Archive for the ‘Đỗ Trường’ Category

Đỗ Trường


Nhà văn Trương Văn Dân và vợ ông nhà văn Elena Pucillo

Nếu không có gần nửa thế kỷ sống xa quê, xa Tổ Quốc, thì có lẽ, chưa chắc Trương Văn Dân đã dính vào cái nghiệp văn chương, viết lách. Những năm tháng chia ly ấy, như một sự thiếu hụt trong tâm hồn, luôn làm cho ông chông chênh và trống trải. Để lấp đi khoảng trống đó, Trương Văn Dân phải độc thoại trên từng trang viết của mình. Sự tìm tòi và sáng tạo ấy, không chỉ vơi đi nỗi nhớ thương, mà còn giúp ông tìm lại một nửa linh hồn của mình, dường như vẫn còn ở lại nơi quê nhà. Do vậy, có thể nói, cũng như Trần Trung Đạo, Phạm Tín An Ninh, hay Cao Xuân Huy, nhà hóa học Trương Văn Dân đến với văn thơ một cách ngẫu nhiên, bởi hoàn cảnh cuộc sống, và trái tim thúc bách, chứ hoàn toàn không có sự chuẩn bị để trở thành một nhà văn. Văn thơ Trương Văn Dân, tuy không vụt sáng lên, song nó góp phần không nhỏ cho sự tiếp cận, giao thoa giữa hai nền văn học Việt – Ý (Italia).
(more…)

Đỗ Trường

Gà đầy ự đĩa. Những cái nhìn thăm dò, cân não cùng đòn gió đã được đưa ra, vậy mà không ai có thể ù. Mặt thằng nào cũng phừng phừng đỏ. Đang độ gay cấn, căng thẳng, chợt có tiếng Đỗ Nga Thị the thé từ phòng khách vọng ra: Có đứng dậy đi về hay không, thì bảo. Tiếng quát làm gã đầu bạc ngồi đối diện với tôi giật mình, mấy lá bài trên tay rơi úp vào lòng. Hai Hiển chủ nhà, một thuyền nhân tị nạn, ngồi cạnh càu nhàu: Bà làm quái gì hắc xì dầu thế. Để ông ấy chơi chút nữa, gà béo, bắt đến nơi rồi. Không trả lời Hai Hiển, Đỗ Nga Thị vọt ra, đứng sau gã đầu bạc, thúc thúc đầu gối vào lưng: Đứng dậy, đứng dậy, làm thì lười, tá lả sao chăm thế! Gã đầu bạc ngước mắt, đang định nói gì đó, gặp ngay ánh mắt có lửa của Đỗ Nga Thị, liền cụp vội xuống, lẩm bẩm. Mọi người lắc đầu, mất hứng, hạ bài, định chia gà. Nhưng tôi bảo gã đầu bạc: Để nguyên gà đó, tôi thế chỗ ông. Phần gà của ông bao nhiêu, tôi trả. Gã đứng dậy, Đỗ Nga Thị quay người, bước đi. Gã ngả người vào Hai Hiển thì thầm: Ông cầm tiền giúp tôi, mai qua lấy. Bây giờ mang về, nó lột hết.
(more…)

Đỗ Trường

Năm đó, cái rét dường như đến sớm. Trời mới sang thu mà lạnh đến bất ngờ. Tuy vậy, đầu tuần đường phố vẫn nhộn nhịp những bước chân. Chuẩn bị cho hàng quán xong, tôi ngồi đọc báo, và nhâm nhi ly cà phê sáng. Bất chợt, có tiếng chân người đuổi nhau, la hét, chạy vòng ra đằng sau phía Kaufhalle (chợ). Chắc chắn là mấy gã bán thuốc lá, băng nhạc lậu bị thuế vụ, hải quan đuổi bắt. Chuyện thường xảy ra ở huyện, nên tôi bình tâm ngồi uống tiếp. Lúc sau, có một người đàn ông bước vào quán, cười cười, rút thẻ Hải quan công vụ chìa trước mặt: Chúng tôi liên ngành công an, hải quan, thuế vụ vừa bắt được một người đồng hương của ông bán thuốc lá và băng đĩa lậu. Nhưng anh ta không nói được tiếng Đức. Do vậy, chúng tôi cần sự giúp đỡ của ông.
(more…)

Đỗ Trường


Thuyền Trăng Bụi
Võ Đình

Trời chớm sang thu. Ngoài kia, lá đã ngả màu, buông rơi. Những cơn gió hè, dường như vẫn còn luẩn quất đâu đây. Thành phố đã vào đêm. Con đường vắng những bước chân. Leng keng tiếng tàu điện lọt thỏm vào những con phố dài hun hút. Leipzig tĩnh lặng, cựa mình, trằn trọc. Có lẽ, chẳng cứ là thu, mà thời khắc giao mùa nào cũng vậy, luôn làm xáo trộn hồn người nơi phương xa. Tôi đã từng sống ở miền biển, mảnh đất gối đầu lên những con sông Đào, sông Ninh Cơ, sông Đáy. Với thời gian không dài, vậy mà quá nửa đời người phiêu bạt trời Âu, mỗi khi nhớ về đất Việt, tôi thường nghĩ về nơi ấy. Qủa thật, đúng như ai đó đã nói, tuổi thơ đi qua nơi nào, thì trong trái tim, mảnh đất ấy vĩnh cửu là quê hương.
(more…)

Đỗ Trường


Nhà văn Vũ Thư Hiên

Khi nhát dao chém ngang hình đất nước, thì văn học Việt cũng chẻ đôi dòng chảy. Bắc Nam như hai thái cực đối nghịch nhau về cả tư tưởng lẫn bút pháp. Sau Nhân văn giai phẩm, trên đất Bắc lại một cuộc nồi da xáo thịt nữa xảy ra với cái tên gọi mơ hồ: Xét Lại. Cơn sóng ngầm ấy cuốn đi rất nhiều công thần, và những nhà báo, văn nhân, một thời đã từng là bạn bè, đồng chí. Nhà văn Vũ Thư Hiên và cha mình, cụ Vũ Đình Huỳnh, người thư ký đặc biệt của Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng nằm trong số đó. Chín năm dài đằng đẵng trong lao tù, cứ tưởng Vũ Thư Hiên đã đoạn tuyệt với văn thơ. Nhưng kỳ lạ thay, chính những năm tháng quằn quại đớn đau ấy là chất liệu, nguồn thực phẩm vô tận nuôi dưỡng, thôi thúc tâm hồn, để Vũ Thư Hiên viết nên những tác phẩm tuyệt vời, với bút pháp hiện thực nhân đạo đặc trưng đến vậy. Và có thể nói, những tác phẩm ấy, không chỉ được viết bằng tài năng, trí tuệ mà còn thấm đẫm cả máu và nước mắt của nhà văn.
(more…)

Đỗ Trường


Head of a Man
Pablo Picasso

Vào dịp Tết 2015, trước ngày tôi bị trục xuất về Đức, nhà thơ Đỗ Hoàng điện bảo: Anh vào ăn tết với thằng con cả ở Huế, rượu chè bí tỉ, ngã gãy chân, đang bị treo ngược trên giường, không thể về Hà Nội như đã hẹn. Đỗ Trường cố gắng đến chỗ Đào Tiến (nhà thơ dầu khí) lấy một số sách của anh ở đó, mang về Đức đọc cho vui.

Tôi khoái cái tính ngang ngang, và vốn sống, cũng như kiến thức Hán văn thâm hậu của Đỗ Hoàng. Nên nghe anh tặng sách, tôi vọt đến chỗ Đào Tiến ngay. Tôi không còn nhớ địa chỉ của Đào Tiến, nhưng công ty của hắn ở tòa nhà cao tầng rất sang trọng. Nghe nói, hắn là Phó, hay Tổng giám đốc một công ty, thuộc dầu khí, dầu khiếc gì đó. Dù đang giờ làm việc, và gặp nhau lần đầu, nhưng hắn ngả bàn đèn ngay, rồi lôi tuốt tuồn tuột bia rượu, đồ nhậu có sẵn ở trong tủ lạnh ra. Thấy tôi còn ngần ngừ, hắn ấn vai xuống, rồi cười cười, mấy khi ông về, và gặp được nhau. Bia rượu vào, chuyện văn thơ, rồi chuyện trên trời dưới bể nổ như ngô rang…
(more…)

Đỗ Trường

Trời tảng sáng, có những cơn gió dát mỏng hơi nước, luồn qua khe cửa, xoa nhẹ lên mặt, làm tôi chợt tỉnh. Mờ mờ qua khung cửa, mưa đang rây nhẹ, như rắc thủy tinh lên những cánh hoa treo lơ lửng đầu hè. Hà Nội có những giây phút lặng yên bất chợt đến như vậy. Và có lẽ, mãi đến mùng bốn tết đất trời mới giao hòa, mới thực sự vào xuân. Nó cho ta một cảm giác muốn được đi dưới cái mông lung vần vũ của đất trời. Tôi bật dậy, muốn ra khỏi thành phố, tìm về nơi mà bao năm trước cha mẹ đã cất bước ra đi.
(more…)

Đỗ Trường
(Bài viết tặng nhà văn Trần Hoài Thư và Thư Quán Bản Thảo)


Nhà thơ Cao Đông Khánh
dinhcuong

Cũng như nhà thơ Trần Trung Đạo, nếu không có biến cố 30-4-1975, và không có những con thuyền lá tre kia, cố lao đi để tìm sự sống thật mong manh trong cái mênh mông của biển cả, giông tố của đất trời, thì chắc chắn chúng ta sẽ không có một nhà thơ dân dã Cao Đông Khánh. Những cơn mưa nguồn, gió bể ấy như nhát dao chém nát hồn ông. Để rồi từ những vết thương không bao giờ thành sẹo ấy, ứa trào ra hồn thơ quằn quại của kiếp tha hương. Thơ Cao Đông Khánh xuất hiện muộn, nhưng đúng vào thời khắc xoay vần đảo điên của đất nước, và con người. Ông là một trong những gương mặt tiểu biểu nhất về ngôn ngữ thi ca Nam Bộ, với chất giọng riêng biệt của mình.
(more…)

Đỗ Trường


Nhà văn Hoàng Minh Tường

Có thể nói, những năm gần đây Hoàng Minh Tường là một hiện tượng lạ của Văn học Việt. Không chỉ góp phần làm sống lại dòng Văn học hiện thực phê phán, mà ngòi bút của ông còn chọc thẳng vào những điều cấm kỵ, nhảy cảm nhất của những kẻ cuồng cộng cùng những người chống cộng cực đoan. Những Mảnh Rồng được viết gần đây nhất là cuốn tiểu thuyết điển hình như vậy của Hoàng Minh Tường. Theo cách nói của giới chè chén vỉa hè, thì Hoàng Minh Tường to gan, lớn mật, dám cả gan bóp một phát cả hai dái ngựa, để lãnh trọn hai chân ngựa đá. Do vậy, để cho ra lò được cuốn tiểu thuyết này, chỉ riêng tài năng, sự can trường của Hoàng Minh Tường thì quả thực chưa đủ, mà còn cần sự can đảm của bà đỡ. Vâng! Con đường buộc phải đi giữa hai làn đạn ấy, không phải nhà xuất bản nào cũng đủ dũng khí để đi đến tận cùng với Hoàng Minh Tường.
(more…)

Đỗ Trường


Tô Thùy Yên
dinhcuong

Hiệp định Genève cắt đôi hình đất nước, kéo theo một cuộc di dân từ Bắc vào Nam, với qui mô chưa từng có, kể từ ngày lập quốc. Những người di dân ấy, đã mang theo ngôn ngữ, văn hóa đặc trưng vùng, miền về nơi định cư mới. Và trong dòng người đó, có rất nhiều văn nhân, nghệ sĩ tài năng. Có thể nói, cái ngôn ngữ, văn hóa này, ảnh hưởng ít, nhiều đến tâm hồn những văn nghệ sĩ phương Nam. Tô Thùy Yên là một trong những nhà thơ chịu ảnh như vậy, và ngay từ buổi đầu đến với thi ca. Nhất là từ khi ông tham gia sáng lập tạp chí Sáng Tạo ở Sài Gòn cùng với những thi sĩ, văn nhân đất Bắc như: Mai Thảo, Doãn Quốc Sỹ, Thanh Tâm Tuyền, Trần Thanh Hiệp, Nguyễn Sĩ Tế, Thái Tuấn, Ngọc Dũng, Duy Thanh…

Do vậy, đọc Tô Thùy Yên, ta có thể thấy, dường như ông đã trộn ngôn ngữ, văn hóa của cả ba miền Bắc Trung Nam vào những trang thơ của mình, để làm nên ngôn ngữ thơ (bác học) sang trọng, không thể lẫn lộn với bất cứ nhà thơ nào khác. Thông thường khi đọc một tác phẩm nào đó, một chút lưu tâm, ta có thể nhận ra quê quán nơi sinh trưởng của tác giả, thông qua ngôn ngữ biểu đạt. Nhưng, cũng giống như nhà thơ Luân Hoán, đọc Tô Thùy Yên, quả thật, khó có thể nhận biết, quê quán, nơi sinh trưởng của ông qua những đặc tính trên.
(more…)

Đỗ Trường
(Viết nhân ngày mất thứ 54 của nhà thơ)


Nguyễn Nho Sa Mạc (1944-1964)

Có thể nói, chưa khi nào dòng sông Thu (Bồn) đã vật mình sinh cho xứ Quảng nhiều thi nhân, văn sĩ như những thập niên đầu của thế kỷ hai mươi. nhưng khi nhà thơ trẻ Phạm Hầu đột ngột rời bỏ cõi tạm, với thời gian hai mươi năm dài đằng đẵng ấy, tưởng chừng nỗi đau đã được khép lại. Thế rồi, ngôi sao Mai Nguyễn Nho Sa Mạc chợt vụt tắt, thì dòng sông Thu như một dải khăn trắng vấn lên vòm trời thi ca xứ Quảng.

Tuy không bộc lộ cái thiên tài như Điêu Tàn của chàng thiếu niên Chế Lan Viên, hay hồn nhiên, trong trẻo như Nghẹn Ngào ở tuổi mười bảy của Tế Hanh, nhưng cùng với thi tập Vàng Lạnh, người học trò trung học Nguyễn Nho Sa Mạc đã gây sửng sốt cho người đọc. Bởi, hai mươi năm ngắn ngủi của cuộc đời, và chỉ vỏn vẹn hai mươi bốn bài thơ, nhưng Nguyễn Nho Sa Mạc để lại dấu ấn thật rõ ràng. Thơ Nguyễn Nho Sa Mạc già dặn, có thể nói, chín sớm, vượt rất xa cái tuổi học trò của mình. Tình yêu và khát vọng, gắn liền với nỗi đau của đất nước, thân phận con người là tư tưởng, bộc lộ rõ nét trong thơ ông. Có thể nói, Nguyễn Nho Sa Mạc là hiện tượng đặc biệt trong văn học sử Việt Nam.
(more…)

Đỗ Trường

Tôi thường không quan tâm đến những hoạt động của Hội nhà văn Hữu Thỉnh. Nhưng hôm rồi, trên FB của nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân có nối một bài báo từ trang vanvn.net. Nội dung với những mỹ từ: Nhà văn với sứ mệnh đại đoàn kết dân tộc. Chi tiết này, làm tôi tò mò đọc và tìm hiểu. Theo nội dung cũng như cái khẩu hiệu, cuộc gặp mặt này, qui tụ những nhà văn ở trong và ngoài nước. Điều tất nhiên, quan trọng nhất phải là những nhà văn bất đồng chính kiến (hoặc nói theo giới chè chén vỉa hè, có những mối thâm thù) tìm ra giải pháp đồng thuận, đoàn kết cùng phát triển.
(more…)

Đỗ Trường


Nhà thơ Nguyễn Bắc Sơn (1944-2015)

Nếu được phép, chọn gương mặt tiêu biểu cho thơ ca miền Nam thời chiến, thì có lẽ Nguyễn Bắc Sơn là một trong những nhà thơ mà tôi nghĩ đến. Tuy viết ít, nhưng Nguyễn Bắc Sơn có giọng thơ rất đặc biệt. Cái cá tính đặc trưng ấy, ai đã đọc một lần, sẽ bị ám ảnh mãi không thôi. Theo dòng văn học sử, ta có thể thấy, có người cả đời làm và in thơ, nhưng không bao giờ thành thi nhân, và có người chỉ cần một tập, hay một bài thơ đã trở thành thi sĩ. Và Nguyễn Bắc Sơn là một thi sĩ như vậy. Chỉ với thi tập: Chiến Tranh Việt Nam và Tôi đã đủ làm nên chân dung nhà thơ vạm vỡ Nguyễn Bắc Sơn.
(more…)

Đỗ Trường

Tôi có ông bạn, học Đại học an ninh cùng khóa với Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh, Phó chủ tịch Hội nhà văn VN Nguyễn Quang Thiều, và nhà văn Thùy Linh… Đang là an ninh nhòm ngó, chọc ngoáy khắp nơi, không hiểu thế quái nào lại chuồn sang Đức, xung vào đội quân lao động, đánh thuê trên ba chục năm nay. Không những vậy, khi ổn định giấy tờ, công ăn việc làm, hắn đưa tất tật tật vợ con, anh chị em sang Đức. Dù vợ hắn đang là Chef một công ty kinh tế của quân đội. Một vị trí, nói như giới chè chén vỉa hè là: Đắc địa. Ngày thống nhất nước Đức mùng 3 tháng 10 vừa rồi, ngồi khật khừ, đang xoáy về đề tài dã man của người Việt, đối với kẻ đánh bả và trộm chó, khi đã bắt được, xúm vào đánh hội đồng cho đến chết. Đột nhiên hắn vỗ vai tôi, bảo: Thời nay, không chỉ bọn bắt chó trộm mới biết dùng Bả nhé. Mà bọn quyền chức càng cao, thì kỹ thuật sử dụng Bả (chó) càng tinh vi và thâm hậu.
(more…)

Đỗ Trường

Đêm Thượng Nguyên, trăng tròn như cái vành thúng được ai đó treo lên bầu trời. Những cơn gió, thôi lùa qua những vách nứa nơi đầu hồi. Đất trời dường như ấm trở lại. Khách khứa, bà con xóm làng đến chia vui, tiễn đưa tân cử nhân Doãn Khuê vào kinh thành thi Hội đã ra về. Làng Ngoại Lãng, tổng Vô Ngại, huyện Thư Trì, phủ Kiến Xương trở về với cái tĩnh lặng của miền đồng quê.

Đóng cổng, quay lại Khuê châm thêm nước vào ấm. Trà tỏa ra mùi hương thanh dịu. Nước đã ngấm, Khuê hai tay nâng tách trà đi về phía góc phản, nơi tân Tổng đốc Định-Yên, kiêm Tuần phủ Hưng Yên Doãn Uẩn còn ngồi đó. Khuê chưa kịp mời, Uẩn đã hỏi:

– Chú định khi nào vào Kinh?

Khuê đứng thẳng người:

– Thưa bác cả, ngày mốt em sang Nam Chân, chào thày Ngô Thế Vinh. Có lẽ, ở lại đó vài ngày, rồi cùng Phạm Văn Nghị xuôi Kinh ạ.
(more…)

Đỗ Trường


Nhà văn Lữ Quỳnh

Sau 1954, Việt Nam bị cắt làm đôi, với hai thể chế chính trị hoàn toàn trái ngược nhau. Cũng như kinh tế, và xã hội, mỗi miền đều có nền văn học riêng của mình. Nếu văn chương miền Nam như bản nối dài của dòng văn học hiện thực lãng mạn, thì miền Bắc mở ra thời kỳ văn học tuyên tuyền, minh họa đường lối lãnh đạo của Đảng CS. Ngoài ra, do điều kiện địa lý tự nhiên cũng như lịch sử để lại, chúng ta có những đặc tính văn hóa của mỗi vùng, miền khác nhau. Từ đó đã sản sinh ra những nhà văn, nhà thơ với ngôn ngữ, văn phong, bút pháp nghệ thuật mang dấu ấn đặc trưng của từng vùng, miền ấy. Do vậy, khi đọc một cuốn sách, nếu tinh ý một chút, ta có thể nhận ra, quê quán, nơi sinh trưởng của tác giả.

Vài tuần trước, có một nhà văn tặng tôi cuốn Những Cơn Mưa Mùa Đông, viết trước 1975 của Lữ Quỳnh. Tuy đã nghe tên tuổi từ lâu, nhưng quả thực đây là lần đầu tiên, tôi được đọc nhà văn này. Văn ông không có cái sắc, cái chua cay của đất Bắc, không có cái bộc trực, ngộ nghĩnh như đất phương Nam, mà nó thâm trầm, lắng đọng, thoảng như có Nhã Ca, Phạm Ngọc Lư, Nguyễn Thị Hoàng…ở trong đó. Và cái chất miền Trung xứ Huế ấy, đọc vào là ngấm, say như men rượu, buộc ta phải kiếm tìm, nghiền ngẫm.
(more…)

Đỗ Trường

Năm Ất Sửu 1805. Gia Long niên hiệu thứ tư. Ngày 4 tháng 11. Tiết trời hanh khô, u ám giăng kín cả làng Tam Đăng, tổng An Chung thuộc huyện Đại An, phủ Nghĩa Hưng. Con đường vắng những bước chân. Chỉ có đàn chuồn chuồn kim chao qua chao lại trên những dậu hoa dâm bụt ven đường. Chính Ngọ, đất trời vụt sáng. Đâu đó có tiếng trẻ khóc ré lên làm Chú Khách bán thuốc rê dạo giật mình. Dường như, tiếng khóc từ ngôi nhà gianh trước mặt. Không biết đứa trẻ vừa sinh nam hay nữ, nhưng chắc chắn sau này sẽ là một quí nhân. Ngẩn tò te suy nghĩ, tính toán một hồi, rồi Khách lẩm bẩm như vậy. Một chút tò mò, Khách nhấc cánh cổng tre, lách vào, đứng giữa sân hắng giọng. Thấy mụ đỡ và người nhà ra vào bận rộn, gã định quay gót. Đột nhiên, thằng nhỏ từ trong nhà lon ton chạy ra, rồi chạy vào, kéo tay người đàn ông có khuôn mặt tưởng chừng khắc khổ, nhưng ngoái lại, toát lên nét nho nhã và tĩnh tại. Người đàn ông cúi người, kéo chốt để mở rộng cánh cửa, Khách vội xua tay:

– Mỗ tôi đi ngang, nghe tiếng trẻ khóc, nhà chắc có tin vui, vào xin gia chủ gáo nước mưa cho đã cơn khát, rồi đi ngay thôi.

– Vâng, nhà tôi vừa ở cữ, Chú cứ vào đây uống chén nước cho ấm cái bụng đã.
(more…)

Đỗ Trường

 

Không ngờ thi tập Vịn Vào Lục Bát từ Hoa Kỳ được gửi đến tôi sớm như vậy, chỉ hơn chục ngày sau in ấn, ra lò. Vâng, chắc chắn đó là sự ưu ái của nhà xuất bản Thư Ấn Quán và nhà văn Trần Hoài Thư đã dành cho tôi. Một chút đó thôi, ấy vậy để lại trong lòng người một ấn tượng, một cảm xúc thật sâu sắc.

Tuy trước đây, rải rác đâu đó đã đọc một số bài, nhưng khi nó được chọn đóng thành thi tập chuyên lục bát một cách có hệ thống, đọc lại cho tôi cảm xúc khác hẳn. Có thể nói, đây là tập thơ quan trọng, và tâm huyết nhất của Trần Hoài Thư. Nó như một điểm tựa sống cuối cùng của ông. Bởi, bệnh tật và thời gian khắc nghiệt đã làm bạn bè, người thân, từng ngày, từng ngày rời bỏ ông. Do vậy, sự biên tập từng phần, từng giai đoạn gắn với thân phận của thi sĩ và xã hội, một chủ ý rõ ràng của tác giả. Có điều đặc biệt, dường như tập sách nào của Trần Hoài Thư dù viết, in ấn ở trong nước (trước 1975), hay nơi hải ngoại đều mang hơi thở của chiến tranh. Và Vịn Vào Lục Bát cũng vậy, tuy là tập thơ với cái tôi riêng tư nhất, nhưng nó vẫn không thoát ra khỏi cái lẽ thường ấy. Ngoài hai phần viết về bản thân, gia đình, và bạn bè thì chiến tranh khói lửa vẫn đậm đặc trong thi tập này.
(more…)

Đỗ Trường


Nhà văn Văn Biển

Nhắc đến cái tên (dân dã) Văn Biển, có lẽ nhiều người, kể cả trong giới nghiên cứu phê bình không nhớ đến ông. Dù ông là một nhà văn viết nhiều thể loại, từ truyện ngắn, tiểu thuyết, thơ, cho đến kịch bản phim.

Thật vậy, nhiều người đọc nhớ vanh vách tên nhân vật, với những tác phẩm của ông, ấy vậy mà cái tên tác giả Văn Biển cứ lẫn chìm đâu mất.

Với tôi, đây là câu hỏi, và những vấn đề đặt ra cho bài viết này. Nhưng có một nhà văn quen thân với Văn Biển bảo: Có lẽ, trước nhất nó thuộc về chính bản thân Văn Biển. Bởi, phải chăng ông luôn trốn chạy nơi thị phi ồn ào, tìm về nẻo trầm khuất? Để rồi, nhân cách, tư tưởng, con người Văn Biển chỉ có thể hình tượng ra từ những nhân vật của ông. (Mà thật ra tác giả nào chẳng gửi nhân cách, tư tưởng vào nhân vật của mình).
(more…)

Đỗ Trường


Thi sĩ Vũ Hoàng Chương (1916-1976)

Kính gửi bác Trần Từ Mai: Nhân đọc bài, Thử tìm hiểu ý tưởng của thi sỹ Vũ Hoàng Chương trong bài “Đọc lại người xưa: Trần Đào” của bác trên vanviet.info, tôi có vài ý gửi đến bác. Đây là ý kiến cá nhân cũng có thể là không đúng, hơn nữa bác (cũng có thể) vào tuổi cha chú? Do vậy, mong bác lượng thứ, và coi đây là một giả thuyết khác được đưa ra, chứ không có ý bác bỏ, phản biện, phản beo gì.

Đây là một trong mười hai bài thơ có tựa đề chung “Đọc lại người xưa“ của nhà thơ Vũ Hoàng Chương viết ở trong tù và sau khi ra tù, vào khoảng tháng 4-1976 đến tháng 9-1976. Tuy nhiên, tôi chỉ đọc được bài thơ trong bài viết của bác Trần Từ Mai, còn lại mười một bài khác không tìm thấy. Và đây là toàn bài thơ:
(more…)

Đỗ Trường


Nhà văn Trần Hoài Thư

Cuối tuần, có bác nhà thơ già đến thăm, ghé mắt vào bài đang viết về nhà văn Trần Hoài Thư của tôi, rồi gật gật, lắc lắc, bảo: Cái tựa, Người ngồi vá lại những linh hồn, thấy rờn rợn thế nào ấy. Vâng! Khi chưa đọc, chưa nghiên cứu Trần Hoài Thư, bác có cảm giác vậy thôi. Đọc rồi, bác sẽ thấy, một Trần Hoài Thư không chỉ đang ngồi vá lại linh hồn mình, đồng đội mình, mà còn đang nhặt nhạnh những linh hồn văn hóa Việt rách nát, vương vãi đâu đó, rồi cặm cụi khâu lại nữa kìa.

Nghe tôi trả lời, bác nhà thơ già gật gù, gật gù lẩm bẩm: Được, tôi sẽ tìm đọc, xem có thật vậy không?
(more…)

Đỗ Trường

Hôm lễ Phục Sinh vừa rồi, tôi may mắn được ngồi cùng mâm với một gã đến từ Balan. Rượu vào lời ra, đang bá vai bá cổ, thân mật, đến lúc hỏi thăm quê quán, đột nhiên hắn ôm mặt khóc hu hu, làm mọi người phải dừng đũa. Lúc sau, có lẽ hết cơn xúc động, hắn hỏi lại tôi: Ông đã xem phim Chuyện Làng Nhô chưa? Tôi lắc đầu: Nhưng phim đó thì liên quan gì đến quê hương, bản quán của ông. Hắn nhếch mép, với tiếng cười méo mó: Có đấy, cái làng Lạc Nhuế, xã Đồng Hóa, huyện Kim Bảng tỉnh Hà Nam quê tôi chính là Làng Nhô. Nhưng bản chất sự việc, con người hoàn toàn khác trong phim. Cái khốn nạn là ở chỗ đó. Làng ông được lên phim là tốt chứ sao lại khốn nạn, tôi ngoặc lại hắn như vậy. Hắn cao giọng: Tốt, tốt cái con khỉ ấy. Ông chuồn ra khỏi nước đã từ lâu, không xem, không chứng kiến, làm sao biết được, bao nhiêu người dân lương thiện phải chết, và ngồi tù oan, còn đám cường hào ác bá vẫn sống phè phỡn ở đó. Tôi ngớ cả người, và tính tò mò trỗi dậy, nên xuống giọng ngay: Nghĩa là như thế nào, ông có thể nói rõ hơn được không? Hắn thủ thỉ: Tuy đỉnh điểm sự việc xảy ra năm 1992, nhưng nguyên nhân từ nhiều năm trước đó…
(more…)

Đỗ Trường


Nhà thơ Chế Lan Viên (1920-1989)

Có thể nói, từ đầu thế kỷ thứ hai mươi cho đến nay, Chế Lan Viên được đánh giá là một nhà thơ lớn tài năng. Và khi nghiên cứu, ta có thể thấy, thơ văn cũng như con người ông có nhiều mâu thuẫn, phức tạp, đa diện nhất trong dòng văn học sử Việt Nam từ trước đến nay. Có lẽ, xuất phát từ mâu thuẫn nội tâm ấy, ông luôn làm người đọc phải kinh ngạc, và không chỉ đưa đến nhiều điều thú vị, mà còn cả những điều nhạt nhẽo, khó chịu khác.

Ở cái tuổi mười bảy, Chế Lan Viên rất đĩnh đạc, bất ngờ đóng thẳng vào chân móng của trào lưu thơ mới, bằng thi tập Điêu Tàn rắn chắc và già dặn. Ngay từ tập thơ đầu này, ta có thể thấy, thi pháp cũng như tư tưởng Chế Lan Viên bộc lộ một cách rõ ràng, mạch lạc và tính cách khác lạ. Và cùng một thời điểm xuất phát ấy, nếu Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Vũ Hoàng Chương… đang chờn vờn mây trời, sông nước, với nỗi đau tình ái, thì tiếng thơ Chế Lan Viên bi ai, quằn quại với thân phận, nỗi đau của con người, của dân tộc. Sau 1945, tuy tài năng, vốn sống được nâng lên và dày dặn hơn, nhưng thi pháp, tư tưởng, ngòi bút của ông bẻ ngoặt theo một chiều hướng đã định. Để rồi, khi trở về với đất, ông phải mang theo một nỗi u hoài, với những lời thán ca muộn màng, tiếc nuối.
(more…)

Đỗ Trường

Tôi trở về quê vào một chiều chớm đông. Cái nắng hanh khô cuốn theo từng cơn gió, như rắc vàng lên đồng ải bên sông. Vẫn đàn chim sẻ đang cần mẫn tìm sâu, bắt bọ trên những luống đất xốp thẳng tắp, ngả màu. Nước đã mấp mé cửa sông. Có lẽ, cống ngoài đê sắp mở để nước tràn vào đồng ngậm ải, và báo hiệu mẻ rươi đầu mùa đã đến. Mùa của sự vần vũ, mà tạo hóa thiên nhiên đã ban tặng cho con người một sản vật, một món ăn dân dã, nhưng dường như gói trọn cả cái hương hoa tinh túy của đất trời…

Tiếng xe máy sau lưng chợt cắt ngang dòng suy nghĩ. Tôi quay người, xe chồm đến trước mặt, tiếng phanh khô dầu như xiết vào tai. Giật bắn cả người, tôi chưa kịp định thần, thấy Ân, ông bạn thời trẻ trâu ngồi trên xe, cười khùng khục:

– Bú sữa Tây nhiều, tưởng đã quên nhau rồi!
(more…)

Đỗ Trường


Chí sĩ Phan Châu Trinh (1872-1926)

Tôi thích nhạc Trần Tiến, bởi cái chất dân dã của ca từ, và da diết của giai điệu. Tuy nhiên, có một vài bài ca, câu hát của ông làm cho người nghe hơi bị nhột tai: “Hà Nội cái gì cũng rẻ, chỉ có đắt nhất bạn bè thôi. Hà Nội, cái gì cũng rẻ, chỉ có đắt nhất tình người thôi”. Có lẽ, Trần Tiến viết ca khúc này, trong lúc ông đang lơ lửng ở cõi trên. Bởi, nhìn lại xã hội, con người thời nay, buộc ta phải đảo lại hai vế của câu ca, hòng kéo Trần Tiến trở về với cõi thực chăng: “Hà Nội cái gì cũng đắt, chỉ có rẻ nhất bạn bè thôi. Hà Nội, cái gì cũng đắt, chỉ có rẻ nhất tình người thôi”.
(more…)

Đỗ Trường

nguyen_van_gia
Nhà thơ Nguyễn Văn Gia

Có lẽ, không chỉ riêng tôi, mà dường như còn nhiều người sống xa quê vào những này xuân, ngày tết này, thường tìm đọc những bài viết, câu thơ về quê hương, đất nước và gia đình. Và từ trong cái hương hoa đồng nội ấy, như mong tìm lại được một chút của hương xưa. Qui Y, và Mơ của Nguyễn Văn Gia là những bài thơ, tôi tìm thấy và được đọc trong hoàn cảnh, tâm trạng như vậy.

Tôi biết và đọc thơ của Nguyễn Văn Gia đã khá lâu. Có thể nói, ông viết, in ấn chưa thật nhiều, nhưng là một trong những cây bút tài năng, có nội lực ở Đà Nẵng, xứ Quảng miền Trung hiện nay. Xuất thân từ nhà giáo, do vậy thơ ông nhẹ nhàng, không đao to búa lớn, dù đó là những bài thơ thế sự xã hội bức xúc. Nguyễn Văn Gia viết đủ các đề tài, với nhiều thể thơ khác nhau. Nhưng, thơ Lục bát và Ngũ ngôn của ông để lại nhiều ấn tượng trong tôi. Bởi, nó gần với Đạo giáo, gắn liền với những triết lý nhân sinh.
(more…)

Đỗ Trường

nu_bo_doi

Sau lễ vọng đêm 24 Noel, tôi và Nam Võ lên xe đến thăm Bùi Lợi, Trần Nam Anh và bạn bè ở Dresden. Xe vừa ra khỏi thành phố, nhận được điện thoại của anh chị Châu Müller từ Bodensee, thông báo:

– Anh chị cùng vợ chồng người bạn đang trên đường đến Leipzig. Một cuộc đi ngẫu hứng, và đã đặt chỗ nghỉ ở Hotel Lindenau cạnh nhà Đỗ Trường.

Tôi buộc phải quay xe, và bảo:

– Anh chị báo Hotel hủy đặt chỗ nghỉ, bởi nhà em còn đủ phòng cho hai gia đình.
(more…)

Đỗ Trường

nguyen_thanh_giang
TS Nguyễn Thanh Giang

Những thập niên gần đây, dường như hình ảnh, tên tuổi nhà khoa học Nguyễn Thanh Giang được nhiều người mến mộ và nhắc đến. Nó là hình tượng tự do, khơi dậy, tranh đấu nơi quê nhà. Lòng can đảm ấy, như một sự tiếp nối hùng khí của sĩ phu năm nào. Không chỉ dừng lại như vậy, ông còn làm thơ, viết văn và là một nhà lý luận chính trị xã hội sâu sắc. Những bài viết của ông gây tiếng vang, vượt ra khỏi nơi tối tăm tù đày.

Tuy rất ngại đọc văn chính luận, nhưng những bài của ông hoặc của Tiến sĩ Hà Sỹ Phu, tôi đọc khá nhiều. Bởi, ngoài hấp dẫn đề tài, cái sinh động của câu văn, ta còn thấy, sự thẳng thắn đầy trách nhiệm với xã hội, con người ở trong đó. Cũng như mọi độc giả, đọc văn, rồi cũng mong có ngày gặp được tác giả mà mình mến mộ.
(more…)

Đỗ Trường

thi_si_dinh_hung
Nhà thơ Đinh Hùng (1920-1967)

Khi quan điểm triết học, mỹ học thay đổi vào cuối thế kỷ mười chín, đầu thế kỷ hai mươi ở phương Tây, kể từ đó xuất hiện một trào lưu văn học nghệ thuật mới. Tuy thời gian không dài, nhưng chủ nghĩa tượng trưng và siêu thực ấy đã ảnh hưởng khá sâu sắc đến khuynh hướng, nghệ thuật sáng tạo của các nhà thơ nói riêng, và văn nghệ sĩ nói chung ở Việt Nam lúc đó. Sau 1954, khuynh hướng sáng tác này bị bài bác ở miền Bắc, nhưng nó vẫn được nuôi dưỡng, như một dòng chảy tiếp nối của văn học miền Nam. Và gần đây, một số nhà thơ có xu hướng quay trở lại thi pháp đó. Tuy nhiên, nó đã bị bóp méo và biến tấu thành những thứ thơ đọc không thể hiểu, tối thui về tư tưởng cũng như hình thức và ngữ nghĩa.
(more…)

Đỗ Trường

dark_soul

Quá nửa đêm, tôi rời trang sách. Đèn tắt. Chợt có chuông điện thoại làm giật cả mình. Bởi, những cú gọi như thế này, đều là chuyện cần kíp và gây sốc cả. Vẫn cái giọng trong veo nửa nam, nửa bắc của nó, gọi cho tôi trước đây tám tháng từ London, báo tin ba nó mất. Tôi chưa kịp hỏi, nó đã bảo, cháu chuyển hướng sang làm ăn ở Tiệp, hôm nào rảnh sẽ sang Đức và đến thăm chú. Vậy là, nó không thể bỏ được công việc cực kỳ tai hại và nguy hiểm. Cái công việc ba nó đã phải bỏ cả cái mạng sống của mình. Mọi sự ngăn cản, khuyên giải lúc này với nó hình như đã quá muộn chăng? Không! Tôi vẫn không nghĩ như vậy. Bởi, nó còn rất trẻ, đường đi còn dài đang ở phía trước.
(more…)