Archive for the ‘Giới Thiệu Sách / Điểm Sách’ Category

Phan Tấn Hải

Cứ mỗi tháng 2 dương lịch, Hoa Kỳ lại đón mừng Tháng Lịch Sử Da Đen (Black History Month), nhằm vinh danh thành quả của người da đen Hoa Kỳ, một truyền thống lần đầu tổ chức vào năm 1926 bởi sử gia Carter G. Woodson và kéo dài tới bây giờ.

Đặc biệt trong năm 2020, Tháng Lịch Sử Da Đen mang thêm một ý nghĩa là kỷ niệm 150 năm Tu Chánh Án Thứ 15 (Fifteenth Amendment), nội dung cho người đàn ông da đen quyền đi bầu cử, cũng như kỷ niệm 100 năm Tu Chánh Án Thứ 19, nội dung cho phụ nữ quyền đi bầu cử.

Bên cạnh các hoạt động văn hóa, như phim ảnh, triển lãm, kịch nghệ, diễn hành… trong Tháng Lịch Sử Da Đen có một truyền thống lặng lẽ, nhưng đầy chiều sâu: đọc sách. Bạn có thể đề nghị giới trẻ trong cộng đồng Việt một tác phẩm nào để các em đọc, để ý thức rằng sự kỳ thị màu da là có thực và rất đau đớn, và Phật Giáo đã trở thành nơi nương tựa của rất nhiều người da đen Hoa Kỳ hiện nay.
(more…)

Nguyễn Vy Khanh


Nhà văn Nguyễn Văn Sâm

Tìm hiểu hành trình văn nghệ của một số nhà văn thế kỷ XX, chúng tôi thích thú khám phá Nguyễn Tuân, Xuân Diệu viết phê bình văn học đặc sắc không thua gì thơ văn của họ: Nguyễn Tuân độc đáo khi viết tổng luận về Tản Đà, Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng, Nguyễn Du, cũng như Xuân Diệu khi viết về Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương. Đó là những văn nghệ sĩ đi từ sáng tác đến thể loại phê bình, khảo cứu. Nguyễn Văn Sâm là một trường hợp ngược lại, có thể do hoàn cảnh phải sống xa quê hương, ông khởi đầu sự nghiệp với những công trình nghiên cứu nghiêm túc về văn học trước khi sáng tác, viết truyện. Các biên khảo của ông đều lấy chủ đề là văn học miền Nam (Văn Học Nam Hà, Văn Chương Tranh Đấu Miền Nam, Văn Chương Nam Bộ) là những đóng góp độc đáo cho mảng văn học thường không được đánh giá đúng mức này. Ông đã đi xa hơn hai cuốn Văn Học Miền Nam của Phạm Việt Tuyền và Đông Hồ và đã đưa vào văn học sử mảng văn học yêu nước và kháng chiến của miền Nam, phần nào “chính danh” lại cho những văn nghệ sĩ miền Nam vốn vẫn bị đảng cộng sản sử-dụng cho chiêu bài “yêu nước” của họ. Về sự chuyển hướng, chính tác giả đã cho người đọc biết: “qua Mỹ viết truyện ngắn vì những thôi thúc phải nói lên sự suy nghĩ của mình về quê hương và thân phận người Việt ngay trên quê hương hay lạc loài tha hương” (1). Về sáng tác, Nguyễn Văn Sâm đã xuất bản Câu Hò Vân Tiên (1985), Ngày Tháng Bồng Bềnh (1987). Trong bài này chúng tôi viết về tập Khói Sóng Trên Sông mới do tạp chí Văn (CA) xuất bản đầu năm 2000, đúng ra là một vài cảm tưởng về thể loại truyện ngắn và văn chương miền Nam, qua chữ nghĩa của Nguyễn Văn Sâm.
(more…)

Phan Tấn Hải

Trong khi nhiều bạn vẫn còn đọc đi đọc lại nhiều bài thơ của Nguyễn Hàn Chung trong thi tập Lục Bát Tản Thần (2018), thi sĩ đã bắt đầu ấn hành tập thơ mới và phát hành trên mạng Lulu.

Trong khi nhan đề thi tập năm 2018 nghe rất là vang dội giỡn cợt – bạn thử đọc rất chậm từng chữ “Lục Bát Tản Thần” sẽ nghe khúc khích tiếng cười thi sĩ – thì thi tập mới có nhan đề rất mực nghiêm trang, “Mót Chữ Trong Kinh,” dù độc giả đọc cách nào đi nữa, như đọc xuôi rồi đọc ngược, cũng sẽ nghe rất mực nghiêm trang. Như dường đây là chuyện của nhà chùa, hay có nghịch lắm (nếu bạn nhớ tới kiểu thi sĩ Nguyễn Hàn Chung ưa bỡn cợt) thì cũng có thể là những mối tình có bối cảnh sân chùa. Vậy mà không phải.

Không phải. Kinh đây không hề có nghĩa kinh điển hay đạo học gì. Kinh chỉ đơn giản là kinh, và muốn hiểu sao cũng được, nhưng không mang nghĩa tôn giáo chi cả.
(more…)

Phan Tấn Hải

Tập hồi ký nhan đề “Trung Kiên với Lý Tưởng: Cuộc Phiêu Lưu Saigon-Kabul” của Tiến Sĩ Kinh Tế Đinh Xuân Quân gói gọn gần trăm năm lịch sử của gia tộc ông dự kiến sẽ ra mắt tại Quận Cam vào giữa tháng 2/2020.

Buổi giới thiệu sách sẽ thực hiện tại: Westminster Community Service Center, 8200 Westminster Blvd, Westminster, CA 92683 vào ngày 15/02/2020 từ 1:00pm-4:00pm.

Trong khi chúng ta thấy rất nhiều tập hồi ký về thời kỳ những năm sau 1975, sách này của TS Đinh Xuân Quân sẽ kể về gia tộc họ Đinh xuyên suốt gần 100 năm lịch sử, chiếu rọi thêm ánh sáng về thời Việt Minh tan rã, dẫn tới thời kỳ CSVN truy sát người quốc gia, rồi tới thời kỳ Đệ nhất và Đệ nhị Cộng hòa, và thời kỳ sau 1975.

Trong tập hồi ký có ghi lại một số sự kiện, từ điểm nhìn và hoàn cảnh của tác giả Đinh Xuân Quân sinh trong một gia tộc Miền Bắc theo Công Giáo từ vài thế kỷ, qua thời kỳ Hoàng Đế Bảo Đại — trong đó, thân phụ tác giả Định Xuân Quân là cụ Đinh Xuân Quảng từng giữ các chức Bộ Trưởng trong nhiều nội các của Thủ Tướng Nguyễn Phan Long, Thủ Tướng Nguyễn Văn Xuân, Thủ Tướng Trần Văn Hữu, Thủ Tướng Hoàng Thân Bửu Lộc — trở về nghề thẩm phán dưới thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm, soạn thảo Hiến Pháp Đệ Nhị Cộng Hòa và tranh cử Quốc Hội lập Hiến (1966-1967)…
(more…)

Nguyễn Văn Sâm

Khánh Trường viết mau và truyện của anh thu hút, mặc dầu anh ở trong tình trạng mà người khác đã bỏ cuộc nhiều thứ từ lâu, kể cả tự lo cho mình. Anh phải lọc thận tuần ba lần và ngồi xe lăn hơn hai chục năm nay. Vậy mà con người ấy từ chối quyết liệt chuyện bỏ cuộc văn nghệ. Anh vẽ bìa cho bạn bè, anh vẽ tranh cho mình, anh viết truyện và lên facebook trao đổi nầy nọ với nhiều người.

Sức sống của anh mãnh liệt để không bị căn bịnh hủy diệt. Anh có mặt với đời sống văn nghệ. Anh đào sâu những ký ức được xây dựng bằng vốn sống gian nan và lầy lội của một nạn nhân, chứng nhân trong một xã hội tan rã do chiến tranh và hậu quả sau cuộc chiến của bên thua trận để tạo nên tác phẩm của mình.
(more…)

Phan Tấn Hải

Trong khi chờ năm mới, một trong những niềm vui lớn là có vài ngày thư thả để lòng lắng xuống, mở trang sách xưa để đọc lại thơ Thiền… Năm nay, niềm vui của tôi là đọc tác phẩm “Thơ Thiền Lê-Nguyễn Zen Poems” – một tuyển tập song ngữ Anh-Việt, một công trình văn học mất hơn 10 năm để thực hiện.

Bản sách giấy trong lần xuất bản 2019 của NXB Hội Nhà Văn chỉ in 500 ấn bản, dày 160 trang, trên khổ giấy quý 25 X 25 cm.

Chủ biên là Nguyễn Bá Chung; dịch thơ tiếng Việt là Nguyễn Duy – Nguyễn Bá Chung; dịch thơ Anh ngữ là Sam Hamill – Nguyễn Bá Chung; Hòa Thượng Thích Phước An viết Lời giới thiệu (trang 11-13); Nguyễn Duy Sơn thực hiện phần hình ảnh; Nguyễn Duy thiết kế tổng thể; Võ Anh Thơ thiết kế mỹ thuật.
(more…)

Đỗ Trường

Tôi không bất ngờ lắm, khi nhận được tập 2, Thơ Việt Ở Đức, do Sa Huỳnh và Thế Dũng gửi tặng. Bởi, mấy tháng trước dù đang còn lật khật ở Pleiku, Thế Dũng đã dọa, sắp cho ra lò tuyển tập này. Và cũng từ lâu, tôi chỉ đọc và theo dõi, chứ dường như không còn nhiều hứng thú viết về thơ văn của những tác giả đang sống, và làm việc ở Đức nữa. Vì cái tính hịch toẹt của tôi đôi khi làm không vừa lòng nhau. Khen thì không thể, chê càng bỏ bà nữa. (Một sự kẹt cứng của ngòi bút). Biết là vậy, nhưng đã nhận sách từ Thế Dũng, thì không ít thì nhiều, sớm hay muộn kiểu gì cũng phải viết cho gã. Do vậy, tôi đọc, và viết ngay, bằng không, khó mà Ruhe (yên) trong những ngày giáp Tết này.
(more…)

Phạm Quốc Bảo.

“Their War: The Perspectives of the South Vietnamese Military in the Words of Veteran-Emigrés” vốn là chủ đề của cái tiểu luận do Julie Phạm thực hiện thành tài liệu năm 1999 để được chấm cho ra trường môn sử với hạng danh dự tại University of California, Berkeley vào năm 2001. Tài liệu này gồm hai phần:

– Một là những trang giấy đã ghi chép và đánh máy lại từ băng thu âm của trên 40 người tham dự trả lời phỏng vấn, trò chuyện (và dĩ nhiên là có chữ ký xác nhận của từng nhân vật được phỏng vấn). Sau đó, tài liệu này còn được dịch sang anh ngữ, gọi là phần Oral History.

– Hai là phần tóm tắt những điểm chính cần được nêu bật lên của công trình nghiên cứu này. Phần này được Julie Phạm thảo bằng anh ngữ, chính là cuốn sách mà chúng ta đang đề cập đến ở đây.

Cuốn sách này lần lượt tóm lược rõ nguyên nhân và lý do, nguyên tắc thực hiện cuộc khảo cứu, tiểu sử của từng nhân vật di dân vốn là cựu quân nhân QLVNCH đã được phỏng vấn, cùng phương pháp phân tích những yếu tố được phỏng vấn…, và cuối cùng, phụ bản là vài bài ngắn gọn nhằm nêu lên bề dầy sống, học hỏi và làm việc của chính tác giả Julie Phạm, trước khi được chấm dứt bằng kết luận do tác giả cô đọng viết.
(more…)

Phan Tấn Hải

Tủ Sách T.Vấn & Bạn Hữu trong năm 2017 đã phát hành tập truyện ngắn “Gập Ghềnh” của nhà văn Lưu Na.

Nơi trang đầu, trước khi vào truyện, nhà văn Lưu Na viết những dòng chữ đẩy cảm xúc về nghĩa “gập ghềnh” trong truyện và trong đời tác giả, trích:

Ví dầu cầu ván đóng đinh
Cầu tre lắc lẻo gập ghềnh khó đi
Khó đi mẹ dắt con đi
Con đi trường học mẹ đi trường đời

Tôi vào đời, một cuộc đời rất xa lạ, không có má dắt tay. Trên đất lành “không thấy phố không thấy nhà chỉ thấy mưa sa…”, tôi bước một mình chông chênh như qua cầu khỉ trên biển sóng dập dềnh lòng mang mối hận không còn thấy lại má. Rồi như một phép lạ, tôi đã trở về bước lại trên con đường xưa nghe mặt đất ấm bàn chân lưu lạc. Mà buồn sao phố xá nguy nga không còn bóng mưa sa, và lòng cứ bập bềnh tiếng sóng. Tôi đi, tôi về, không còn biết đâu là điểm khởi hành. Bước buồn tôi vẫn bước, nhưng mỗi chân mỗi quê – “quê nhà quê người”, chỉ là những bước gập ghềnh.

Lưu Na
(more…)

Phan Tấn Hải


Nhà thơ Lê Giang Trần và tập thơ mới ra (Photo PTH)

Thi sĩ Lê Giang Trần tuần qua vừa phát hành thi tập mới, nhan đề rất mực gió lộng ngàn trùng: Pha Thơ Vào Biển Gió.

Tập thơ mới ấn hành để kết thúc một năm 2019, đầy những giông bão tình yêu của chàng thi sĩ lãng mạn vào hàng thượng thừa trong làng chữ nghĩa hải ngoại.

Thi tập “Pha Thơ Vào Biển Gió” do nhà xuất bản Sống ấn hành, với tranh bìa và một số phụ bản của họa sĩ Đinh Trường Chinh. Trong thi tập dày 260 trang còn có một hình vẽ tác giả do họa sĩ Trịnh Cung Thực hiện. Và một số hình ảnh được ghi lại qua ống kính camera của Trịnh Cung và Trần Triết.
(more…)

Nguyễn Thị Khánh Minh

… Một chút gì thật vội không chờ đợi ai, mãi mãi là một gạch nối vô hình giữa những gì đã qua và sẽ tới, cái đương là bát ngát mênh mông người có thấy? Những câu thơ ghi vội vàng như hành động mở cửa sổ một buổi sáng ngó ra khu vườn, từ đó ta thấy đôi khi trời xanh, có chim hót, vài khi bắt gặp những đám mây trắng không hẹn cúi nhìn xuống đời dưới kia, nhưng cũng có khi bàn tay đâm bất động giữ chặt lấy song cửa, mắt ngó mông lung về một cái gì thoáng trôi…

Bóng nhạn đã bay mất hút trời xa, gió mơn man gợn nhẹ mặt hồ, đâu là ảnh, đâu là hình?

Và như thế một thoáng ngoài kia… (Vũ Hoàng Thư)

Nghe tiếng chim hót sớm mai mấy câu Thiền Thi của Thiền Sư Hương Hải, Nhạn quá trường khôngNhạn không có ý để dấu/ Nước không có tâm lưu bóng (Thích Thanh Từ dịch). Ảnh hình chớp mắt trong biến dịch của phút đang là, người thơ, ngay nơi đã và sẽ ấy, bật ra Một Thoáng, tràn đầy, an nhiên, khinh khoái. Không tràn đầy sao được khi sống bát ngát nơi cái đương là mênh mông. Chẳng an nhiên sao khi biết rõ rằng một chút gì thật vội không chờ đợi ai. Và trong phút giây có mặt ấy, người thơ đã khinh khoái điểm danh, một khuya sớm/ bóng sương buông/ cơn trường mộng/ cuộc vô thường là tên (Chiều Tím). Ngay tựa đề Một Thoáng đã gợi lên một sự liên tục (tôi muốn nhấn mạnh, liên tục) trực nghiệm về những khoảnh khắc lúc tâm yên ả cùng thân trong hiện hữu ấy. Đó thiết nghĩ chẳng phải là một pháp tu hay sao?
(more…)

Trịnh Y Thư

Nhà văn Mỹ gốc Việt Lại Thanh Hà (Thanhhà Lại) – từng đoạt giải thưởng National Book và giải Newbery-Danh dự, thể loại Thiếu niên, với tác phẩm thơ xuôi Inside Out & Back Again/ Trong ra ngoài & Ngược trở lại – mới đây đã được nhà xuất bản HarperCollins xuất bản một cuốn tiểu thuyết mới nhan đề Butterfly Yellow/ Bướm Vàng (284 trang, giá bán $17.99) và đã được giới phê bình đánh giá là một tác phẩm tiểu thuyết xuất sắc. Phụ trang Văn Học của tờ nhật báo lớn nhất Hoa Kỳ, New York Times, có bài phê bình và đã gọi đây là một tác phẩm “đẹp nhức nhối.” (Searingly beautiful.)

Hiển nhiên, một tác phẩm tiểu thuyết lọt vào mắt xanh của NXB HarperCollins thì không phải tầm thường và đọc cuốn sách này, tôi đã bị cuốn hút từ đầu đến cuối. Cuốn hút bởi cốt truyện đã đành mà còn thú vị với văn phong độc đáo thấm đẫm tính hài, và chữ nghĩa phong phú, khác thường của tác giả.
(more…)

Đỗ Trường

Cứ ngỡ, ở cái tuổi quá lục tuần, với những cuộc rong chơi cùng trời cuối đất, Thế Dũng đã lạnh nhạt với văn chương, song tôi đã lầm. Bởi, hôm rồi tôi gọi điện thúc giục gã viết cho xong cuốn Con Chữ Thiên Di. Điện thoại chuông đổ ầm ầm, lúc sau mới thấy gã cầm máy. Tiếng ồn nơi đông người thật khó nghe:

– Thế Dũng! Bác đang ở đâu đấy?

Nghe tiếng gã cười khùng khục ở đầu dây bên kia:

– Đang bẹt nhè ở Pleiku. Có về được thì uống đỡ cho anh mày một chút.

– Rượu chè thế này, Con Chữ Thiên Di đến cuối năm xong thế chó nào được!

Tôi vặc lại Thế Dũng như vậy, làm cho gã giải thích như quát trong máy:

– Thằng em cứ đùa. Không xong cuốn này, thì anh mày xong cuốn khác. Văn thơ chứ đâu phải bổ củi. Đôi khi còn phụ thuộc vào cảm hứng nữa. Lắm lúc, định viết cái này, tự nhiên nó xọ mẹ sang cái khác. Vừa in xong cuốn: Tôi Vẫn Sống Ở Nơi Mình Vắng Mặt. Không nằm trong dự định, cũng đang định gửi cho thằng em…
(more…)

Lương Nguyên Hiền

Nguyễn Dữ là một nhà văn xuôi Việt Nam ở thế kỷ thứ 16. Tác phẩmTruyền-Kỳ Mạn-Lục do ông viết, đã được đánh giá như là một “thiên cổ kỳ bút”.

Vào một đêm mùa thu cách đây không lâu, nửa khuya thức dậy, theo lệ thường, tôi đi lòng vòng trong nhà hy vọng vớ được một cuốn sách để đọc qua đêm chờ sáng. Căn nhà thật vắng lặng và yên tĩnh, đi vào phòng làm việc, tôi đưa mắt dạo qua kệ sách. Chợt ánh mắt tôi dừng lại trên một cuốn sách cũ vàng úa, đầy bụi bặm nằm khuất ở một góc. Tò mò, mở ra xem, đó là cuốn sách Truyền-Kỳ Mạn-Lục, tác giả là Nguyễn Dữ sống vào thế kỷ thứ 16. Sách được nhà xuất bản Tân Việt in năm 1952 và do Trúc Khê Ngô Văn Triện dịch ra chữ quốc ngữ. Đây là một trong những cuốn sách quý mà Cha tôi đã sưu tầm khi ông còn sống và được gìn giữ trong gia đình tôi cho đến ngày hôm nay. Tôi ngồi xuống, lật từng trang sách và bắt đầu đọc.
(more…)

Lê Lạc Giao

Tôi nhận được tập thơ “Ngôn Ngữ Xanh” của nữ thi sĩ Nguyễn Thị Khánh Minh tặng vào những ngày lập thu đầu tháng mười. Khi nhìn tên tập thơ, tôi nghĩ ngay đến nỗi niềm hoài vọng của tác giả. Tuy quen biết Khánh Minh chừng năm năm qua người bạn làm thơ Nguyễn Lương Vỵ, tôi lại biết rất ít về nhà thơ nữ cùng thế hệ này cũng vì điều kiện sinh sống có tính khép kín tại Hoa Kỳ. Về sau có đi uống café vài lần và nói chuyện với Khánh Minh, tôi càng khâm phục cô hơn nữa. Một người mà thể chất rất tệ vì bệnh tật, càng về sau đi đứng khó khăn cùng phải lo quán xuyến gia đình vẫn không ngăn cô sáng tác. Và các tập thơ đều đặn ra đời như thách đố với tình trạng tiêu cực của bản thân. Ngôn Ngữ Xanh là tập thơ thứ mười hai của nhà thơ Nguyễn thị Khánh Minh.
(more…)

Trương Văn Dân

Có thể nói tiểu thuyết lịch sử ở Âu châu bắt đầu từ sau khi nhà văn Walter Scott viết tiểu thuyết “Ivanhoe”, xuất bản vào năm 1819. Truyện kể về một hiệp sĩ thời Trung Cổ của nước Anh và sau đó năm 1823 ông còn xuất bản quyển “Quentin Durward” kể về những chuyện xảy ra vào thời vua Luigi XI (1423- 1483) ở Pháp. Cả hai quyển này đã thành công xuất sắc và mở đầu cho thể loại tiểu thuyết này.

Cùng trong thời gian đó, dưới ảnh hưởng của chủ nghĩa lãng mạn thì tiểu thuyết “Người được đính hôn” (Promessi Sposi) của Alessandro Manzoni ở Italia cũng vừa xuất hiện. Được viết từ năm 1821 và xuất bản vào năm 1827 tác phẩm này thành công tức khắc và cho ra đời một thể loại mới về lịch sử.
(more…)

Nguyễn Vy Khanh

Chúng tôi như có cái duyên kỳ ngộ với vùng cao Ban-Mê-Thuột, qua các thành viên của “Phong trào Du ca” (và “Cơ sở Văn-nghệ Con người”), từ những năm đầu thập niên 1970 ở quê nhà cho đến gần đây khi Nguyễn Minh Nữu viết Thương Quá Sài Gòn Ngày Trở Lại (2017), Đoàn Văn Khánh với Ám Ảnh Đơn Thân (2019) và nay là nhà thơ/nhạc sĩ Phan Ni Tấn xuất bản tập tùy bút Ngòi Viết Lang Thang, sau tập truyện Có Một Thời Ở Quê Hương Tôi (2019).

Đến với Ngòi Viết Lang Thang là chúng tôi đã khởi đi với tâm trạng “buôn”, “vùng cao” và tinh thần “nhập cuộc” của ngày nào; không ngờ tác phấm đã là một bất ngờ thích thú thực sự và nội dung đặc biệt khiến chúng tôi không thể không ghi lại đây vài cảm tưởng.

Ngay từ trang đầu, Phan Ni Tấn đã cho biết: “Tôi sinh ra ở Banmêthuột cho nên núi rừng là bạn của tôi. Đi đâu, làm gì, thức hay ngủ, rừng núi lúc nào cũng kề một bên. Lớn lên tôi có đọc chút ít lịch sử trước 1975 của quê tôi, ở đó miên man trải dài ngút mắt, là núi và rừng, nơi xanh um một màu xanh lá, nơi chói chang một trời nắng lụt, và cũng là nơi lầy lội, ẩm ướt những trận mưa vào mùa. Từ thị xã đến thôn quê, nhà cửa theo thời gian lần lượt mọc lên suốt dải cao nguyên đất đỏ; con người sống trong màu đất đỏ, tử sinh cùng đất đỏ…” (Quê Tôi).
(more…)

Nguyễn Văn Sâm

Tù cải tạo có nhiều tâm sự, chuyện trong tù kể thì vô vàn, cách thế kể về những ngày đói nhục cũng khác nhau. Nguyễn Văn Thu kể lại bằng thơ mà là thơ chữ Hán. Đặc biệt ở chỗ đó. Người làm thơ chữ Hán ngày nay không nhiều. Ta chỉ biết Trần Văn Lương với những bài thơ rất xúc động, thỉnh thoảng ông phóng ra một bài thì ai cũng nao nao lòng khi thưởng thức vì ông nói về thời thế và tâm tư trước nghịch cảnh của con dân đất Việt. Một người làm thơ chữ Hán khác là nữ sĩ Hạt Cát, thơ rất hay, dầu ít khi phổ biến, ý tưởng thường nghiêng về đường tu dưỡng… Có thể còn có nhiều người khác nữa, nhưng vì hoàn cảnh chúng ta chưa có dịp thưởng thức thơ chữ Hán của họ.
(more…)

Tô Đăng Khoa

Đây tác phẩm thứ 12 của Nguyễn Thị Khánh Minh: Ngôn Ngữ Xanh. Độc giả trong những năm gần đây có lẽ không còn xa lạ gì với tên tuổi Khánh Minh, người có sức sáng tạo rất sung mãn, gần như mỗi năm đều có một tác phẩm mới ra đời. Những tác phẩm gần đây của Khánh Minh đã được độc giả đón tiếp rất nồng nhiệt như “Ký Ức của Bóng”, “Bóng Bay Gió Ơi”, “Lang Thang Nghìn Dặm”, và “Tản Văn Thi”.

Khác với các tác phẩm trước trong đó Khánh Minh chọn thể loại Thi, Tản Văn, hay là Tản Văn Thi để nói về các chủ đề khác nhau của Thi Ca như: Ký Ức, Bóng, Giấc Mơ, v.vv… Lần này trở lại với độc giả qua tác phẩm Ngôn Ngữ Xanh, chủ đề được Khánh Minh chọn lại chính là Thi Ca, hay nói cách khác, Chủ đề của Ngôn Ngữ Xanh là: Thơ về Thơ.
(more…)

Lê Giang Trần

người dệt thơ như tơ lụa
dệt văn như dòng sông êm trôi

(Đinh Cường)

Trong khi thế giới phương Tây đã nổi dậy phong trào hiện sinh thì nơi phương Đông vẫn đi trên một con đường trầm lặng. Đó là con đường của nghệ thuật, các thế hệ tiếp nối nhau trong một thế giới lặng lẽ với những khát vọng trung thành nhất của đời sống. Đông phương là một thế giới trầm mặc xa xôi, mà nghệ thuật lại là con đường của cái trầm mặc đó… Trong nghệ thuật, con người đã lấy ngay chất liệu đau khổ của thế gian dựng thành ý nghĩa cứu cánh của đời sống… Qua con đường trầm mặc của nghệ thuật, chúng ta mới có thể xúc cảm sâu xa trước những gì mà tư tưởng và triết học không bao giờ có được. Dưới tác động của thời gian, đời sống là một cái gì đó rất mong manh, và hạnh phúc là một thứ chất lỏng không thể nắm bắt được. Chất lỏng đó chảy xuôi thành một dòng song biến động của thời gian. Chỉ trong những phút trầm mặc chúng ta mới có thể trầm mình vào suối để thưởng thức hương vị hiu hắt của hạnh phúc… Qua xúc cảm ấy, tâm hồn con người được mở rộng để đón tiếp mọi người mọi vật ngay giữa lòng sống động của hiện hữu. Người ta nói tâm hồn Đông phương là một tâm hồn trầm mặc và bao dung, chính là ở chỗ đó. (Văn Tuyển, Tuệ Sỹ, Hương Tích Phật Việt, Hoa Kỳ, 2014, tr. 12, 36, 37, 39)
(more…)

Đạt Giả Nguyễn Văn Sâm

Tập sách mỏng nhưng nặng ký Kinh Pháp Cú Tây Tạng do Nguyên Giác dịch và ghi nhận đến với tôi không gây bất ngờ vì Nguyên Giác viết về những vấn đề có tính cách chuyên sâu về Phật giáo cũng đã nhiều. Cuốn nầy là cuốn thứ 9, đó là chưa kể những bài báo liên quan đến vài vấn đề thuộc về kinh kệ Phật giáo rải rác chưa in thành sách.

Kinh Pháp Cú tức là bản gom góp lại những câu ngăn ngắn lời Đức Phật dạy khi ngài còn tại thế. Những đệ tử của Phật sau đó kết tập lại và xếp theo từng loại cho người đời sau dễ học, dễ thấm. Với sự bành trướng của đạo Phật, Kinh Pháp Cú được viết lại, diễn dịch ra nhiều ngôn ngữ mà chúng ta biết nhiều nhất qua:

  1. Chữ Pali, Việt dịch có vài bản, bản quan trọng nhứt do Hòa Thượng Thích Minh Châu, Viện Trưởng Viện Đại Học Vạn Hạnh Sàigòn, trước 1975.
  2. Chữ Hán, Việt dịch có thể tới mấy chục bản dịch, đầy đủ hay không, bản được chú ý nhứt là bản của Thiền Sư Nhất Hạnh, người nổi tiếng là có nhiều ảnh hưởng lên tín đồ Phật giáo Âu Mỹ.
  3. Chữ Sanskrit, chưa có bản Việt dịch trực tiếp hay gián tiếp nào, thiền hữu Nguyên Giác – tôi thích gọi ông là thiền hữu vì ông có một đời sống và sự làm việc về Phật học quá hơn một cư sĩ – dịch gián tiếp qua ba bản Anh Ngữ.

(more…)

Huỳnh Kim Quang

“People find out who they are by writing.”
Grace Cavalieri

Tôi đến thăm nhà thơ Nguyễn Lương Vỵ, người vừa ra mắt tập thơ thứ 13, “Âm Tuyết Đỏ Thời Gian,” hôm 24 tháng 8 năm 2019, tại một quán cà phê trong vùng Little Saigon.

Trông anh gầy đi sau nhiều lần giải phẫu tim và phải nằm tại viện điều dưỡng để được chăm sóc sức khỏe chu đáo hơn. Nhưng nụ cười trên môi anh vẫn không hề suy suyển dù đôi mắt ngày càng ẩn kín sâu hơn trong cặp kính dày cộm.

Cầm tập thơ mới tinh còn nóng hổi mà anh tặng, đang nhìn chầm chập vào hình bìa có ngụm máu đỏ tươi phun vọt ra, tôi chưa kịp cảm ơn thì người bạn trẻ Tô Đăng Khoa đứng cạnh bên đã lên tiếng:

– Máu của Huệ Khả đó!

Nhà thơ Nguyễn Lương Vỵ tiếp lời:

– Giọt máu ngộ đạo của Huệ Khả.

Tôi phụ họa theo:

– Nhờ máu từ cánh tay mới chặt đó mà Tổ Huệ Khả đã “tìm không thấy tâm ở đâu.”
(more…)

Đỗ Trường

Thời gian gần đây, những lúc tâm trạng không được thăng bằng, tôi thường tìm đến Nguyễn Văn Gia. Đọc thơ ông, tuy không có cái chất cổ phong, với chiều sâu suy tưởng của Phạm Ngọc Lư, nhưng cho tôi cái tĩnh tại của nội tâm, cùng sự lắng đọng mang mang hương lúa, hồn quê. Khi đi sâu vào đọc và nghiên cứu, ta có thể thấy, cái cái truyền thống văn chương xứ Quảng đã đưa Nguyễn Văn Gia đến với thi ca ngay từ cái thuở học trò. Song cái hồn thơ ấy, dường như bị chẻ, chia ở đâu đó. Và phải đợi đến biến cố lớn nhất của cuộc đời ở cái tuổi ngũ tuần, mới làm hồn thơ Nguyễn Văn Gia chợt tỉnh. Tuy nhiên, là người trầm tư, kỹ tính, do vậy, Nguyễn Văn Gia viết không nhiều. Cho đến nay, ông mới cho in ấn và phát hành ba thi tập: Đôi Bờ Thời Gian (2010) Lặng Lẽ Phù Sa (2015) và Nắng Gió Quê Nhà (2019). Có thể nói, đây là những tập thơ hay về nội dung tư tưởng cũng như nghệ thuật sáng tạo, mà tôi đã được đọc trong thời gian gần đây. Nếu Đôi Bờ Thời Gian và Lặng Lẽ Phù Sa hồn quê, hương lúa được vọng lên từ tình yêu, lẽ sống của con người, thì đến với thi phẩm Nắng Gió Quê Nhà ngòi bút Nguyễn Văn Gia đã chọc thẳng vào những nỗi đau đang hằn lên hình đất nước. Và có thể nói, đi tìm lại ký ức, tìm lại đất nước, hồn quê là tư tưởng xuyên suốt sự nghiệp sáng tạo của ông.
(more…)

Lê Hữu

Ta với Trăng cùng trọ mái hiên

“Tôi thích câu thơ ấy,” tôi nói với anh Trần Huy Sao như vậy. Còn phải kể thêm nữa những bài thơ, những câu thơ trăng nào của anh.

Chân bước đi, lòng còn ngoảnh lại
Trăng mười phương chỉ nhớ phương này

Bầu trời nào cũng chỉ một bầu trời, vầng trăng nào cũng chỉ một vầng trăng, vậy mà Trần Huy Sao, con người nghệ sĩ ấy, những đêm trăng sáng ngước nhìn trời, thấy trăng viễn xứ phương này lại mơ về bóng trăng soi phương nào.

Tôi không rõ có thi sĩ người Việt nào yêu trăng đến độ chỉ làm thơ về trăng, thế nhưng tôi đặc biệt thích những bài thơ trăng của Trần Huy Sao. Kể ra không hết, những bài thơ nói về một quê hương kỷ niệm, về một thời tuổi trẻ, một tình yêu đầu và những ngày vui mơ hồ trong trí tưởng. Trong đó, bao giờ cũng có hình ảnh những đêm trăng lung linh của một mùa trăng cũ.
(more…)

Phan Tấn Hải


Nhà biên khảo Vy Thanh

Bạn muốn tìm một tác phẩm nói đầy đủ về cuộc đời ông Hồ Chí Minh, người mang Chủ nghĩa Cộng sản vào Việt Nam, bằng tiếng Anh để hế hệ trẻ hải ngoại hiểu được vì sao bạn kinh sợ Chủ nghĩa CS và trở thành người tỵ nạn? Bạn muốn giải thích cho thế hệ trẻ về những thảm cảnh dân tộc đã trải qua dưới chế độ CS? Bạn muốn thế hệ trẻ đọc các hồ sơ mật bằng Anh văn về ông Hồ Chí Minh từ các văn khố an ninh của Nga, Trung Quốc, Pháp quốc… để biết về khuôn mặt thật của người khai sáng chế độ CSVN? Bạn muốn thế hệ trẻ đọc về ông Hồ với một số giấy tờ nêu nghi vấn ông thủ tiêu một số lãnh đạo CSVN thời kháng Pháp (như Hoàng Đình Giong) để giành quyền lãnh đạo, hay về chuyện Nguyễn Thị Minh Khai (vợ chính thức của Lê Hồng Phong) có đứa con gái với ông Hồ, hay về hồ sơ và hình ảnh nhân vật Thiếu Tá Hồ Quang có phải đã đóng thay ông Hồ sau khi Nguyễn Ái Quốc có tin đã chết… Có một tác phẩm nghiên cứu viết bằng tiếng Anh đi tìm câu trả lời cho bạn.
(more…)

Phan Tấn Hải

Sách dày khoảng 630 trang, khổ giấy 6X9 inches, bên cạnh các bài thơ là những bài lý luận phức tạp, bên cạnh một số tranh minh họa của Ngọc Dũng, Thái Tuấn… cũng là các đồ hình lý luận về thơ Tân Hình Thức và cả khoa học…

Nhà thơ Khế Iêm đã xuất hiện rất mực Khế Iêm… Thơ Tân Hình Thức thường bị ngộ nhận là khó hiểu và bí hiểm. Nhưng nơi đây, độc giả sẽ không thấy thơ Khế Iêm khó hiểu hay bí hiểm… thực sự nhiều câu thơ rất dễ hiểu. Thí dụ, như bốn câu đầu bài thơ nhan đề “Tân Hình Thức và Câu Chuyện Kể” nơi trang 13, trích:

Khi tôi ngồi uống cà phê ngoài lề
đường và kể lại câu chuyện đã được
kể lại, từ nhiều đời mà đời nào
cũng giống đời nào, mà lời nào cũng…

(more…)

Nguyễn Thông

Bây giờ, thời buổi này, nếu nhắc tới cụm từ “cải cách ruộng đất”, lứa U50, thậm chí U60 trở lại đây hầu như không biết, giả dụ đã từng nghe đâu đó thì cũng rất loáng thoáng láng máng lờ mờ. Nhưng với U70 trở về trước thì đó là thứ quá khứ kinh hoàng, bi kịch, đen tối, thê thảm, đầy máu và nước mắt. Sao lại có sự khác nhau thế nhỉ? Đơn giản là, quá khứ ấy, lịch sử ấy bị ém nhẹm, bưng bít, giấu kín, cố tình lờ đi, bởi nó chính là sản phẩm của chế độ xã hội chủ nghĩa, của những người cộng sản.

Mà chẳng phải chỉ “cải cách ruộng đất”, nhiều sự kiện khác, như “cuộc đấu tranh chống nhóm phá hoại Nhân văn giai phẩm” (1956-1958), “vụ án xét lại chống đảng” (1967-1968), “công cuộc cải tạo công thương nghiệp tư bản chủ nghĩa ở miền Nam” (1976-1980), “thời bao cấp” (suốt mấy thập niên từ 60 tới 80)… là những đặc sản mà nhà cai trị ngại nhắc tới. Cứ phải quán triệt quan điểm “đẹp tốt phô ra, xấu xa đậy lại”. Vậy nên có tình trạng lịch sử, văn chương, báo chí, nhà trường… đều ngó lơ, hời hợt, xuyên tạc, bo tròn, nói chung là không được phép khai thác tỉ mỉ, đào sâu, chỉ vì mấy thứ đó là vùng cấm.
(more…)

Nguyễn Mạnh Trinh

Giáo sư Phạm Cao Dương vừa xuất bản tác phẩm sử học “Trước khi bão lụt tràn tới, Bảo Ðại Trần Trọng Kim và Ðế Quốc Việt Nam”. Ðây là một cuốn sách viết về những trang sử đẹp của dân tộc Việt Nam. Thế mà vì thời cuộc nên lịch sử đã bị nhiều huyền thoại khiến sự nhận định bị nhìn ngắm một cách không trung thực. Giáo sư Phạm Cao Dương với tâm nguyện viết về người đẹp, việc đẹp với một tác phẩm tưởng nhớ những người thuộc thế hệ trí thức Tây Học đầu tiên của nước Việt Nam mới, còn giữ được tinh thần sĩ phu truyền thống cùng với tuổi trẻ đương thời đã đứng ra làm việc nước và đã ra đi trong nhiều oan khuất. Ông viết về thời của Hoàng Ðế Bảo Ðại, vị hoàng đế cuối cùng của triều đại Nhà Nguyễn và cũng là cuối cùng của thời đại Quân Chủ Việt Nam. Mặt khác đây cũng là thời của Nội Các của nhà giáo kiêm học giả Trần Trọng Kim, một trí thức được rất đông người trong nước biết tiếng và yêu mến qua các bộ sách Giáo Khoa Thư gồm có Quốc Văn Giáo Khoa Thư, Luân Lý Giáo Khoa Thư… dùng cho các bậc tiểu học và bộ Việt Nam Sử Lược – cuốn sử gối đầu giường của nhiều thế hệ người Việt rất lâu về sau này. Ðồng thời, nội các ấy cũng có nhiều người trí thức nổi tiếng đương thời đã đặt được giềng mối cho nhiều ngành chuyên môn của quốc gia Việt Nam.
(more…)

Phạm Hồng Sơn

Đọc xong cuốn sách về một con người đã chết cách đây hơn nửa thế kỷ khi còn đương xuân, đương ở những năm tháng tiềm năng nhất về sức lực và trí lực, tự tôi dằn lòng nở một nụ cười lớn hạnh phúc cho riêng tôi.

Trầm mặc, bùi ngùi, thương xót, đau khổ, nhỏ lệ là một phản xạ nhân bản, hoặc, tệ hơn, một biểu hiện bề ngoài, rất đỗi tự nhiên của con người trước cái chết của con người. Cái tự nhiên đó dường như đã khiến chúng ta quên mất một điều, đối với con người sự hệ trọng nhất không phải sống hay chết mà là đã sống ra sao và được chết như thế nào. “Đã sống ra sao” là sự nỗ lực hay thiếu nỗ lực để sống cho xứng với tên gọi Con Người. “Được chết như thế nào” là “tử bất kỳ”, là điều không phụ thuộc vào ý muốn của chúng ta. Nhưng tư thế của người chết, tinh thần của người chết, bi tráng, lẫm liệt hay vật vã, bi lụy, luôn luôn khiến những kẻ đang sống phải suy nghĩ. Một con người có tầm vóc hiếm có, chỉ được sống một cuộc sống ngắn ngủi so với tha nhân, đã luôn trăn trở, nỗ lực, chịu đựng trong âm thầm cho tới tận lúc chết để bước và vươn cao hơn trên những bậc thang về cả trí tuệ lẫn nhân phẩm, được biết một Con Người như thế trong một cuộc đời còn nhiều ô trọc tại sao ta không hạnh phúc?
(more…)

Trương Văn Dân
Đọc tập truyện & tùy bút Bên Kia Cầu Chữ Y của Huỳnh Ngọc Nga, nxb Tổng Hợp tp HCM, 4-2018)

Khi người ta nói bên này bên kia thì này chỉ nơi gần, kia chỉ nơi xa. Xa có thể là cách một dòng kênh, nhưng cũng có thể là cách một đại dương. Và tập truyện Bên Kia Cầu Chữ Y của Huỳnh Ngọc Nga xuất hiện giữa mùa nóng tháng 4/2018 giữa Sài Gòn như bao gồm cả hai ý ấy, vì trang văn của chị đậm đặc chất hoài niệm về những điều mà với chị nay đã xa xôi, đã không còn nữa.

Tôi biết chị Nga từ nhiều năm trước. Và có lẽ chị là người bạn văn duy nhất của tôi ở Ý. Phần đông những bạn bè đi du học cùng thời chỉ theo học những môn kỹ thuật, tuy cũng có người thích đọc nhưng phần lớn xem văn chương là một điều vô bổ.

Tôi làm việc và sinh sống ở Milano, còn chị Nga và gia đình sống ở Torino, hai thành phố cách nhau chừng 150km, chỉ 2 tiếng đi xe lưả nhưng chị em ít gặp nhau, ai cũng bận rộn và chỉ gặp nhau qua điện thoại, hay sau này, qua những bài viết, chuyển qua email.
(more…)