Archive for the ‘Đỗ Trường’ Category

Đỗ Trường

Tôi có ông bạn, học Đại học an ninh cùng khóa với Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh, Phó chủ tịch Hội nhà văn VN Nguyễn Quang Thiều, và nhà văn Thùy Linh… Đang là an ninh nhòm ngó, chọc ngoáy khắp nơi, không hiểu thế quái nào lại chuồn sang Đức, xung vào đội quân lao động, đánh thuê trên ba chục năm nay. Không những vậy, khi ổn định giấy tờ, công ăn việc làm, hắn đưa tất tật tật vợ con, anh chị em sang Đức. Dù vợ hắn đang là Chef một công ty kinh tế của quân đội. Một vị trí, nói như giới chè chén vỉa hè là: Đắc địa. Ngày thống nhất nước Đức mùng 3 tháng 10 vừa rồi, ngồi khật khừ, đang xoáy về đề tài dã man của người Việt, đối với kẻ đánh bả và trộm chó, khi đã bắt được, xúm vào đánh hội đồng cho đến chết. Đột nhiên hắn vỗ vai tôi, bảo: Thời nay, không chỉ bọn bắt chó trộm mới biết dùng Bả nhé. Mà bọn quyền chức càng cao, thì kỹ thuật sử dụng Bả (chó) càng tinh vi và thâm hậu.
(more…)

Đỗ Trường

Đêm Thượng Nguyên, trăng tròn như cái vành thúng được ai đó treo lên bầu trời. Những cơn gió, thôi lùa qua những vách nứa nơi đầu hồi. Đất trời dường như ấm trở lại. Khách khứa, bà con xóm làng đến chia vui, tiễn đưa tân cử nhân Doãn Khuê vào kinh thành thi Hội đã ra về. Làng Ngoại Lãng, tổng Vô Ngại, huyện Thư Trì, phủ Kiến Xương trở về với cái tĩnh lặng của miền đồng quê.

Đóng cổng, quay lại Khuê châm thêm nước vào ấm. Trà tỏa ra mùi hương thanh dịu. Nước đã ngấm, Khuê hai tay nâng tách trà đi về phía góc phản, nơi tân Tổng đốc Định-Yên, kiêm Tuần phủ Hưng Yên Doãn Uẩn còn ngồi đó. Khuê chưa kịp mời, Uẩn đã hỏi:

– Chú định khi nào vào Kinh?

Khuê đứng thẳng người:

– Thưa bác cả, ngày mốt em sang Nam Chân, chào thày Ngô Thế Vinh. Có lẽ, ở lại đó vài ngày, rồi cùng Phạm Văn Nghị xuôi Kinh ạ.
(more…)

Đỗ Trường


Nhà văn Lữ Quỳnh

Sau 1954, Việt Nam bị cắt làm đôi, với hai thể chế chính trị hoàn toàn trái ngược nhau. Cũng như kinh tế, và xã hội, mỗi miền đều có nền văn học riêng của mình. Nếu văn chương miền Nam như bản nối dài của dòng văn học hiện thực lãng mạn, thì miền Bắc mở ra thời kỳ văn học tuyên tuyền, minh họa đường lối lãnh đạo của Đảng CS. Ngoài ra, do điều kiện địa lý tự nhiên cũng như lịch sử để lại, chúng ta có những đặc tính văn hóa của mỗi vùng, miền khác nhau. Từ đó đã sản sinh ra những nhà văn, nhà thơ với ngôn ngữ, văn phong, bút pháp nghệ thuật mang dấu ấn đặc trưng của từng vùng, miền ấy. Do vậy, khi đọc một cuốn sách, nếu tinh ý một chút, ta có thể nhận ra, quê quán, nơi sinh trưởng của tác giả.

Vài tuần trước, có một nhà văn tặng tôi cuốn Những Cơn Mưa Mùa Đông, viết trước 1975 của Lữ Quỳnh. Tuy đã nghe tên tuổi từ lâu, nhưng quả thực đây là lần đầu tiên, tôi được đọc nhà văn này. Văn ông không có cái sắc, cái chua cay của đất Bắc, không có cái bộc trực, ngộ nghĩnh như đất phương Nam, mà nó thâm trầm, lắng đọng, thoảng như có Nhã Ca, Phạm Ngọc Lư, Nguyễn Thị Hoàng…ở trong đó. Và cái chất miền Trung xứ Huế ấy, đọc vào là ngấm, say như men rượu, buộc ta phải kiếm tìm, nghiền ngẫm.
(more…)

Đỗ Trường

Năm Ất Sửu 1805. Gia Long niên hiệu thứ tư. Ngày 4 tháng 11. Tiết trời hanh khô, u ám giăng kín cả làng Tam Đăng, tổng An Chung thuộc huyện Đại An, phủ Nghĩa Hưng. Con đường vắng những bước chân. Chỉ có đàn chuồn chuồn kim chao qua chao lại trên những dậu hoa dâm bụt ven đường. Chính Ngọ, đất trời vụt sáng. Đâu đó có tiếng trẻ khóc ré lên làm Chú Khách bán thuốc rê dạo giật mình. Dường như, tiếng khóc từ ngôi nhà gianh trước mặt. Không biết đứa trẻ vừa sinh nam hay nữ, nhưng chắc chắn sau này sẽ là một quí nhân. Ngẩn tò te suy nghĩ, tính toán một hồi, rồi Khách lẩm bẩm như vậy. Một chút tò mò, Khách nhấc cánh cổng tre, lách vào, đứng giữa sân hắng giọng. Thấy mụ đỡ và người nhà ra vào bận rộn, gã định quay gót. Đột nhiên, thằng nhỏ từ trong nhà lon ton chạy ra, rồi chạy vào, kéo tay người đàn ông có khuôn mặt tưởng chừng khắc khổ, nhưng ngoái lại, toát lên nét nho nhã và tĩnh tại. Người đàn ông cúi người, kéo chốt để mở rộng cánh cửa, Khách vội xua tay:

– Mỗ tôi đi ngang, nghe tiếng trẻ khóc, nhà chắc có tin vui, vào xin gia chủ gáo nước mưa cho đã cơn khát, rồi đi ngay thôi.

– Vâng, nhà tôi vừa ở cữ, Chú cứ vào đây uống chén nước cho ấm cái bụng đã.
(more…)

Đỗ Trường

 

Không ngờ thi tập Vịn Vào Lục Bát từ Hoa Kỳ được gửi đến tôi sớm như vậy, chỉ hơn chục ngày sau in ấn, ra lò. Vâng, chắc chắn đó là sự ưu ái của nhà xuất bản Thư Ấn Quán và nhà văn Trần Hoài Thư đã dành cho tôi. Một chút đó thôi, ấy vậy để lại trong lòng người một ấn tượng, một cảm xúc thật sâu sắc.

Tuy trước đây, rải rác đâu đó đã đọc một số bài, nhưng khi nó được chọn đóng thành thi tập chuyên lục bát một cách có hệ thống, đọc lại cho tôi cảm xúc khác hẳn. Có thể nói, đây là tập thơ quan trọng, và tâm huyết nhất của Trần Hoài Thư. Nó như một điểm tựa sống cuối cùng của ông. Bởi, bệnh tật và thời gian khắc nghiệt đã làm bạn bè, người thân, từng ngày, từng ngày rời bỏ ông. Do vậy, sự biên tập từng phần, từng giai đoạn gắn với thân phận của thi sĩ và xã hội, một chủ ý rõ ràng của tác giả. Có điều đặc biệt, dường như tập sách nào của Trần Hoài Thư dù viết, in ấn ở trong nước (trước 1975), hay nơi hải ngoại đều mang hơi thở của chiến tranh. Và Vịn Vào Lục Bát cũng vậy, tuy là tập thơ với cái tôi riêng tư nhất, nhưng nó vẫn không thoát ra khỏi cái lẽ thường ấy. Ngoài hai phần viết về bản thân, gia đình, và bạn bè thì chiến tranh khói lửa vẫn đậm đặc trong thi tập này.
(more…)

Đỗ Trường


Nhà văn Văn Biển

Nhắc đến cái tên (dân dã) Văn Biển, có lẽ nhiều người, kể cả trong giới nghiên cứu phê bình không nhớ đến ông. Dù ông là một nhà văn viết nhiều thể loại, từ truyện ngắn, tiểu thuyết, thơ, cho đến kịch bản phim.

Thật vậy, nhiều người đọc nhớ vanh vách tên nhân vật, với những tác phẩm của ông, ấy vậy mà cái tên tác giả Văn Biển cứ lẫn chìm đâu mất.

Với tôi, đây là câu hỏi, và những vấn đề đặt ra cho bài viết này. Nhưng có một nhà văn quen thân với Văn Biển bảo: Có lẽ, trước nhất nó thuộc về chính bản thân Văn Biển. Bởi, phải chăng ông luôn trốn chạy nơi thị phi ồn ào, tìm về nẻo trầm khuất? Để rồi, nhân cách, tư tưởng, con người Văn Biển chỉ có thể hình tượng ra từ những nhân vật của ông. (Mà thật ra tác giả nào chẳng gửi nhân cách, tư tưởng vào nhân vật của mình).
(more…)

Đỗ Trường


Thi sĩ Vũ Hoàng Chương (1916-1976)

Kính gửi bác Trần Từ Mai: Nhân đọc bài, Thử tìm hiểu ý tưởng của thi sỹ Vũ Hoàng Chương trong bài “Đọc lại người xưa: Trần Đào” của bác trên vanviet.info, tôi có vài ý gửi đến bác. Đây là ý kiến cá nhân cũng có thể là không đúng, hơn nữa bác (cũng có thể) vào tuổi cha chú? Do vậy, mong bác lượng thứ, và coi đây là một giả thuyết khác được đưa ra, chứ không có ý bác bỏ, phản biện, phản beo gì.

Đây là một trong mười hai bài thơ có tựa đề chung “Đọc lại người xưa“ của nhà thơ Vũ Hoàng Chương viết ở trong tù và sau khi ra tù, vào khoảng tháng 4-1976 đến tháng 9-1976. Tuy nhiên, tôi chỉ đọc được bài thơ trong bài viết của bác Trần Từ Mai, còn lại mười một bài khác không tìm thấy. Và đây là toàn bài thơ:
(more…)

Đỗ Trường


Nhà văn Trần Hoài Thư

Cuối tuần, có bác nhà thơ già đến thăm, ghé mắt vào bài đang viết về nhà văn Trần Hoài Thư của tôi, rồi gật gật, lắc lắc, bảo: Cái tựa, Người ngồi vá lại những linh hồn, thấy rờn rợn thế nào ấy. Vâng! Khi chưa đọc, chưa nghiên cứu Trần Hoài Thư, bác có cảm giác vậy thôi. Đọc rồi, bác sẽ thấy, một Trần Hoài Thư không chỉ đang ngồi vá lại linh hồn mình, đồng đội mình, mà còn đang nhặt nhạnh những linh hồn văn hóa Việt rách nát, vương vãi đâu đó, rồi cặm cụi khâu lại nữa kìa.

Nghe tôi trả lời, bác nhà thơ già gật gù, gật gù lẩm bẩm: Được, tôi sẽ tìm đọc, xem có thật vậy không?
(more…)

Đỗ Trường

Hôm lễ Phục Sinh vừa rồi, tôi may mắn được ngồi cùng mâm với một gã đến từ Balan. Rượu vào lời ra, đang bá vai bá cổ, thân mật, đến lúc hỏi thăm quê quán, đột nhiên hắn ôm mặt khóc hu hu, làm mọi người phải dừng đũa. Lúc sau, có lẽ hết cơn xúc động, hắn hỏi lại tôi: Ông đã xem phim Chuyện Làng Nhô chưa? Tôi lắc đầu: Nhưng phim đó thì liên quan gì đến quê hương, bản quán của ông. Hắn nhếch mép, với tiếng cười méo mó: Có đấy, cái làng Lạc Nhuế, xã Đồng Hóa, huyện Kim Bảng tỉnh Hà Nam quê tôi chính là Làng Nhô. Nhưng bản chất sự việc, con người hoàn toàn khác trong phim. Cái khốn nạn là ở chỗ đó. Làng ông được lên phim là tốt chứ sao lại khốn nạn, tôi ngoặc lại hắn như vậy. Hắn cao giọng: Tốt, tốt cái con khỉ ấy. Ông chuồn ra khỏi nước đã từ lâu, không xem, không chứng kiến, làm sao biết được, bao nhiêu người dân lương thiện phải chết, và ngồi tù oan, còn đám cường hào ác bá vẫn sống phè phỡn ở đó. Tôi ngớ cả người, và tính tò mò trỗi dậy, nên xuống giọng ngay: Nghĩa là như thế nào, ông có thể nói rõ hơn được không? Hắn thủ thỉ: Tuy đỉnh điểm sự việc xảy ra năm 1992, nhưng nguyên nhân từ nhiều năm trước đó…
(more…)

Đỗ Trường


Nhà thơ Chế Lan Viên (1920-1989)

Có thể nói, từ đầu thế kỷ thứ hai mươi cho đến nay, Chế Lan Viên được đánh giá là một nhà thơ lớn tài năng. Và khi nghiên cứu, ta có thể thấy, thơ văn cũng như con người ông có nhiều mâu thuẫn, phức tạp, đa diện nhất trong dòng văn học sử Việt Nam từ trước đến nay. Có lẽ, xuất phát từ mâu thuẫn nội tâm ấy, ông luôn làm người đọc phải kinh ngạc, và không chỉ đưa đến nhiều điều thú vị, mà còn cả những điều nhạt nhẽo, khó chịu khác.

Ở cái tuổi mười bảy, Chế Lan Viên rất đĩnh đạc, bất ngờ đóng thẳng vào chân móng của trào lưu thơ mới, bằng thi tập Điêu Tàn rắn chắc và già dặn. Ngay từ tập thơ đầu này, ta có thể thấy, thi pháp cũng như tư tưởng Chế Lan Viên bộc lộ một cách rõ ràng, mạch lạc và tính cách khác lạ. Và cùng một thời điểm xuất phát ấy, nếu Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Vũ Hoàng Chương… đang chờn vờn mây trời, sông nước, với nỗi đau tình ái, thì tiếng thơ Chế Lan Viên bi ai, quằn quại với thân phận, nỗi đau của con người, của dân tộc. Sau 1945, tuy tài năng, vốn sống được nâng lên và dày dặn hơn, nhưng thi pháp, tư tưởng, ngòi bút của ông bẻ ngoặt theo một chiều hướng đã định. Để rồi, khi trở về với đất, ông phải mang theo một nỗi u hoài, với những lời thán ca muộn màng, tiếc nuối.
(more…)

Đỗ Trường

Tôi trở về quê vào một chiều chớm đông. Cái nắng hanh khô cuốn theo từng cơn gió, như rắc vàng lên đồng ải bên sông. Vẫn đàn chim sẻ đang cần mẫn tìm sâu, bắt bọ trên những luống đất xốp thẳng tắp, ngả màu. Nước đã mấp mé cửa sông. Có lẽ, cống ngoài đê sắp mở để nước tràn vào đồng ngậm ải, và báo hiệu mẻ rươi đầu mùa đã đến. Mùa của sự vần vũ, mà tạo hóa thiên nhiên đã ban tặng cho con người một sản vật, một món ăn dân dã, nhưng dường như gói trọn cả cái hương hoa tinh túy của đất trời…

Tiếng xe máy sau lưng chợt cắt ngang dòng suy nghĩ. Tôi quay người, xe chồm đến trước mặt, tiếng phanh khô dầu như xiết vào tai. Giật bắn cả người, tôi chưa kịp định thần, thấy Ân, ông bạn thời trẻ trâu ngồi trên xe, cười khùng khục:

– Bú sữa Tây nhiều, tưởng đã quên nhau rồi!
(more…)

Đỗ Trường


Chí sĩ Phan Châu Trinh (1872-1926)

Tôi thích nhạc Trần Tiến, bởi cái chất dân dã của ca từ, và da diết của giai điệu. Tuy nhiên, có một vài bài ca, câu hát của ông làm cho người nghe hơi bị nhột tai: “Hà Nội cái gì cũng rẻ, chỉ có đắt nhất bạn bè thôi. Hà Nội, cái gì cũng rẻ, chỉ có đắt nhất tình người thôi”. Có lẽ, Trần Tiến viết ca khúc này, trong lúc ông đang lơ lửng ở cõi trên. Bởi, nhìn lại xã hội, con người thời nay, buộc ta phải đảo lại hai vế của câu ca, hòng kéo Trần Tiến trở về với cõi thực chăng: “Hà Nội cái gì cũng đắt, chỉ có rẻ nhất bạn bè thôi. Hà Nội, cái gì cũng đắt, chỉ có rẻ nhất tình người thôi”.
(more…)

Đỗ Trường

nguyen_van_gia
Nhà thơ Nguyễn Văn Gia

Có lẽ, không chỉ riêng tôi, mà dường như còn nhiều người sống xa quê vào những này xuân, ngày tết này, thường tìm đọc những bài viết, câu thơ về quê hương, đất nước và gia đình. Và từ trong cái hương hoa đồng nội ấy, như mong tìm lại được một chút của hương xưa. Qui Y, và Mơ của Nguyễn Văn Gia là những bài thơ, tôi tìm thấy và được đọc trong hoàn cảnh, tâm trạng như vậy.

Tôi biết và đọc thơ của Nguyễn Văn Gia đã khá lâu. Có thể nói, ông viết, in ấn chưa thật nhiều, nhưng là một trong những cây bút tài năng, có nội lực ở Đà Nẵng, xứ Quảng miền Trung hiện nay. Xuất thân từ nhà giáo, do vậy thơ ông nhẹ nhàng, không đao to búa lớn, dù đó là những bài thơ thế sự xã hội bức xúc. Nguyễn Văn Gia viết đủ các đề tài, với nhiều thể thơ khác nhau. Nhưng, thơ Lục bát và Ngũ ngôn của ông để lại nhiều ấn tượng trong tôi. Bởi, nó gần với Đạo giáo, gắn liền với những triết lý nhân sinh.
(more…)

Đỗ Trường

nu_bo_doi

Sau lễ vọng đêm 24 Noel, tôi và Nam Võ lên xe đến thăm Bùi Lợi, Trần Nam Anh và bạn bè ở Dresden. Xe vừa ra khỏi thành phố, nhận được điện thoại của anh chị Châu Müller từ Bodensee, thông báo:

– Anh chị cùng vợ chồng người bạn đang trên đường đến Leipzig. Một cuộc đi ngẫu hứng, và đã đặt chỗ nghỉ ở Hotel Lindenau cạnh nhà Đỗ Trường.

Tôi buộc phải quay xe, và bảo:

– Anh chị báo Hotel hủy đặt chỗ nghỉ, bởi nhà em còn đủ phòng cho hai gia đình.
(more…)

Đỗ Trường

nguyen_thanh_giang
TS Nguyễn Thanh Giang

Những thập niên gần đây, dường như hình ảnh, tên tuổi nhà khoa học Nguyễn Thanh Giang được nhiều người mến mộ và nhắc đến. Nó là hình tượng tự do, khơi dậy, tranh đấu nơi quê nhà. Lòng can đảm ấy, như một sự tiếp nối hùng khí của sĩ phu năm nào. Không chỉ dừng lại như vậy, ông còn làm thơ, viết văn và là một nhà lý luận chính trị xã hội sâu sắc. Những bài viết của ông gây tiếng vang, vượt ra khỏi nơi tối tăm tù đày.

Tuy rất ngại đọc văn chính luận, nhưng những bài của ông hoặc của Tiến sĩ Hà Sỹ Phu, tôi đọc khá nhiều. Bởi, ngoài hấp dẫn đề tài, cái sinh động của câu văn, ta còn thấy, sự thẳng thắn đầy trách nhiệm với xã hội, con người ở trong đó. Cũng như mọi độc giả, đọc văn, rồi cũng mong có ngày gặp được tác giả mà mình mến mộ.
(more…)

Đỗ Trường

thi_si_dinh_hung
Nhà thơ Đinh Hùng (1920-1967)

Khi quan điểm triết học, mỹ học thay đổi vào cuối thế kỷ mười chín, đầu thế kỷ hai mươi ở phương Tây, kể từ đó xuất hiện một trào lưu văn học nghệ thuật mới. Tuy thời gian không dài, nhưng chủ nghĩa tượng trưng và siêu thực ấy đã ảnh hưởng khá sâu sắc đến khuynh hướng, nghệ thuật sáng tạo của các nhà thơ nói riêng, và văn nghệ sĩ nói chung ở Việt Nam lúc đó. Sau 1954, khuynh hướng sáng tác này bị bài bác ở miền Bắc, nhưng nó vẫn được nuôi dưỡng, như một dòng chảy tiếp nối của văn học miền Nam. Và gần đây, một số nhà thơ có xu hướng quay trở lại thi pháp đó. Tuy nhiên, nó đã bị bóp méo và biến tấu thành những thứ thơ đọc không thể hiểu, tối thui về tư tưởng cũng như hình thức và ngữ nghĩa.
(more…)

Đỗ Trường

dark_soul

Quá nửa đêm, tôi rời trang sách. Đèn tắt. Chợt có chuông điện thoại làm giật cả mình. Bởi, những cú gọi như thế này, đều là chuyện cần kíp và gây sốc cả. Vẫn cái giọng trong veo nửa nam, nửa bắc của nó, gọi cho tôi trước đây tám tháng từ London, báo tin ba nó mất. Tôi chưa kịp hỏi, nó đã bảo, cháu chuyển hướng sang làm ăn ở Tiệp, hôm nào rảnh sẽ sang Đức và đến thăm chú. Vậy là, nó không thể bỏ được công việc cực kỳ tai hại và nguy hiểm. Cái công việc ba nó đã phải bỏ cả cái mạng sống của mình. Mọi sự ngăn cản, khuyên giải lúc này với nó hình như đã quá muộn chăng? Không! Tôi vẫn không nghĩ như vậy. Bởi, nó còn rất trẻ, đường đi còn dài đang ở phía trước.
(more…)

Đỗ Trường

pham_ngoc_lu
Nhà văn Phạm Ngọc Lư

Cũng như âm nhạc, văn học miền Nam sau 1975 chính quyền càng cố tình hủy diệt, thì dường như sức sống của nó càng dẻo dai và lan tỏa. Bởi, đó là thứ âm nhạc và văn chương đích thực đi vào lòng người. Nó được sống, nuôi dưỡng không chỉ trong lòng độc giả, dân chúng miền Nam, mà còn quay ngược về nơi đất Bắc, rồi cùng dòng người vượt sang bên kia bờ đại dương.

Nói dại, nếu chúng ta không có những Phạm Duy, Trịnh Công Sơn, Ngô Thụy Miên, Trần Thiện Thanh… hay chẳng còn những Võ Phiến, Túy Hồng, Nguyễn Thụy Long, Du Tử Lê, Luân Hoán… mà chỉ có những “Cô Ba dũng sĩ quê ở Trà Vinh, chị Hai năm tấn quê ở Thái bình…” và “ Đường ra trận mùa này đẹp lắm…” thì phần hồn như đã mất và cuộc sống chẳng tẻ nhạt, khô cứng lắm sao.
(more…)

Đỗ Trường

thai_ba_tan_2
Nhà thơ Thái Bá Tân

Có thể nói, kể từ ngày lập quốc, chưa có chế độ xã hội nào thối nát, con người vô cảm như hiện nay. Sự vô cảm ấy, làm con người trở nên yếu đuối, và đê hèn. Cả ngàn người viết, hàng vạn người mang danh học hành, bằng cấp, nhưng khó tìm ra một nhà văn, một trí thức đích thực. Vâng! Một đất nước có hồn khí như vậy, chắc chắn đang bước tới hố sâu, và ngõ cụt. Từ đó có thể thấy, thịnh suy dẫn đến sự đổ nát, suy tàn của một triều đại là điều khó tránh khỏi. Đó cũng là qui luật tất yếu của lịch sử. Bởi, cái cũ chắc chắn sẽ được thay bằng cái mới phù hợp với sự phát triển văn hóa, khoa học cũng như khát vọng của con người. Tuy nhiên, để làm được điều đó, cần phải có nhiều yếu tố. Thơ văn và nhận thức tư tưởng thi sĩ nói riêng và của con người nói chung là một trong những ngòi dẫn, yếu tố quan trọng.
(more…)

Đỗ Trường

poet_in_construction-jose_manuel_merello
Poet in construction
Jose Manuel Merello

Sự cố Câu lạc bộ Thơ Berlin và thi tập Thơ Người Việt Ở Đức với những mâu thuẫn tưởng chừng con người cũng như thi ca đi vào tận cùng của bế tắc. Thì thật may mắn thay, dòng thơ non trẻ ấy chợt vuột về Leipzig, rồi rót thẳng về chiếc rốn miền Trung Chemnitz. Với sự tích tụ, trầm lắng đó, để rồi nó tự phình và tách ra như những nhánh sông tìm về chốn cũ. Nếu Berlin là nơi khởi nguồn, Leipzig điểm dừng chân, thì Chemnitz là nơi hun dưỡng hồn thơ Việt. Dù có lúc sôi động, hay trầm lắng, nhưng có thể thấy, nó mới chỉ dừng lại phần lớn những hồn thơ là những cựu du học sinh, lao động và một số tị nạn cũng như đoàn tụ, sống, làm việc ở miền Đông nước Đức.
(more…)

Đỗ Trường

xuan_vu
Nhà văn Xuân Vũ (1930-2004)

Tôi biết, và đọc hồi ký Đường Đi Không Đến của nhà văn Xuân Vũ vào khoảng đầu năm 1990, do Trung tá, bác sỹ Đặng Huy Lưu cựu Liên đoàn trưởng quân y vùng 4 quân đội VNCH, cư ngụ tại Houston gửi tặng. Và cũng từ bác sỹ Đặng Huy Lưu, tôi có được số điện thoại của Xuân Vũ, một nhà văn tài năng, có số phận khá đặc biệt, mà tôi ngưỡng mộ. Khi chùm truyện ngắn Phượng Ơi! Đừng nở nữa, Lầm Lỡ và Ngã Ba Cuộc Đời của tôi được đăng trên nguyệt san Hương Quê (Houston), ông đã có lời ngợi khen, khích lệ…
(more…)

Đỗ Trường

bia_dai_ve_chi_di

Có thể nói, một vài thập niên gần đây, Đảng luôn kêu gào cởi trói cho các văn nhân, nghệ sĩ, nhưng giới cầm bút dường như vẫn không thoát ra khỏi cái thòng lọng, dây trói trong tay của Đảng. Do vậy, một số nhà văn có tư tưởng tự do, công lý còn ở trong nước buộc phải sử dụng những thủ pháp nghệ thuật độc đáo riêng, lách ra khỏi cái vòng kim cô ấy, nhằm đưa được tác phẩm của mình đến với người đọc. Những cây bút ấy tuy không nhiều, nhưng tư tưởng cũng như sự can đảm của họ đã vượt qua sự suy nghĩ của rất nhiều người. Trong số đó phải kể đến nhà văn Võ Thị Hảo với Giàn Thiêu, Dạ Tiệc Qủi, Phạm Thành với Hậu Chí Phèo, Cò Hồn Xã Nghĩa, Văn Biển với Que Diêm Thứ 8… Và gần đây nhất cuốn Đại Vệ Chí Dị của Bùi Thanh Hiếu (Người Buôn Gió) do nhà xuất bản Vipen (Berlin) in ấn, tác giả tự phát hành. Đây là cuốn sách khá dày dặn (564 trang), tôi vừa nhận được từ Tiến Sĩ Peter Knost và nhà thơ Thế Dũng đồng Giám đốc Vipen gửi tặng và yêu cầu viết lời giới thiệu.
(more…)

Đỗ Trường

hoa_mai_trang_dem_xuan

Có một bài thơ không hẳn viết về mùa xuân, nhưng có một điều lạ, nó lại ám ảnh lòng người suốt gần bốn mươi năm qua, cứ mỗi độ xuân về. Cho đến nay, tôi cũng không thể nhớ cái tựa bài thơ, và đã đọc nó ở thư viện Đại học Đà Lạt, hay Đại học Tây Nguyên? Ấy vậy, tôi nhớ gần như hoàn toàn chính xác cả bài, dù chỉ đọc một, hai lần. Một điều chắc chắn, tác giả là người sống ở miền Nam, và nếu ngoài Bắc, thì bài thơ phải được ra đời trước năm 1954. Bởi, ngoài hồn vía, tôi còn thấy bài thơ (có hai đoạn) chép tay, kẹp trong một cuốn sách, khi bới tìm đọc đống sách xuất bản thời Việt Nam Cộng Hòa còn xót lại. Kể từ ngày biết sử dụng máy vi tính, tôi đã bỏ khá nhiều công truy tìm tác giả, nguồn gốc bài thơ, nhưng đều vô vọng.
(more…)

Đỗ Trường

pham_thanh
Nhà văn Phạm Thành

Khi đất nước đi vào đường hầm không lối thoát, nhiều gia đình miền núi phía Bắc đã bị chết đói. Đảng CS buộc phải tự giải thoát, bằng cách mở cửa, đổi mới về cái quan hệ sản xuất (cũ) ngàn đời của cha ông. Cùng đó, Nguyễn Văn Linh kêu gào, nới lỏng dây trói cho văn nghệ sỹ. Và đến khi cơn gió mùa Thu đã quật đổ bức tường ô nhục Berlin, đưa nước Đức đến bến bờ thống nhất. Chủ nghĩa cộng sản đã hoàn toàn sụp đổ ở Đông Âu và Nga Sô. Trước sự sinh tử đó, Nguyễn Văn Linh run sợ, vội vàng siết chặt lại thòng lọng, và cánh cửa được khép trở lại.
(more…)

Đỗ Trường

coi_chung_nem_chuot_vo_binh-babui
Biếm họa của babui

Truyện ngắn “Ngã Ba Cuộc Đời“ tôi viết cách nay đã gần ba mươi năm. Dựa trên câu chuyện có thật về một sinh viên khoa ngữ văn Đại học tổng hợp Hà Nội và một thanh niên sống bằng nghề làm thuê, ở đợ ven Sông Hậu Giang. Họ là hai anh bộ đội chung một đơn vị, cùng tiếp quản, chứng kiến giờ phút hấp hối của Sài Gòn. Chiến tranh kết thúc, người sinh viên ở lại với giảng đường Đại học Sài Gòn. Và anh bạn chuyên nghề ở đợ, dũng cảm (đỡ đòn) cưới cô bồ, khi còn trong rừng của chính ủy sư đoàn làm vợ, do vậy được theo chân đồng chí chính ủy chuyển về Ban tuyên huấn thành ủy. Tốt nghiệp đại học, anh cựu sinh viên được phân về làm báo. Lúc này, anh bạn ở đợ tuy học vấn mới qua lớp xóa nạn mù chữ, nhưng được theo dõi mảng tư tưởng báo chí của thành phố. Từ đây, mâu thuẫn và sự đấu tranh giữa hai người bạn xảy ra. Truyện ngắn của tôi, mới chỉ dừng lại ở đó.
(more…)

Đỗ Trường

thanh_son_banh_thanh_ban
Nhà thơ Thanh Sơn Bành Thanh Bần

Mới cuối năm 2014 đây thôi, khi đọc và nghiên cứu thơ Bành Thanh Bần, tôi đã viết một bài, được cho là khá dài và đầy đặn về chân dung người thi sĩ này. Tưởng rằng, sẽ tạm dừng ở đó, nhưng đọc tập bản thảo Những Bầy Sâu Cổ Đeo Cà Vạt Đỏ gồm 180 bài, với lời tựa của nhà văn Phạm Thành (Bà Đầm Xòe), thì quả thật, tôi không thể không cầm bút. Bởi, tính thời sự nóng hổi đã thổi cháy vào lòng người của nó.

Với tôi, Bành Thanh Bần và Thái Bá Tân là hai thi sĩ đang sống ở trong nước, viết về mảng thế sự, xã hội, mang lại nhiều xúc cảm cho người đọc. Tuy bút pháp, cũng như thể loại thơ hoàn toàn khác biệt, nhưng không ai có thể phủ nhận dũng khí của hai thi sĩ Thái Bá Tân và Bành Thanh Bần. Có lẽ, đây là hai cây bút hàng đầu của thi ca đất Việt dám đi đến tận cùng những vấn đề gai góc, nhức nhối nhất của đất nước, con người trong thời gian gần đây. Nếu như Thái Bá Tân, một trí thức được đào tạo cơ bản từ trong đến ngoài nước, dùng “Ngũ ngôn thơ” chọc thẳng vào những ung nhọt của xã hội, thì Bành Thanh Bần, chỉ có vốn liếng của một gã thợ cày, với những câu lục bát dân dã, đã lật ngược bộ mặt thật của chế độ.
(more…)

Đỗ Trường
Viết tưởng nhớ một người anh em, người bạn vừa rời cõi tạm để trở về với đất.

chiec_la_vang

Có mấy tháng không gặp, thế mà hắn đã biến dạng một cách ghê gớm. Tuy còn tỉnh táo và minh mẫn, nhưng hình hài hắn như bộ xương khô đang cựa quậy trên giường. Thấy tôi, hắn tắt Tivi, hơi xoay người bấm nút, đẩy đầu giường lên cao, và chống tay định đứng dậy. Tôi bảo, hãy ngồi yên như vậy. Hắn cười, với cái cười rúm ró thay cho lời chào. Tôi nắm chặt bàn tay gầy, tái nhợt của hắn, hỏi: Có khá hơn không? Hắn lắc lắc cái đầu, vẫn không bỏ được tính diễu cợt: Bệnh này làm sao mà khá được hả bác, cầm cự như thế này là tốt lắm rồi. Ở Việt Nam, em nghẻo củ tỏi từ lâu rồi.
(more…)

Đỗ Trường

shame

Có lẽ, chưa khi nào đạo đức xã hội, con người suy đồi như hiện nay. Sự thối nát ấy, chảy róc từ thượng tầng xuống đến hạ tầng. Thực vậy, khi nóc nhà đã dột, thì cột kèo, rui mè sẽ mục nát. Linh hồn bị hiếp chế, tà khí sinh sôi, nảy nở, giá trị đạo đức đảo lộn tùng phèo.

Và chính vì vậy, nạn trộm cắp thơ văn cũng nằm trong sự biến thái chung của toàn xã hội. Nhưng là một ngành đặc biệt, nên việc đạo văn, thó thơ nhiều khi cũng mập mờ, muôn hình, vạn kiểu, chứ không rõ ràng như các vấn nạn trộm cắp khác. Có những câu thơ giống nhau y chang, nhưng chưa chắc đã phải là đạo, và có những câu chẳng hề giống nhau, lại cho là trộm thơ. Cho thật công tâm, ta có thể thấy câu thơ “Nếu tôi chết hãy đem tôi ra biển” của nhà thơ Phan Huyền Thư tuy giống câu thơ “Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển” của nhà thơ Du Tử Lê, nhưng không thể nói, Phan Huyền Thư đã đạo câu thơ trên của Du Tử Lê. Bởi, tứ cũng như thể, mạch thơ của hai bài khác hẳn nhau. Hơn nữa, câu thơ “Khi / (Nếu) tôi chết hãy đem tôi ra biển” nếu đứng đơn độc là câu khẩu ngữ bình thường, như: Khi tôi chết hãy đem tôi về quê…hay về đâu đó mà thôi. Và câu thơ này của Du Tử Lê hay, chỉ khi nó được nối tiếp bởi những câu thơ sau và nằm trong tổng thể của cả bài thơ cũng như bối cảnh ra đời của nó (năm 1977).
(more…)

Đỗ Trường

chu_van_keng
Nhà thơ Chu Văn keng

Không phải, chỉ đến khi nhà xuất bản đề nghị viết lời giới thiệu cho thi tập Thơ Và Đời, tôi mới biết đến nhà thơ Chu Văn Keng. Mà tôi đã đọc và quen biết tên tuổi ông đã khá lâu, trên các trang báo mạng người Việt ở Đức, và đặc biệt các trang của nhà thơ Trần Nhương, Nguyễn Nguyên Bảy, lục bát.com”, tác phẩm mới…trong nước. Xét về nội lực cũng như như nghệ thuật sáng tạo, thơ Chu Văn Keng thật sự chưa có bứt phá, tìm tòi và bất chợt có những câu, những bài vụt sáng lên như các nhà thơ cùng sống ở miền Đông nước Đức, như An Giang, Thu Hà… Nhưng thơ ông, ngoài chất trữ tình, còn đọng lại khá sâu sắc trong lòng người đọc bởi tính xã hội, thời sự cao. Và cùng với họ, Chu Văn Keng đã đặt viên gạch đầu tiên cho dòng văn học đích thực của người Việt ở miền đông nước Đức.
(more…)

Đỗ Trường

?

Vừa trải qua cuộc hành trình ba ngàn cây số, và hai đêm gần như thức trắng lái xe chở mấy ông bạn từ Việt Nam cỡi ngựa xem hoa, dọc mấy nước Tây Âu. Sáng nay, vẫn còn tơ lơ mơ gà gật, chợt có tiếng luận đàm từ trên kênh VTV4 làm tôi tỉnh hẳn. Một ông nhà đài dẫn kịch và ba ông tai to mặt lớn trong ngành nông nghiệp đang diễn, tụng ca công cuộc đổi mới. Từ hợp tác xã đói nghèo, Đảng, chính phủ đã sáng tạo ra khoán mười, và tư nhân hóa đồng ruộng đi đến cường thịnh, là nước xuất khẩu lúa gạo đứng thứ ba trên thế giới…

Giời đất ạ! Có lẽ Đảng, chính phủ và mấy ông tuyên truyền coi chín mươi triệu người dân đất Việt trong và ngoài nước là con nít chăng?
(more…)