả nhé. Mà bọn quyền chức càng cao, thì kỹ thuật sử dụng Bả (chó) càng tinh vi và thâm hậu.
Đọc tiếp »

Nguyễn Tam Phù Sa

Tháng chín
trời cho/trò chơi quyền lực
toàn dân, nơi nào cũng được tắm mưa
đường phố thành đường sông
làng quê chìm trong biển nước
nước Thủy Điện Hòa Bình xả đập
nước từ rừng xanh cọc còi tuôn đổ
nước mắt 6 tỉnh phía Bắc
nước mắt con dân Việt Nam trong và ngoài nước
tuôn đổ
không ai nói với ai về ngày quốc tang
về nỗi đau xé lòng mưa tháng chín
Đọc tiếp »

Trịnh Y Thư


Ô Quan Chưởng
Bùi Xuân Phái

Phế tích của ảo ảnh (5)

Tôi khoác lên người bộ xương khô của chính tôi
bộ máy bài tiết trong ngoài thua thiệt
lưởng thưởng ở một nơi độ ẩm làm người ta chết ngộp
nóc giáo đường xám xỉn thánh giá ngại ngùng làm ngơ.

Từ con phố một chiều tôi đi tìm thần rùa
hàng cây tất bật nhưng chẳng ai thèm quan tâm
đất đá chộn rộn thần rùa nghìn năm mất ngủ
riết róng một trận mưa rào hơi đất tắc nghẹn
chu kì hanh hao nơi khúc quành công đoạn phất phơ.
Đọc tiếp »

Hồ Đình Nghiêm

Ngự bình là gì? Tôi ngó đứa cháu xa quê đã lâu. Chừng năm phút sau tôi mới có được câu trả lời. Nghĩa là ngồi trên chữ an lành, tao đồ vậy. Nghĩa là tên gọi một ngọn núi có chút tiếng tăm ở Huế.

Chúng tôi đang ngồi dưới chân nó, đang tìm chút an vui bằng cách thụ hưởng cà phê cà pháo trong quán nhỏ bên đường. Đời đẻ ra một bọn người chuyên làm chuyện “động trời”, tiếng đập đá từ bên sườn núi mãi vang vọng, chát chúa, đinh tai. Bụi không ngừng lân la tới bên thềm, đang từ tốn phủ mờ những chiếc xe gắn máy dựng ngang dọc.
Đọc tiếp »

Nguyễn Minh Phúc

Viết trên đồi Vọng Cảnh

thì thào ngọn gió chiều rơi
dòng Hương trôi phía chân trời ngất ngây
dùng dằng nước chùng chình mây
ngày trôi rất khẽ buồn lay lắt buồn

cao thoai thoải dốc chiều buông
hàng dương xỏa tóc gió luồn đồi thơ
trên tay cầm khói sương mờ
thả vào chiều thấp mây chờ hoàng hôn
Đọc tiếp »

Nguyễn Văn Gia

Đã trao ấn kiếm
buồn chi nữa
Buổi xếp hoàng bào
biệt cấm cung
Hỡi ơi
vua chúa còn mơ ngủ
Thì huống hồ chi
kẻ thứ dân  Đọc tiếp »

Tưởng Năng Tiến

Một chế độ gồm toàn khuôn mặt thớt. (Phan Huy)

“Tôi đã từng rất ngạc nhiên khi được biết quyền tự do đi lại và cư trú, đặc biệt là quyền tự do xuất nhập cảnh dành cho chính công dân Việt là điều kiện tiên quyết mà Chính phủ Việt Nam phải chấp nhận để nhận được các khoản vay từ World Bank.” Tôi nghe thạc sĩ Trần Kiên nói vậy, và cũng “ngạc nhiên” không kém.

Hoá ra tại vì World Bank nên nhiều câu ca dao (mới) của VN đã chóng bị thời thế vượt qua, và sắp chìm vào quên lãng:

Trăm năm trong cõi người ta
Ở đâu cũng được đi ra đi vào
Xa xôi như xứ Bồ Ðào
Người ta cũng được đi vào đi ra
Ðen đủi như An-Go-La
Người ta cũng được đi ra đi vào
Chậm tiến như ở nước Lào
Người ta cũng được đi vào đi ra
Chỉ riêng có ở nước ta
Người ta không được đi ra đi vào

Đọc tiếp »

Nguyễn Lương Vỵ

I.
ngàn thu xưa về nhẹ trên vai
trăng cổ lâu xanh những dấu hài
lãng mệnh tình tang lau nếp gấp
cuồng thi tính tịch nhại trần ai
cố cựu còn nghe sông máu chảy
thanh tân vẫn thấy núi xương phai
sử lịch ác nhơn chi lắm vậy
ngàn thu xưa mai sau ngân dài.
Đọc tiếp »

Trần Huy Sao

Đồi xanh

…trời đang Thu se lạnh
đồi xanh dõi mây bay…

vậy đó tháng Mười dưng trở lạnh
chưa kịp cười ngày đêm đã tối
huống nữa cuối Thu trời rét đậm
đường về e thấm đẫm nỗi buồn…
cỏ xanh mai nữa rồi cỏ úa
mây trắng rồi qua mây xám giăng
xuân hạ thu đông xoay lần lựa
người đi người ở lẽ thường hằng…
Đọc tiếp »

Phạm Hồng Ân


Tranh của Lê Trung

Năm tôi mười lăm. Chị Hường đã mười chín, hai mươi tuổi. Năm đó, tôi chuẩn bị thi trung học đệ nhất cấp. Trong khi chị nghỉ học, ở nhà trông coi sản nghiệp của gia đình. Ba má chị là thợ máy, phải lên Sài Gòn, chạy theo công việc. Chị thui thủi một mình, nên thường ra quán kiếm tôi, nói chuyện dưới đất trên trời. Sản nghiệp gia đình chị, thật ra chỉ có một căn nhà để che gió che mưa, và một thẻo đất chứa đầy những chiếc Peugeot vẹo đầu sứt đuôi thời xa lơ xa lắc. Những chiếc xe rêu phong đã phủ đầy, cỏ dại mọc kín, vậy mà chúng vẫn nằm đó, ngó tuổi thơ chị Hường đi lên, một cách tội nghiệp. Chị càng lớn càng đẹp. Cái đẹp mộc mạc, mặn mà của loài hoa thôn dã. Lúc này, họa sĩ Lê Trung nổi tiếng trên báo chí. Tôi thường “cọp” báo hàng ngày, nên biết rõ về ông. Những bức tranh vẽ thiếu nữ của Lê Trung, thường để lại trong tôi ấn tượng rất đẹp. Chẳng biết ông họa sĩ tài hoa có bao giờ đến Cà Mau chưa? Có gặp chị Hường chưa? Sao mà những bức tranh thiếu nữ nào, cũng giống hệt bóng dáng diễm kiều của chị?
Đọc tiếp »

Hoàng Xuân Sơn

prelude

dạo khúc
dạo
khúc
người đi bộ ban mai
không cần chạy theo tiếng hát
lần theo dây kéo
thanh tỏa
ngực đòng và nhụy rừng
và hương
vương
nét thở êm phát sương ngàn lá
lóng lánh mầu tinh anh huyền nụ
đừng đi sâu vào sự bí mật của rừng
sớm muộn gì mặt trời cũng sẽ
soi mói từng gai góc
khi mặt đá mòn nhẵn
hãy bình thanh
dạo chơi
cùng sắc tố vô nhiễm
Đọc tiếp »

Trùng tu

Posted: 19/10/2017 in Lê Phước Dạ Đăng, Thơ

Lê Phước Dạ Đăng

sau chiến tranh, liên tục trùng tu
cắm hom khoai mì thay vườn cam – dấu tích kinh tế thời tư sản
xếp gọn những tà sắc màu rực rỡ chân chính trùng tu bằng áo đen vai mộc chỉ sô
cắt nham nhở ống, xé toạc quần loe, rút gọn ngắn vô
hớt cao liếm sát mái tóc uốn lượn hippy, loại bỏ son phấn nước hoa, không cần nghệ thuật
sách dĩa vàng xanh tập trung đốt, khói che mờ mầm sống
rừng núi bạt ngàn trùng trùng đuổi theo, nép trốn chân trời  Đọc tiếp »

Từ Thức

Tại sao cái tôi, cái “égo” của người Việt lớn thế? Tôi gặp không biết bao nhiêu người vỗ ngực, tự cho mình là vĩ nhân. Không phải chỉ vỗ ngực, còn trèo lên nóc nhà gào khản cổ: tôi giỏi quá, tôi phục tôi quá, tại sao tôi tài ba đến thế?

Một lần ngồi nhậu với năm ông, có cảm tưởng ngồi với năm giải Nobel Văn Chương. Những ông như vậy, nhan nhản. Nói “ông,” vì hầu như đó là một cái bệnh độc quyền của đàn ông. Như ung thư vú là bệnh của đàn bà.

In một hai cuốn sách tào lao tặng bố vợ, nghĩ mình ngồi chung một chiếu với Marcel Proust, Victor Hugo. Làm vài bài thơ, câu trên vần (hay không) với câu dưới, nghĩ mình là Beaudelaire, Nguyễn Du tái sinh. Lập một cái đảng có ba đảng viên, kể cả em gái và mẹ vợ, nghĩ mình là lãnh tụ, ăn nói như lãnh tụ, đi đứng, tắm rửa như lãnh tụ. Viết vài bài lăng nhăng, đầu Ngô mình Sở, nghĩ mình là triết gia, trí thức, sẵn sàng dẫn dân tộc đi lên (hay đi xuống). Học gạo được cái bằng (chưa nói tới chuyện mua được cái bằng), nghĩ mình đã kiếm ra điện và nước nóng.
Đọc tiếp »

Khốn nạn

Posted: 18/10/2017 in Bùi Nguyên Phong, Thơ

Bùi Nguyên Phong

Có cả một quy trình xả lũ.
Có hẳn một kế hoạch vỡ đê
Lũ khốn nạn lòng người dạ thú
Ngồi trên xác người nhậu hả hê.

Xả lũ bảo đảm an toàn đập.
Làng xóm tan hoang khóc đứng, ngồi.
Mùa khô cho chúng mày hạn hán.
Mùa mưa tao về phía giặc trời.
Đọc tiếp »

Thu có biết

Posted: 18/10/2017 in Bảo Cường, Sông Cửu, Thơ

Sông Cửu
Tặng Quy & Thu

Bảo Cường diễn ngâm

Đêm Hồ Tây mây bay lá đổ
Ánh trăng mờ lơ lửng cô đơn
Ngày chia tay hoài Thu thương nhớ
Cung đàn nào lỗi nhịp vấn vương!

Nhạn kêu sương gọi tình ly biệt
Gốc Thu tàn tiếc lá vàng rơi
Thà ta chịu giá đông khắc nghiệt
Hơn nghe lời “vĩnh biệt” (*) Thu ơi!
Đọc tiếp »

Võ Kỳ Điền

Tôi biết ông Lưu Thành Ý trước khi biết ông Lưu Bá Ôn. Đến khi học Văn Học Sử Trung Hoa thì đọc được công trình danh sĩ Lưu Cơ với nhiều tác phẩm trong đó có bản văn nổi tiếng được truyền tụng “Mại cam giả ngôn” (Lời người bán cam). Lúc đó mới biết Lưu Cơ là Lưu Bá Ôn mà cũng là Lưu Thành Ý. Tuy gọi là ba tên, thiệt ra chỉ là một người.

Lưu Cơ đậu Tiến Sĩ, chức vụ Tể Tướng, là khai quốc công thần đời nhà Minh, giúp Chu Nguyên Chương hoàn thành đại nghiệp. Ông Lưu Cơ nầy tự là Bá Ôn, tước Thành Ý Bá. Khi đọc sử sách ta bắt gặp nhiều nhân vật khi thì tên nầy, khi thì tên kia nhưng coi kỹ lại thì chỉ là một người. Cái khó khi đọc cổ văn Trung Hoa và Việt Nam là phải biết nhiều loại đặt tên của một danh nhân, rồi phải biết phân biệt chức và tước, phẩm hàm ra làm sao và rất nhiều thứ khác biệt chi ly nữa. Rồi mỗi thời đại lại có nhiều cách khác nhau. Như Nguyễn Trãi thi đỗ vào đời nhà Hồ, thời đó chưa có danh xưng Tiến Sĩ, mà phải gọi đúng là Thái Học Sinh.
Đọc tiếp »

Hạc Thành Hoa

1.
tàu chạy rẩm rầm đến say ngất
hình như còn chậm
trên ngọn núi lửa
đang phun trào
ngồi ngơ ngẩn nghĩ mông lung
về một chuyến đi đã mong đợi từ lâu
Đọc tiếp »

Khaly Chàm

thơ cuồng đẫm rượu bao năm
hồn điên thao thức ôm mầm trăng say
động tình liếm những ngón tay
nuốt vài ngụm đắng trổ gai rú cười
Đọc tiếp »

Phạm Đình Trọng


Đại tướng Đỗ Bá Tỵ

Tướng là lá bài có vị trí lớn nhất trong cỗ tam cúc. Nhưng lá bài tướng chưa kịp vật ra để bắt sĩ, tượng, xe… của đối thủ thì ván bài đã tàn, tướng phải chui, úp bài, phí hoài một lá bài mạnh. Dân gian gọi lá bài tướng thối đó là tướng đi ỉa.

Chính trường nhà nước cộng sản Việt Nam vừa qua cũng có hai tướng đi ỉa như vậy.

TƯỚNG BỐN SAO QUÂN ĐỘI

Từ những trận chiến đẫm máu suốt 10 năm, 1979 – 1989, ở biên giới phía Bắc trong cuộc chiến chống quân Tàu cộng xâm lược trở về vào học các trường quân sự, từ trường sĩ quan tới các học viện quân sự cấp cao, con đường binh nghiệp đó đã đưa chàng trai chân quệ Đỗ Bá Tỵ từ anh lính binh nhì lên tới đại tướng Tổng Tham mưu trưởng quân đội Nhân dân Việt Nam.
Đọc tiếp »

Thiên sử

Posted: 17/10/2017 in Lê Quang Đông, Thơ

Lê Quang Đông

Bên kia là thành quách
Em đã quên thật rồi
Những áo màu xưa cũ
Xanh ngát bóng chơi vơi…

Bên kia ngày tháng cũ
Có một thời đế kinh
Thắm cờ bay gió lộng
Những vua chúa bình minh
Đọc tiếp »

Hồ Đình Nghiêm


Chân dung Mai Thảo
dinhcuong

Trên đường đi, đôi lúc bạn phải tạm dừng lại, nghỉ chân. Bạn nhìn quanh, phát hiện cái thưa thớt, rơi rụng dần của bầu đoàn lữ thứ, hao hụt.

Có những cuộc sum vầy tình cờ, đưa đẩy bạn ngồi kề một nhân dáng, hai ba bóng người đối diện. Những khuôn mặt, giọng cười đùa vô thưởng vô phạt, nhạt; làm bạn nhớ tới câu “Tửu phùng tri kỷ, thiên bôi thiểu. Thoại bất đầu cơ, bán cú đa”.

Đám đông nào mà chẳng vậy? Kia là rậm rật ánh sáng, nọ là bóng tối với so vai, trầm mặc tự chọn. Tôi luôn yêu mến một người anh già tuổi, ốm yếu. Ốm vì trong tay luôn nắm cốc rượu, chẳng thiết việc ăn. Yếu vì môi kia luôn ngậm điếu Winston, chẳng màng tâm sự. Hai hàm răng, chỉ còn trụ chừng năm bảy chiếc, nói giọng Hà Nội 9 nút, trầm, đục; nhưng nghe thanh tao mỗi bận anh dùng chữ Đếch. Làm cái đếch gì mà ồn thế! Chẳng phải ai cũng thốt được chữ đếch nghe vui tai bằng anh. Một người thầy vừa khó tính lại rất mực dễ chịu. Nửa xa cách nửa thân cận. Nửa khinh mạn nửa khuyên can. Có lần anh bảo: Cậu nên nhớ điều nầy, là nhà văn cậu nên ngồi trong bóng tối, sân khấu đèn mầu là nơi dành cho Hùng Cường Mai Lệ Huyền.
Đọc tiếp »

Mặc Phương Tử

1. Hạt bụi

Ngàn năm bên lối nhỏ
Trút niềm đau muộn phiền
Ngàn năm mang hơi thở
Dìu vợi trời tam thiên.

2. Hạt phù sa

Đổ xuôi miền du mộng
Cho sắc màu cỏ hoa
Muôn bến đời gió lộng
Bồi bãi khắp trời xa.

3. Lối về

Thênh thang tình hạt bụi
Bờ sương cỏ ngủ vùi
Bỏ quên đời dấu hỏi
Thoáng nhìn mây trắng trôi.
Đọc tiếp »

Đàm Trung Pháp


TỰ ĐIỂN CHỮ NÔM TRÍCH DẪN
MỘT NHÓM SOẠN GIẢ
2009 • 1700 trang • $75 • Viện Việt Học xuất bản
Liên lạc: info@viethoc.org • 714-775-2050

TỰ ĐIỂN CHỮ NÔM TRÍCH DẪN (TĐCNTD) là một công trình văn học đồ sộ của Viện Việt Học do một ban biên tập thượng đẳng chung sức hoàn tất một cách ngoạn mục. Mỗi vị đều sử dụng sở trường của mình trong công trình chung to lớn này. Giáo sư Nguyễn Văn Sâm, một nhà Nôm học từng dạy văn chương Việt Nam tại Đại Học Văn Khoa Saigon, sưu tập và chuyển sang quốc ngữ nhiều bản Nôm được trích dẫn trong tự điển. Giáo sư Lê Văn Đặng, một nhà Nôm học kiêm chuyên viên điện toán, với tư cách “fonts designer” đã khắc các chữ Nôm chưa có trong Unicode Standard dùng trong cuốn tự điển này. Đồng soạn giả Nguyễn Hữu Vinh, một tiến sĩ kỹ nghệ tại Đài Loan, dò lại những chữ Nôm mới khắc đó để tránh trùng hợp với chữ đã có và chịu trách nhiệm chuyện in ấn cuốn sách tại Đài Loan. Đồng soạn giả Đặng Thế Kiệt, một chuyên gia về tin học tại Paris, đã đại diện Viện Việt Học sưu tầm tài liệu về chữ Nôm tại Bibliothèque Nationale de Paris và gửi qua Mỹ. Đồng soạn giả Nguyễn Doãn Vượng phụ trách kỹ thuật và trình bầy, sắp xếp các mục từ cho hợp lý và làm dễ dàng cho công việc các đồng soạn giả chia nhau đánh máy nội dung vào các mục từ. Đồng soạn giả Nguyễn Ngọc Bích, một nhà nghiên cứu văn học uyên bác và quảng giao, phụ trách những công việc giao tế và quảng bá công trình. Và sau hết, đồng soạn giả “hậu sinh khả úy” Trần Uyên Thi đã thiết kế được một bàn gõ chữ Nôm, nhờ vào đó mà việc đánh máy chữ Nôm được mau lẹ.
Đọc tiếp »

Diên Hồng Dương

Bầu trời rộng
sao bầu mắt em thu hẹp?
Trái đất không tròn
trái tim không hẳn méo.
sao bụng dạ em…
luôn thắc mắc lời yêu?

Tháng Mười đến rồi
em vẫn tròn mắt hỏi:
“Bao giờ cho đến…”
năm 2017 đã xế
5 lần 10 tuổi rồi
em vẫn loay hoay
như con chó nhỏ
(câu hỏi hôm qua )
– Bao giờ đến tháng 10?
Đọc tiếp »