Archive for the ‘Đỗ Trường’ Category

Đỗ Trường


Nhà thơ Đinh Thị Thu Vân

Khi Đinh Hùng rời cõi tạm vào chớm thu 1967, thì tưởng chừng vòm trời thi ca đã để lại một khoảng trống không thể bù đắp. Nhưng may mắn thay, đúng mười năm sau (1977) thì tình yêu, khát khao, sự cuồng say đến tận cùng ấy được sống lại bởi Đinh Thị Thu Vân. Có lẽ, con đường thơ độc đạo còn dang dở ấy của Đinh Hùng, được tiếp nối, và mở ra bằng hồn thơ Đinh Thị Thu Vân chăng? Dù thơ ca của hai thi sĩ này có ngôn ngữ, hình thức, thể loại rất khác nhau. Và cũng chẳng hiểu, hai thi sĩ họ Đinh này có quan hệ (huyết thống) gì hay không? Mà làm cho tôi, khi đọc Đinh Hùng nhớ đến Đinh Thị Thu Vân, và đọc Đinh Thị Thu Vân lại nhớ đến Đinh Hùng. Và có thể nói, hình tượng cái tôi trữ tình, và phương pháp tu từ, mang tính tự sự là nghệ thuật đặc trưng đã làm nên hồn vía thơ ca Đinh Thị Thu Vân.
(more…)

Đỗ Trường

Đang dịch virus Tàu đi đâu kể cũng ngại. Nhưng công việc có liên quan đến cơ quan chóp bu ở những tận Berlin, thì không thể không lên. Termin, hẹn hò, xong việc đã vào tầm trưa. Thấy người hơi rung rinh, có lẽ đã ngấm đói. Nơi đây chắc chắn, không xa chợ người Việt cho lắm. Đến đó, liều gọi mấy gã bạn văn nhân nửa mùa ra cùng nhấc lên, đặt xuống chút cho máu. Nghĩ vậy, tôi bật Navi tìm đường liền… Dù vào giờ ăn trưa, nhưng đang mùa dịch, do vậy hàng quán trong Chợ Đồng Xuân dường như hơi bị hẻo. Không khí tĩnh lặng lắm. Đang lớ ngớ, nhòm vào Đức Anh Quán, bị ngay một phát vỗ vai từ phía sau làm giật thót cả người, chùm chìa khóa trên tay tôi rơi tuột xuống đất:

– Trường! Đỗ Trường phải không?
(more…)

Đỗ Trường


Nhà văn Phan Nhật Nam

Nếu buộc phải chọn hai gương mặt tiểu biểu nhất cho thơ văn chiến tranh của nền Văn học miền Nam, thì có lẽ, tôi nghĩ ngay đến nhà thơ Tô Thùy Yên và nhà văn Phan Nhật Nam. Tuy khác nhau về hoàn cảnh, xuất thân, song hai bác này có những nét khá tương đồng, kể từ khi mặc áo lính, cho đến những năm tháng tù đày (dài lê thê) sau chiến tranh. Nhìn lại văn học sử Việt Nam có ba người lính cầm bút tài năng: Cao Xuân Huy, Nguyễn Bắc Sơn, và Phan Nhật Nam đều có người cha ở bên kia của chiến tuyến. Tuy nhiên, cũng như Cao Xuân Huy, nhà văn Phan Nhật Nam đã phân định trách nhiệm rạch ròi của người lính, không hề có sự mâu thuẫn nội tâm, do dự trên đầu súng và cây viết như Nguyễn Bắc Sơn. Có thể nói, nếu không có cuộc chiến này, thì chưa chắc chúng ta đã có một Phan Nhật Nam nhà văn của ngày hôm nay. Thật vậy, chính chiến trường đạn bom, khói lửa, chết chóc và tù đày đã đưa ông đến với những trang văn. Và chỉ có đối diện với những trang giấy, Phan Nhật Nam mới giải tỏa được tâm lý cũng như cứu rỗi linh hồn người lính trận. Món nợ với đồng đội với đất nước, cùng cái trớ trêu của cuộc chiến này, ngay từ những ngày đầu cầm bút cho đến nay luôn ám ảnh và xuyên suốt sự nghiệp sáng tạo của Phan Nhật Nam. Do vậy, nếu đọc một cách có hệ thống, ta có thể nhận thấy những đặc điểm nổi bật trong văn thơ, cũng như con người Phan Nhật Nam: Chiến tranh đưa đến tan vỡ tâm hồn, và lẽ sống của người lính. Sự tàn khốc của cuộc chiến ấy dưới ngòi bút sắc sảo của Phan Nhật Nam hiện lên một cách trung thực, sinh động. Và không chỉ trên chiến trường, mà trong tăm tối ngục tù cũng vậy, ta luôn thấy sự giải thoát. Thật vậy, lời dự báo, hay sự phản kháng là con đường giải thoát của ông đôi khi có tính tiêu cực, nhưng nó bật lên cái chí khí, tính nhân đạo cao cả. Chính bởi những đặc điểm này, đã làm nên tên tuổi nhà văn thật vạm vỡ Phan Nhật Nam.
(more…)

Đỗ Trường


Thi sĩ Nguyễn Đức Sơn (1937-2020)

Khi đọc, và nghiên cứu văn học sử Việt Nam có hai người đặc biệt làm cho tôi ám ảnh. Đó là nhà văn Nguyên Hồng, và thi sĩ Nguyễn Ðức Sơn (Sơn Núi) ở hai đầu của đất nước. Sự ám ảnh ấy, không hẳn bởi văn thơ, mà vì tư tưởng, cũng như cuộc sống của họ. Tuy ở hai thế hệ, cách nhau bằng một cuộc nội chiến hai mươi năm, song cuộc sống Nguyên Hồng và Nguyễn Ðức Sơn có sự trùng hợp ngẫu nhiên, mang đến nhiều điều thú vị, chất chứa nỗi buồn day dứt cho người đọc. Nếu sự chối bỏ Hà Nội đến với núi rừng Bắc Giang sau 1954 của Nguyên Hồng làm sửng sốt giới văn nghệ sĩ, người đọc ở miền Bắc, thì sau 1975 Nguyễn Ðức Sơn chán chường vứt bỏ Saigon, trèo lên đỉnh Cao nguyên Bảo Lộc còn làm cho mọi giới, trên toàn đất Việt phải giật mình hơn nữa: “về đây với tiếng trăng ngàn/ phiêu diêu hồn nhập giấc vàng đó em/ trăm năm bóng lửng qua thềm/ nhớ nhung gì buổi chiều êm biến rồi”. Vâng, tôi nghĩ: Buổi chiều êm biến rồi, không phải tâm trạng, nỗi đau riêng của Nguyễn Ðức Sơn lúc đó.
(more…)

Đỗ Trường


Nhà văn Đỗ Chu

Ngay khi còn là học sinh cấp hai ở thập niên bảy mươi của thế kỷ trước, cái tên Đỗ Chu đã rất gần gũi và quen thuộc với chúng tôi. Bởi, những truyện ngắn, tùy bút… của ông như thôi miên tâm hồn (trẻ thơ) chúng tôi lúc đó. Và rồi, gần nửa thế kỷ qua, nhất là mấy mươi năm lận đận ở trời Âu này, cái tên Đỗ Chu dường như cũng mờ nhạt dần trong ký ức. Nhưng thật may mắn, hôm rồi có một người bạn gửi tặng cho tôi (một bộ sách, gồm) 4 tập truyện: Một Loài Chim Trên Sóng, Thăm Thẳm Bóng Người, Tản Mạn Trước Đèn và Chén Rượu Gạn Đáy Vò của Đỗ Chu. Tôi đọc ngay, đọc một mạch. Và nó đã trả tôi về với tuổi thơ, với những cảm xúc, tâm trạng của cái thuở ban đầu khi đọc ông.
(more…)

Đỗ Trường

Bữa nhậu trong đám cưới con ông bạn ở Mannheim hơi bị buồn tẻ, có lẽ cũng tại bởi giai Nam lấy gái Bắc. Sự thông gia một cách miễn cưỡng, bắt buộc ấy của ông lính Việt Nam Cộng Hòa với ông bộ đội do sự vô tư, lựa chọn yêu đương (không ai có thể ngăn cản) của đôi con trẻ, cùng sinh trưởng ở mảnh trời Âu này. Tôi ngồi giữa cái lằn ngăn cách vô hình đó. Đang gật gù, nhấc lên, đặt xuống để lấy đà, tạo khí thế cho hai họ, chợt có bàn tay cứng ngắc ở sau gáy, cùng tiếng cười khùng khục: Thằng cu Đỗ Trường! Bao năm mày biệt tích, sao bây giờ lại dám ngật ngưỡng, hò hét ở đây?

Không quay lại, nhưng tôi biết ngay đó là Hùng tà lọt, dù trên hai chục năm không gặp lại gã. Hùng tà lọt người Bà Rịa, nguyên là người lính địa phương quân, cùng trung đội với Sơn Phối, bố của chú rể. Sau 30 tháng 4- 1975, hai gã dắt tay nhau vào trại tập trung cải cạo, rồi vượt biên, cùng định cư ở Maiz. Nghe nói, ngày còn chiến tranh, khói lửa Hùng cũng là tiểu đội trưởng, thượng sĩ hay trung sĩ nhất gì đó, nhưng không hiểu sao cái Spitzname tà lọt vận vào gã từ khi nào. Trước đây, có một lần tôi hỏi về cái biệt danh này, gã cười khì khì không nói.
(more…)

Đỗ Trường

Sau mùa bão năm ấy, tôi trở về quê. Tháng ba, lúa đương thì con gái, xanh mướt một màu, trải dài đến tận chân đê. Chưa đến mùa mưa mà nước sông Đáy đã dềnh lên, cuộn chảy như rút ruột phù sa từ nơi thượng nguồn. Mặt trời thấp dần về phía tây, những tia nắng cuối ngày hắt ngược dãy núi Hình cánh diều lên cao in vào nền trời. Lúc này, cửa cống chính Qũy Nhất bắt đầu mở. Từ trên cao nhìn xuống, nước đổ vào những nhánh sông nhỏ, như nét chì vẽ ôm lấy xóm làng, với những cánh đồng mờ xa.

Chiến tranh, dường như làng cũng vắng người. Tôi liêu xiêu đi trong gió, cùng cái rét cuối mùa trên con đường tĩnh lặng. Tới nhà, cổng vẫn mở, nhưng chị Hậu đã đi đâu đó. Để balo, sách vở vào chiếc ổ rơm ở góc nhà, tôi chạy ra đình làng. Nơi hoa gạo chín rụng đỏ sân. Thấy tôi, chị Hậu dừng tay, ngẩng lên cười rất vui hỏi, không biết em về lúc nào, nên chị đã để cửa, không khóa. Mà sao biết chị ở đây? Không trả lời ngay, song tôi hỏi lại chị, nhặt hoa gạo để làm gì. Vuốt nhẹ cánh hoa gạo trên tay, chị bảo, làm thuốc. Tôi hơi ngạc nhiên, nhưng vẫn cúi xuống nhặt cùng chị… Và lúc sau, hoa đã đầy chiếc nón lá chị mang theo.
(more…)

Đỗ Trường

Tôi không bất ngờ lắm, khi nhận được tập 2, Thơ Việt Ở Đức, do Sa Huỳnh và Thế Dũng gửi tặng. Bởi, mấy tháng trước dù đang còn lật khật ở Pleiku, Thế Dũng đã dọa, sắp cho ra lò tuyển tập này. Và cũng từ lâu, tôi chỉ đọc và theo dõi, chứ dường như không còn nhiều hứng thú viết về thơ văn của những tác giả đang sống, và làm việc ở Đức nữa. Vì cái tính hịch toẹt của tôi đôi khi làm không vừa lòng nhau. Khen thì không thể, chê càng bỏ bà nữa. (Một sự kẹt cứng của ngòi bút). Biết là vậy, nhưng đã nhận sách từ Thế Dũng, thì không ít thì nhiều, sớm hay muộn kiểu gì cũng phải viết cho gã. Do vậy, tôi đọc, và viết ngay, bằng không, khó mà Ruhe (yên) trong những ngày giáp Tết này.
(more…)

Đỗ Trường

 
Nhà văn Phạm Tín An Ninh và một trong những tác phẩm của ông

Sau chiến tranh, tuy bị bức tử, nhưng Văn học miền Nam vẫn hồi sinh, phát triển, để bước sang một trang sử mới. Văn học Hải ngoại, một hình thức, hay tên gọi văn chương tị nạn, là sự nối dài của nền Văn học ấy. Và từ đó, ngoài các nhà văn tên tuổi, ta thấy, xuất hiện một loạt các cây viết mới. Họ xuất thân từ những người lính, tù nhân, thuyền nhân tị nạn, như: Cao Xuân Huy, Song Vũ, hay Phạm Tín An Ninh… Chiến tranh, con đường giải oan cho cuộc bể dâu ấy, là đề tài đã được các nhà văn đào sâu, tìm kiếm làm sáng tỏ một cách chân thực, sinh động. Và khi đi sâu vào nghiên cứu, ta có thể thấy, Phạm Tín An Ninh là một trong những nhà văn tiêu biểu nhất viết về đề tài này.
(more…)

Đỗ Trường

Cứ ngỡ, ở cái tuổi quá lục tuần, với những cuộc rong chơi cùng trời cuối đất, Thế Dũng đã lạnh nhạt với văn chương, song tôi đã lầm. Bởi, hôm rồi tôi gọi điện thúc giục gã viết cho xong cuốn Con Chữ Thiên Di. Điện thoại chuông đổ ầm ầm, lúc sau mới thấy gã cầm máy. Tiếng ồn nơi đông người thật khó nghe:

– Thế Dũng! Bác đang ở đâu đấy?

Nghe tiếng gã cười khùng khục ở đầu dây bên kia:

– Đang bẹt nhè ở Pleiku. Có về được thì uống đỡ cho anh mày một chút.

– Rượu chè thế này, Con Chữ Thiên Di đến cuối năm xong thế chó nào được!

Tôi vặc lại Thế Dũng như vậy, làm cho gã giải thích như quát trong máy:

– Thằng em cứ đùa. Không xong cuốn này, thì anh mày xong cuốn khác. Văn thơ chứ đâu phải bổ củi. Đôi khi còn phụ thuộc vào cảm hứng nữa. Lắm lúc, định viết cái này, tự nhiên nó xọ mẹ sang cái khác. Vừa in xong cuốn: Tôi Vẫn Sống Ở Nơi Mình Vắng Mặt. Không nằm trong dự định, cũng đang định gửi cho thằng em…
(more…)

Đỗ Trường


Nhà thơ Du Tử Lê (1942-2019)

Trong năm 2019 này, Văn học Việt mất đi hai nhà thơ tên tuổi, Tô Thùy Yên và Du Tử Lê. Thơ văn của họ đã đi qua nhiều thế hệ người đọc. Đều xuất thân từ người lính Việt Nam Cộng Hòa, tuy nhiên số phận, tính cách, cũng như hồn vía thi ca của hai nhà thơ này, hoàn toàn khác biệt. Viết không nhiều, cho đến cuối đời Tô Thùy Yên chỉ in ấn, xuất bản vài ba tác phẩm, song những thi tập ấy cho người đọc sự đồng cảm, day dứt, kính trọng với sức nặng của một nhà thơ lớn. Cùng đó, Du Tử Lê với 77 năm cuộc đời và 77 tác phẩm, để lại cho đời một nghệ sĩ tài hoa, chứ dường như, không (hay chưa) hiển hiện lên trong tôi, chân dung của một nhà thơ lớn. Có lẽ, người nghệ sĩ lớn, ngoài nhân cách, tài năng, ngòi bút của họ phải chọc thẳng vào hiện thực xã hội, cũng như cuộc sống và con người một cách trung thực nhất chăng?.
(more…)

Đỗ Trường

(Có những người bạn chẳng thân cũng không sơ, lúc thì thâm sâu khó lường, khi thì mộng du, ảo tưởng nông cạn. Họ mất đi, đôi khi cũng để lại một khoảng trống trong tâm hồn. Từ đó, buộc ta phải cầm bút viết về họ, như thể khép lại một chặng đường đã qua vậy.)

Hắn mất ở một thành phố rất xa, sau một tuần tôi mới biết, từ báo chí của cộng đồng. Một cái chết không gây cho tôi sự bất ngờ. Bởi, đã bước vào cái ngưỡng gần thất thập, bị thiến mất một lá phổi, và thương tích chiến tranh vẫn còn găm đầy mình, song hắn vẫn giữ lối sống hoang phí ở cái tuổi hai mươi. Mới tháng trước, hắn về Leipzig mua xe ô tô cũ, và ở lại nhà tôi ít ngày. Dù bị tràn dịch màng phổi sau một thời gian điều trị không lâu, hắn vẫn ực bia, đốt thuốc mù nhà. Cái khoản cá cược bóng đá, hoặc ngồi bấm máy Automat hắn không thể bỏ. Tuy chỉ chơi nhỏ với khoản tiền trong túi, nhưng hắn thường ngồi thông đêm. Chẳng vậy, mấy ngày ở Leipzig, cứ hai, ba giờ sáng, nhè đúng lúc vừa qua cơn trằn trọc, tôi bắt đầu thiu thiu ngủ, hắn bấm chuông gọi mở cửa. Chịu không nổi, tôi lừ hắn: Đã quá tam ba bận rồi, lần sau ngủ ngoài đường nhé. Hắn cười rất hồn nhiên, nhảy lên giường, rồi bật bia tu ừng ực…
(more…)

Đỗ Trường

Bốn thằng chúng tôi được liệt vào nhóm học sinh cá biệt trong lớp, nghịch ngợm, chểnh mảng việc học hành. Ấy vậy, chẳng hiểu thế quái nào, ba thằng bạn tôi thi đại học đều đủ điểm du học nước ngoài. Ngày đấy, những năm cuối thập niên bảy mươi của thế kỷ trước, nhà thằng nào cũng nghèo đói, bố mẹ đều thất học, tin được du học có khác gì trúng xổ số độc đắc. Riêng tôi trượt thẳng cẳng “chó chạy cùng sào“ chuyển sang học sư phạm. Hôm tiễn ở sân bay, chúng nó còn trêu tôi như vậy.

Học xong, tôi vào làm việc ở ty giáo dục Gialai- KonTum. Được mấy tháng, can tội cãi lộn với trưởng phòng tổ chức cán bộ, tôi bị kỷ luật chuyển về phòng giáo dục Sa Thầy. Dù rất yêu, phố núi cao, phố núi đầy sương…và em Pleiku má đỏ môi hồng của thi sĩ Vũ Hữu Định, nhưng tôi đành từ giã Pleiku trở về Hà Nội. Lang thang đúng một năm, tôi ngứa ngáy nên thi vào trường ngoại ngữ. Học được mấy tháng, tôi lại thấy chán nên bỏ. Thế rồi cái nghề xóc chảo ở Đức, nó lại vận vào tôi, quần quật từ sáng đến đêm úp mặt vào chảo, chợt có lúc giật mình thấy tóc trên đầu đã nửa trắng, nửa đen. Có đêm trở mình, trằn trọc không ngủ, nhớ về mấy thằng bạn học cũ làm cho bà vợ nhiều lúc sinh nghi.
(more…)

Đỗ Trường
(Nhân 30 năm ngày sụp đổ bức tường Berlin dẫn đến thống nhất nước Đức vào ngày 3-10-1989. Bài này, tôi viết đã lâu, bác nào chưa đọc, đọc cho biết cái không khí ngày ấy. ĐT)

Năm 2009 nước Đức và châu Âu, kỷ niệm hai mươi năm, ngày bức tường Berlin sụp đổ. Ngăn cách đông, tây đã được xoá bỏ. Người Đức đang dựng tượng đài kỷ niệm ngày này với kinh phí nhiều triệu Euro tại thành phố Leipzig, chiếc nôi khởi xướng của các cuộc biểu tình thứ hai hàng tuần, đòi tự do, dân chủ và phá bỏ hàng rào đông, tây. Chúng tôi, những công nhân lao người Việt cư ngụ tại thành phố này, đã may mắn được chứng kiến những giờ phút sục sôi đó.

Ngày đó đã bước vào tuổi ba mươi, nhưng quả thật tôi rất thờ ơ, mù mờ về chính trị, xã hội. Nói môt cách dân dã và bỗ bã hơn, về khoản này tôi vào dạng “chậm hiểu, ngu lâu khó đào tạo “. Tôi làm ở nhà máy giết mổ gia súc, một bộ phận nặng nề nhất dây chuyền xẻ, lọc thịt heo, bò. Ngày thứ hai hàng tuần, là ngày làm nặng nhọc nhất, tôi rất sợ làm việc vào ngày này, bởi thịt để ở nhà lạnh qua hai ngày thứ bảy và chủ nhật. Dao chọc vào đùi heo, để lấy xương, lọc thịt, giời đất ạ, cứ như là chọc vào đá vậy. Nhiều khi trượt dao đâm vào tay mình máu chảy đầm đìa, sẹo đầy tay mà cứ cho là chuyện vặt. Bình thường những ngày này, nhà máy phải điều thêm người về phân xưởng giúp chúng tôi. Nhưng không hiểu sao mấy thứ hai đầu tuần gần đây, người đã không được thêm, những gã thợ chính người Đức lại đi đâu mất tiêu, chỉ còn trơ lại mấy ông làm thuê người Cuba, Việt Nam ngơ ngác nhìn nhau. Không có người làm, mấy ông thợ cả, quản đốc phân xưởng cũng phải xắn tay vào làm việc. Không kịp, dây chuyền vẫn chạy thịt tồn đống, tiếng quát tháo inh ỏi.
(more…)

Đỗ Trường

Thời gian gần đây, những lúc tâm trạng không được thăng bằng, tôi thường tìm đến Nguyễn Văn Gia. Đọc thơ ông, tuy không có cái chất cổ phong, với chiều sâu suy tưởng của Phạm Ngọc Lư, nhưng cho tôi cái tĩnh tại của nội tâm, cùng sự lắng đọng mang mang hương lúa, hồn quê. Khi đi sâu vào đọc và nghiên cứu, ta có thể thấy, cái cái truyền thống văn chương xứ Quảng đã đưa Nguyễn Văn Gia đến với thi ca ngay từ cái thuở học trò. Song cái hồn thơ ấy, dường như bị chẻ, chia ở đâu đó. Và phải đợi đến biến cố lớn nhất của cuộc đời ở cái tuổi ngũ tuần, mới làm hồn thơ Nguyễn Văn Gia chợt tỉnh. Tuy nhiên, là người trầm tư, kỹ tính, do vậy, Nguyễn Văn Gia viết không nhiều. Cho đến nay, ông mới cho in ấn và phát hành ba thi tập: Đôi Bờ Thời Gian (2010) Lặng Lẽ Phù Sa (2015) và Nắng Gió Quê Nhà (2019). Có thể nói, đây là những tập thơ hay về nội dung tư tưởng cũng như nghệ thuật sáng tạo, mà tôi đã được đọc trong thời gian gần đây. Nếu Đôi Bờ Thời Gian và Lặng Lẽ Phù Sa hồn quê, hương lúa được vọng lên từ tình yêu, lẽ sống của con người, thì đến với thi phẩm Nắng Gió Quê Nhà ngòi bút Nguyễn Văn Gia đã chọc thẳng vào những nỗi đau đang hằn lên hình đất nước. Và có thể nói, đi tìm lại ký ức, tìm lại đất nước, hồn quê là tư tưởng xuyên suốt sự nghiệp sáng tạo của ông.
(more…)

Cái bẫy

Posted: 09/08/2019 in Truyện Ngắn, Đỗ Trường

Đỗ Trường

Đã lâu lắm rồi, châu Âu mới có một mùa hè nắng và nóng đến vậy. Trời đã vào đêm, vậy mà dường như, hơi nước bốc lên từ con đường Beton vẫn còn những vệt mờ mờ xuyên qua khung cửa kính trước mặt. Cửa ra của sân bay Leipzig đã vắng người. Nguyễn Bình An có vẻ sốt ruột, kiễng chân, nhoài người, nhòm vào phía trong, văng tục:

– Thằng bỏ mẹ này, có lẽ mang hàng lậu, tiền bẩn bị Hải quan, Công an tóm cổ lại thật rồi.

Từ phía sau, tôi nói vọng lên trấn an:

– Nếu quả vậy, thì nó đã bị tóm ở phi trường Paris, London, chứ đâu đến lượt cái sân bay tỉnh lẻ này. Cái loại quái thai, quyền lực nghiêng ngả, lắm của, nhiều tiền như nó, thiếu gì kẻ đóng thay chết thế. Tội gì, nó phải làm như vậy.
(more…)

Đỗ Trường

Mùa đông năm nay, châu Âu không có nhiều tuyết rơi, và những cơn gió lạnh thấu hồn người. Song cái rét cứ dùng dằng, dai dẳng. Gần hết tháng 4 rồi, dường như cái lạnh còn ủ ở đâu đó. Mặt trời đã lấp ló, vậy mà sân ga Leipzig vẫn còn vắng bóng người. Và bất chợt có những cơn gió rít lên từng hồi, như gió bấc nơi quê nhà vậy. Khi tôi đến, tàu Leipzig đi Nürnberg, München đã chuẩn bị rời bến. Nhảy vội lên, và tôi đi ngược về phía đầu tàu. Đến toa Bistro, tôi đứng lại, định mua ly cafe. Bất chợt có tiếng khẽ gọi, và hỏi: Trường! Đỗ Trường phải không? Tôi giật mình quay lại, thấy đôi vợ chồng già Việt – Đức ngồi ở bàn ăn, bên cửa sổ, với khuôn mặt lạ hoắc. Tôi gật đầu cười cười, nhưng mặt nghệt ra. Người đàn bà đứng dậy, đi về phía tôi: Đúng Đỗ Trường rồi, em không nhận ra chị thật sao? Tôi nhíu mắt, lặng yên… và lắc đầu. Chị vồn vã, nói một thôi một hồi: Giang, Vũ Lê Giang, bạn (nhà văn) Dương Thu Hương, chị của Dương Hoài Nam… Thời Đông Đức, các em đã từng đến thăm chị ở  đội may 500 trên đồi…
(more…)

Đỗ Trường


Nhà văn Cao Xuân Huy (1947-2000)

Sau 1975, Văn học cũng như con người buộc phải trốn chạy, tìm đường vượt biển. Tưởng chừng, nơi miền đất lạ, dòng văn học tị nạn ấy sẽ chững lại. Nhưng không, nó như những nhánh sông âm thầm vặn mình bồi lên mảnh đất khô cằn đó. Chiến tranh, người lính vẫn là đề tài nóng bỏng để các nhà văn tìm tòi, khai thác. Vào thời điểm ấy, những nhà văn quân đội Phan Nhật Nam, Trần Hoài Thư, Thế Uyên… đang ở độ chín và sung sức. Và sau đó, xuất hiện hàng loạt nhà văn xuất thân từ những người lính chiến đã trải qua những năm tháng tù đày, như: Phạm Tín An Ninh, Song Vũ hay Cao Xuân Huy… Tuy văn phong, thi pháp riêng biệt, nhưng tựu trung, mỗi trang viết của họ đều để lại những ấn tượng thật sâu sắc trong lòng người đọc. Nếu văn của Phạm Tín An Ninh đẹp, sáng và nhẹ nhàng, thì từ ngữ trên những trang viết của Cao Xuân Huy nặng tính khẩu ngữ trần trụi, mãnh liệt. Có một điều rất thú vị, đọc Cao Xuân Huy, tôi lại nhớ đến nhà thơ người lính Nguyễn Bắc Sơn. Bởi, tính đặc trưng ngôn ngữ làm nên hình tượng, chất lính rất đặc biệt trong thơ văn của hai ông văn sĩ này.
(more…)

Đỗ Trường


Thi sĩ Nguyễn Tất Nhiên (1952-1992)

Khi ngôi sao mai Nguyễn Nho Sa Mạc chợt vụt tắt, khoảng trống để lại tưởng như khó có thể bù lấp, thì may mắn thay, trên vòm trời thi ca xuất hiện một Nguyễn Tất Nhiên. Tuy còn tuổi học trò, và khác nhau về thi pháp sáng tạo, nhưng có thể nói, Nguyễn Nho Sa Mạc và Nguyễn Tất Nhiên là hai thi sĩ đích thực. Sự xuất hiện của họ góp phần làm dịu mát, và giải tỏa sự bế tắc của văn thơ, cũng như âm nhạc miền Nam trong giai đoạn chiến tranh khốc liệt nhất của dân tộc.

Đọc và đi sâu vào nghiên cứu, ta có thể thấy, thi sĩ Nguyễn Tất Nhiên tên thật là Nguyễn Hoàng Hải, sinh năm 1952 tại Biên Hòa. Ông là hiện tượng rất đặc biệt của văn học miền Nam. Cái đặc biệt ấy, không chỉ ở tài năng chín sớm, mà ta còn thấy rõ ý tưởng, cũng như hình tượng và ngôn ngữ mới lạ trong thơ Nguyễn Tất Nhiên.
(more…)

Đỗ Trường

Trời đã lập xuân, vậy mà gió bấc vẫn như những ngọn roi quất vào mặt người. Màn đêm đổ xuống thật nhanh. Bãi ven sông làng Trà Hương, Khúc Giang ánh đuốc bừng lên. Tiếng va chạm binh khí, tiếng reo hò của các binh sĩ vang cả một khúc sông. Từ trong bóng tối, tiếng vó ngựa dồn dập, thấp thoáng lao nhanh về phía trung quân. Nhận ra Mạc Hiển, anh em Phạm Hạp và Phạm Cự Lạng chống đao, hét binh sĩ ngừng tập. Chắc chắn có việc cần kíp, Lạng vội đỡ Hiển xuống ngựa. Lạng chưa hỏi, Hiển đã bảo, có thư khẩn của Sứ quân Phạm Bạch Hổ và Đinh Bộ Lĩnh. Hiện Sứ quân đã về với Lĩnh, hợp binh ở Hoa Lư Động. Theo sự tiến cử của Sứ quân, Đinh Bộ Lĩnh mời Trà Hương tướng sĩ chúng ta về Hoa Lư cùng mưu nghiệp lớn.
(more…)

Đỗ Trường


Hòa thượng Thích Như Điển

Dường như, không ai nghĩ, ngọn lửa mùa thu 1989, được đốt lên từ sinh viên, từ nhà thờ (Nikolaikirche) Leipzig đã thiêu cháy bức tường Berlin nhanh đến như vậy. Tuy vui mừng, nhưng cái bất ngờ ấy cũng mang đến sự hoang mang không ít cho người Việt chúng tôi đang sống, và làm việc ở miền Đông nước Đức. Bởi, hầu hết các nhà máy, công xưởng phải đóng cửa. Không riêng chúng tôi, mà kể cả những nghiên cứu sinh, sinh viên đại học cũng chạy loạn xí ngầu. Có lẽ, chỉ có ai đã từng sống qua cái thời khắc đó, mới hiểu hết tâm trạng của chúng tôi. Quả thực, tiền bạc, nơi ăn chốn ở, không phải là điều chúng tôi phải lo nghĩ tới. Bởi, sống ở Đức đã khá lâu, tiền bạc chúng tôi vẫn còn rủng rỉnh trong túi. Ngoài ra, nhà cửa, ăn uống, bảo hiểm ốm đau đều có xã hội chu cấp. Nhưng tâm hồn ai cũng vậy, rất chông chênh và trống trải. Có thể nói, chúng tôi như những con chim lạc đàn, chưa định được đường bay. Thì thật may mắn thay, những người Đức, người Việt ở miền Tây đã mở rộng vòng tay, cùng nơi cửa Phật, Thánh đường che chở, bao bọc, lấp đầy những khoảng trống trong hồn người bơ vơ.
(more…)

Đỗ Trường


Nhà văn Trương Văn Dân và vợ ông nhà văn Elena Pucillo

Nếu không có gần nửa thế kỷ sống xa quê, xa Tổ Quốc, thì có lẽ, chưa chắc Trương Văn Dân đã dính vào cái nghiệp văn chương, viết lách. Những năm tháng chia ly ấy, như một sự thiếu hụt trong tâm hồn, luôn làm cho ông chông chênh và trống trải. Để lấp đi khoảng trống đó, Trương Văn Dân phải độc thoại trên từng trang viết của mình. Sự tìm tòi và sáng tạo ấy, không chỉ vơi đi nỗi nhớ thương, mà còn giúp ông tìm lại một nửa linh hồn của mình, dường như vẫn còn ở lại nơi quê nhà. Do vậy, có thể nói, cũng như Trần Trung Đạo, Phạm Tín An Ninh, hay Cao Xuân Huy, nhà hóa học Trương Văn Dân đến với văn thơ một cách ngẫu nhiên, bởi hoàn cảnh cuộc sống, và trái tim thúc bách, chứ hoàn toàn không có sự chuẩn bị để trở thành một nhà văn. Văn thơ Trương Văn Dân, tuy không vụt sáng lên, song nó góp phần không nhỏ cho sự tiếp cận, giao thoa giữa hai nền văn học Việt – Ý (Italia).
(more…)

Đỗ Trường

Gà đầy ự đĩa. Những cái nhìn thăm dò, cân não cùng đòn gió đã được đưa ra, vậy mà không ai có thể ù. Mặt thằng nào cũng phừng phừng đỏ. Đang độ gay cấn, căng thẳng, chợt có tiếng Đỗ Nga Thị the thé từ phòng khách vọng ra: Có đứng dậy đi về hay không, thì bảo. Tiếng quát làm gã đầu bạc ngồi đối diện với tôi giật mình, mấy lá bài trên tay rơi úp vào lòng. Hai Hiển chủ nhà, một thuyền nhân tị nạn, ngồi cạnh càu nhàu: Bà làm quái gì hắc xì dầu thế. Để ông ấy chơi chút nữa, gà béo, bắt đến nơi rồi. Không trả lời Hai Hiển, Đỗ Nga Thị vọt ra, đứng sau gã đầu bạc, thúc thúc đầu gối vào lưng: Đứng dậy, đứng dậy, làm thì lười, tá lả sao chăm thế! Gã đầu bạc ngước mắt, đang định nói gì đó, gặp ngay ánh mắt có lửa của Đỗ Nga Thị, liền cụp vội xuống, lẩm bẩm. Mọi người lắc đầu, mất hứng, hạ bài, định chia gà. Nhưng tôi bảo gã đầu bạc: Để nguyên gà đó, tôi thế chỗ ông. Phần gà của ông bao nhiêu, tôi trả. Gã đứng dậy, Đỗ Nga Thị quay người, bước đi. Gã ngả người vào Hai Hiển thì thầm: Ông cầm tiền giúp tôi, mai qua lấy. Bây giờ mang về, nó lột hết.
(more…)

Đỗ Trường

Năm đó, cái rét dường như đến sớm. Trời mới sang thu mà lạnh đến bất ngờ. Tuy vậy, đầu tuần đường phố vẫn nhộn nhịp những bước chân. Chuẩn bị cho hàng quán xong, tôi ngồi đọc báo, và nhâm nhi ly cà phê sáng. Bất chợt, có tiếng chân người đuổi nhau, la hét, chạy vòng ra đằng sau phía Kaufhalle (chợ). Chắc chắn là mấy gã bán thuốc lá, băng nhạc lậu bị thuế vụ, hải quan đuổi bắt. Chuyện thường xảy ra ở huyện, nên tôi bình tâm ngồi uống tiếp. Lúc sau, có một người đàn ông bước vào quán, cười cười, rút thẻ Hải quan công vụ chìa trước mặt: Chúng tôi liên ngành công an, hải quan, thuế vụ vừa bắt được một người đồng hương của ông bán thuốc lá và băng đĩa lậu. Nhưng anh ta không nói được tiếng Đức. Do vậy, chúng tôi cần sự giúp đỡ của ông.
(more…)

Đỗ Trường


Thuyền Trăng Bụi
Võ Đình

Trời chớm sang thu. Ngoài kia, lá đã ngả màu, buông rơi. Những cơn gió hè, dường như vẫn còn luẩn quất đâu đây. Thành phố đã vào đêm. Con đường vắng những bước chân. Leng keng tiếng tàu điện lọt thỏm vào những con phố dài hun hút. Leipzig tĩnh lặng, cựa mình, trằn trọc. Có lẽ, chẳng cứ là thu, mà thời khắc giao mùa nào cũng vậy, luôn làm xáo trộn hồn người nơi phương xa. Tôi đã từng sống ở miền biển, mảnh đất gối đầu lên những con sông Đào, sông Ninh Cơ, sông Đáy. Với thời gian không dài, vậy mà quá nửa đời người phiêu bạt trời Âu, mỗi khi nhớ về đất Việt, tôi thường nghĩ về nơi ấy. Qủa thật, đúng như ai đó đã nói, tuổi thơ đi qua nơi nào, thì trong trái tim, mảnh đất ấy vĩnh cửu là quê hương.
(more…)

Đỗ Trường


Nhà văn Vũ Thư Hiên

Khi nhát dao chém ngang hình đất nước, thì văn học Việt cũng chẻ đôi dòng chảy. Bắc Nam như hai thái cực đối nghịch nhau về cả tư tưởng lẫn bút pháp. Sau Nhân văn giai phẩm, trên đất Bắc lại một cuộc nồi da xáo thịt nữa xảy ra với cái tên gọi mơ hồ: Xét Lại. Cơn sóng ngầm ấy cuốn đi rất nhiều công thần, và những nhà báo, văn nhân, một thời đã từng là bạn bè, đồng chí. Nhà văn Vũ Thư Hiên và cha mình, cụ Vũ Đình Huỳnh, người thư ký đặc biệt của Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng nằm trong số đó. Chín năm dài đằng đẵng trong lao tù, cứ tưởng Vũ Thư Hiên đã đoạn tuyệt với văn thơ. Nhưng kỳ lạ thay, chính những năm tháng quằn quại đớn đau ấy là chất liệu, nguồn thực phẩm vô tận nuôi dưỡng, thôi thúc tâm hồn, để Vũ Thư Hiên viết nên những tác phẩm tuyệt vời, với bút pháp hiện thực nhân đạo đặc trưng đến vậy. Và có thể nói, những tác phẩm ấy, không chỉ được viết bằng tài năng, trí tuệ mà còn thấm đẫm cả máu và nước mắt của nhà văn.
(more…)

Đỗ Trường


Head of a Man
Pablo Picasso

Vào dịp Tết 2015, trước ngày tôi bị trục xuất về Đức, nhà thơ Đỗ Hoàng điện bảo: Anh vào ăn tết với thằng con cả ở Huế, rượu chè bí tỉ, ngã gãy chân, đang bị treo ngược trên giường, không thể về Hà Nội như đã hẹn. Đỗ Trường cố gắng đến chỗ Đào Tiến (nhà thơ dầu khí) lấy một số sách của anh ở đó, mang về Đức đọc cho vui.

Tôi khoái cái tính ngang ngang, và vốn sống, cũng như kiến thức Hán văn thâm hậu của Đỗ Hoàng. Nên nghe anh tặng sách, tôi vọt đến chỗ Đào Tiến ngay. Tôi không còn nhớ địa chỉ của Đào Tiến, nhưng công ty của hắn ở tòa nhà cao tầng rất sang trọng. Nghe nói, hắn là Phó, hay Tổng giám đốc một công ty, thuộc dầu khí, dầu khiếc gì đó. Dù đang giờ làm việc, và gặp nhau lần đầu, nhưng hắn ngả bàn đèn ngay, rồi lôi tuốt tuồn tuột bia rượu, đồ nhậu có sẵn ở trong tủ lạnh ra. Thấy tôi còn ngần ngừ, hắn ấn vai xuống, rồi cười cười, mấy khi ông về, và gặp được nhau. Bia rượu vào, chuyện văn thơ, rồi chuyện trên trời dưới bể nổ như ngô rang…
(more…)

Đỗ Trường

Trời tảng sáng, có những cơn gió dát mỏng hơi nước, luồn qua khe cửa, xoa nhẹ lên mặt, làm tôi chợt tỉnh. Mờ mờ qua khung cửa, mưa đang rây nhẹ, như rắc thủy tinh lên những cánh hoa treo lơ lửng đầu hè. Hà Nội có những giây phút lặng yên bất chợt đến như vậy. Và có lẽ, mãi đến mùng bốn tết đất trời mới giao hòa, mới thực sự vào xuân. Nó cho ta một cảm giác muốn được đi dưới cái mông lung vần vũ của đất trời. Tôi bật dậy, muốn ra khỏi thành phố, tìm về nơi mà bao năm trước cha mẹ đã cất bước ra đi.
(more…)

Đỗ Trường
(Bài viết tặng nhà văn Trần Hoài Thư và Thư Quán Bản Thảo)


Nhà thơ Cao Đông Khánh
dinhcuong

Cũng như nhà thơ Trần Trung Đạo, nếu không có biến cố 30-4-1975, và không có những con thuyền lá tre kia, cố lao đi để tìm sự sống thật mong manh trong cái mênh mông của biển cả, giông tố của đất trời, thì chắc chắn chúng ta sẽ không có một nhà thơ dân dã Cao Đông Khánh. Những cơn mưa nguồn, gió bể ấy như nhát dao chém nát hồn ông. Để rồi từ những vết thương không bao giờ thành sẹo ấy, ứa trào ra hồn thơ quằn quại của kiếp tha hương. Thơ Cao Đông Khánh xuất hiện muộn, nhưng đúng vào thời khắc xoay vần đảo điên của đất nước, và con người. Ông là một trong những gương mặt tiểu biểu nhất về ngôn ngữ thi ca Nam Bộ, với chất giọng riêng biệt của mình.
(more…)

Đỗ Trường


Nhà văn Hoàng Minh Tường

Có thể nói, những năm gần đây Hoàng Minh Tường là một hiện tượng lạ của Văn học Việt. Không chỉ góp phần làm sống lại dòng Văn học hiện thực phê phán, mà ngòi bút của ông còn chọc thẳng vào những điều cấm kỵ, nhảy cảm nhất của những kẻ cuồng cộng cùng những người chống cộng cực đoan. Những Mảnh Rồng được viết gần đây nhất là cuốn tiểu thuyết điển hình như vậy của Hoàng Minh Tường. Theo cách nói của giới chè chén vỉa hè, thì Hoàng Minh Tường to gan, lớn mật, dám cả gan bóp một phát cả hai dái ngựa, để lãnh trọn hai chân ngựa đá. Do vậy, để cho ra lò được cuốn tiểu thuyết này, chỉ riêng tài năng, sự can trường của Hoàng Minh Tường thì quả thực chưa đủ, mà còn cần sự can đảm của bà đỡ. Vâng! Con đường buộc phải đi giữa hai làn đạn ấy, không phải nhà xuất bản nào cũng đủ dũng khí để đi đến tận cùng với Hoàng Minh Tường.
(more…)