Archive for the ‘Giới Thiệu Sách / Điểm Sách’ Category

Đỗ Trường

Cứ ngỡ, ở cái tuổi quá lục tuần, với những cuộc rong chơi cùng trời cuối đất, Thế Dũng đã lạnh nhạt với văn chương, song tôi đã lầm. Bởi, hôm rồi tôi gọi điện thúc giục gã viết cho xong cuốn Con Chữ Thiên Di. Điện thoại chuông đổ ầm ầm, lúc sau mới thấy gã cầm máy. Tiếng ồn nơi đông người thật khó nghe:

– Thế Dũng! Bác đang ở đâu đấy?

Nghe tiếng gã cười khùng khục ở đầu dây bên kia:

– Đang bẹt nhè ở Pleiku. Có về được thì uống đỡ cho anh mày một chút.

– Rượu chè thế này, Con Chữ Thiên Di đến cuối năm xong thế chó nào được!

Tôi vặc lại Thế Dũng như vậy, làm cho gã giải thích như quát trong máy:

– Thằng em cứ đùa. Không xong cuốn này, thì anh mày xong cuốn khác. Văn thơ chứ đâu phải bổ củi. Đôi khi còn phụ thuộc vào cảm hứng nữa. Lắm lúc, định viết cái này, tự nhiên nó xọ mẹ sang cái khác. Vừa in xong cuốn: Tôi Vẫn Sống Ở Nơi Mình Vắng Mặt. Không nằm trong dự định, cũng đang định gửi cho thằng em…
(more…)

Lương Nguyên Hiền

Nguyễn Dữ là một nhà văn xuôi Việt Nam ở thế kỷ thứ 16. Tác phẩmTruyền-Kỳ Mạn-Lục do ông viết, đã được đánh giá như là một “thiên cổ kỳ bút”.

Vào một đêm mùa thu cách đây không lâu, nửa khuya thức dậy, theo lệ thường, tôi đi lòng vòng trong nhà hy vọng vớ được một cuốn sách để đọc qua đêm chờ sáng. Căn nhà thật vắng lặng và yên tĩnh, đi vào phòng làm việc, tôi đưa mắt dạo qua kệ sách. Chợt ánh mắt tôi dừng lại trên một cuốn sách cũ vàng úa, đầy bụi bặm nằm khuất ở một góc. Tò mò, mở ra xem, đó là cuốn sách Truyền-Kỳ Mạn-Lục, tác giả là Nguyễn Dữ sống vào thế kỷ thứ 16. Sách được nhà xuất bản Tân Việt in năm 1952 và do Trúc Khê Ngô Văn Triện dịch ra chữ quốc ngữ. Đây là một trong những cuốn sách quý mà Cha tôi đã sưu tầm khi ông còn sống và được gìn giữ trong gia đình tôi cho đến ngày hôm nay. Tôi ngồi xuống, lật từng trang sách và bắt đầu đọc.
(more…)

Lê Lạc Giao

Tôi nhận được tập thơ “Ngôn Ngữ Xanh” của nữ thi sĩ Nguyễn Thị Khánh Minh tặng vào những ngày lập thu đầu tháng mười. Khi nhìn tên tập thơ, tôi nghĩ ngay đến nỗi niềm hoài vọng của tác giả. Tuy quen biết Khánh Minh chừng năm năm qua người bạn làm thơ Nguyễn Lương Vỵ, tôi lại biết rất ít về nhà thơ nữ cùng thế hệ này cũng vì điều kiện sinh sống có tính khép kín tại Hoa Kỳ. Về sau có đi uống café vài lần và nói chuyện với Khánh Minh, tôi càng khâm phục cô hơn nữa. Một người mà thể chất rất tệ vì bệnh tật, càng về sau đi đứng khó khăn cùng phải lo quán xuyến gia đình vẫn không ngăn cô sáng tác. Và các tập thơ đều đặn ra đời như thách đố với tình trạng tiêu cực của bản thân. Ngôn Ngữ Xanh là tập thơ thứ mười hai của nhà thơ Nguyễn thị Khánh Minh.
(more…)

Trương Văn Dân

Có thể nói tiểu thuyết lịch sử ở Âu châu bắt đầu từ sau khi nhà văn Walter Scott viết tiểu thuyết “Ivanhoe”, xuất bản vào năm 1819. Truyện kể về một hiệp sĩ thời Trung Cổ của nước Anh và sau đó năm 1823 ông còn xuất bản quyển “Quentin Durward” kể về những chuyện xảy ra vào thời vua Luigi XI (1423- 1483) ở Pháp. Cả hai quyển này đã thành công xuất sắc và mở đầu cho thể loại tiểu thuyết này.

Cùng trong thời gian đó, dưới ảnh hưởng của chủ nghĩa lãng mạn thì tiểu thuyết “Người được đính hôn” (Promessi Sposi) của Alessandro Manzoni ở Italia cũng vừa xuất hiện. Được viết từ năm 1821 và xuất bản vào năm 1827 tác phẩm này thành công tức khắc và cho ra đời một thể loại mới về lịch sử.
(more…)

Nguyễn Vy Khanh

Chúng tôi như có cái duyên kỳ ngộ với vùng cao Ban-Mê-Thuột, qua các thành viên của “Phong trào Du ca” (và “Cơ sở Văn-nghệ Con người”), từ những năm đầu thập niên 1970 ở quê nhà cho đến gần đây khi Nguyễn Minh Nữu viết Thương Quá Sài Gòn Ngày Trở Lại (2017), Đoàn Văn Khánh với Ám Ảnh Đơn Thân (2019) và nay là nhà thơ/nhạc sĩ Phan Ni Tấn xuất bản tập tùy bút Ngòi Viết Lang Thang, sau tập truyện Có Một Thời Ở Quê Hương Tôi (2019).

Đến với Ngòi Viết Lang Thang là chúng tôi đã khởi đi với tâm trạng “buôn”, “vùng cao” và tinh thần “nhập cuộc” của ngày nào; không ngờ tác phấm đã là một bất ngờ thích thú thực sự và nội dung đặc biệt khiến chúng tôi không thể không ghi lại đây vài cảm tưởng.

Ngay từ trang đầu, Phan Ni Tấn đã cho biết: “Tôi sinh ra ở Banmêthuột cho nên núi rừng là bạn của tôi. Đi đâu, làm gì, thức hay ngủ, rừng núi lúc nào cũng kề một bên. Lớn lên tôi có đọc chút ít lịch sử trước 1975 của quê tôi, ở đó miên man trải dài ngút mắt, là núi và rừng, nơi xanh um một màu xanh lá, nơi chói chang một trời nắng lụt, và cũng là nơi lầy lội, ẩm ướt những trận mưa vào mùa. Từ thị xã đến thôn quê, nhà cửa theo thời gian lần lượt mọc lên suốt dải cao nguyên đất đỏ; con người sống trong màu đất đỏ, tử sinh cùng đất đỏ…” (Quê Tôi).
(more…)

Nguyễn Văn Sâm

Tù cải tạo có nhiều tâm sự, chuyện trong tù kể thì vô vàn, cách thế kể về những ngày đói nhục cũng khác nhau. Nguyễn Văn Thu kể lại bằng thơ mà là thơ chữ Hán. Đặc biệt ở chỗ đó. Người làm thơ chữ Hán ngày nay không nhiều. Ta chỉ biết Trần Văn Lương với những bài thơ rất xúc động, thỉnh thoảng ông phóng ra một bài thì ai cũng nao nao lòng khi thưởng thức vì ông nói về thời thế và tâm tư trước nghịch cảnh của con dân đất Việt. Một người làm thơ chữ Hán khác là nữ sĩ Hạt Cát, thơ rất hay, dầu ít khi phổ biến, ý tưởng thường nghiêng về đường tu dưỡng… Có thể còn có nhiều người khác nữa, nhưng vì hoàn cảnh chúng ta chưa có dịp thưởng thức thơ chữ Hán của họ.
(more…)

Tô Đăng Khoa

Đây tác phẩm thứ 12 của Nguyễn Thị Khánh Minh: Ngôn Ngữ Xanh. Độc giả trong những năm gần đây có lẽ không còn xa lạ gì với tên tuổi Khánh Minh, người có sức sáng tạo rất sung mãn, gần như mỗi năm đều có một tác phẩm mới ra đời. Những tác phẩm gần đây của Khánh Minh đã được độc giả đón tiếp rất nồng nhiệt như “Ký Ức của Bóng”, “Bóng Bay Gió Ơi”, “Lang Thang Nghìn Dặm”, và “Tản Văn Thi”.

Khác với các tác phẩm trước trong đó Khánh Minh chọn thể loại Thi, Tản Văn, hay là Tản Văn Thi để nói về các chủ đề khác nhau của Thi Ca như: Ký Ức, Bóng, Giấc Mơ, v.vv… Lần này trở lại với độc giả qua tác phẩm Ngôn Ngữ Xanh, chủ đề được Khánh Minh chọn lại chính là Thi Ca, hay nói cách khác, Chủ đề của Ngôn Ngữ Xanh là: Thơ về Thơ.
(more…)

Lê Giang Trần

người dệt thơ như tơ lụa
dệt văn như dòng sông êm trôi

(Đinh Cường)

Trong khi thế giới phương Tây đã nổi dậy phong trào hiện sinh thì nơi phương Đông vẫn đi trên một con đường trầm lặng. Đó là con đường của nghệ thuật, các thế hệ tiếp nối nhau trong một thế giới lặng lẽ với những khát vọng trung thành nhất của đời sống. Đông phương là một thế giới trầm mặc xa xôi, mà nghệ thuật lại là con đường của cái trầm mặc đó… Trong nghệ thuật, con người đã lấy ngay chất liệu đau khổ của thế gian dựng thành ý nghĩa cứu cánh của đời sống… Qua con đường trầm mặc của nghệ thuật, chúng ta mới có thể xúc cảm sâu xa trước những gì mà tư tưởng và triết học không bao giờ có được. Dưới tác động của thời gian, đời sống là một cái gì đó rất mong manh, và hạnh phúc là một thứ chất lỏng không thể nắm bắt được. Chất lỏng đó chảy xuôi thành một dòng song biến động của thời gian. Chỉ trong những phút trầm mặc chúng ta mới có thể trầm mình vào suối để thưởng thức hương vị hiu hắt của hạnh phúc… Qua xúc cảm ấy, tâm hồn con người được mở rộng để đón tiếp mọi người mọi vật ngay giữa lòng sống động của hiện hữu. Người ta nói tâm hồn Đông phương là một tâm hồn trầm mặc và bao dung, chính là ở chỗ đó. (Văn Tuyển, Tuệ Sỹ, Hương Tích Phật Việt, Hoa Kỳ, 2014, tr. 12, 36, 37, 39)
(more…)

Đạt Giả Nguyễn Văn Sâm

Tập sách mỏng nhưng nặng ký Kinh Pháp Cú Tây Tạng do Nguyên Giác dịch và ghi nhận đến với tôi không gây bất ngờ vì Nguyên Giác viết về những vấn đề có tính cách chuyên sâu về Phật giáo cũng đã nhiều. Cuốn nầy là cuốn thứ 9, đó là chưa kể những bài báo liên quan đến vài vấn đề thuộc về kinh kệ Phật giáo rải rác chưa in thành sách.

Kinh Pháp Cú tức là bản gom góp lại những câu ngăn ngắn lời Đức Phật dạy khi ngài còn tại thế. Những đệ tử của Phật sau đó kết tập lại và xếp theo từng loại cho người đời sau dễ học, dễ thấm. Với sự bành trướng của đạo Phật, Kinh Pháp Cú được viết lại, diễn dịch ra nhiều ngôn ngữ mà chúng ta biết nhiều nhất qua:

  1. Chữ Pali, Việt dịch có vài bản, bản quan trọng nhứt do Hòa Thượng Thích Minh Châu, Viện Trưởng Viện Đại Học Vạn Hạnh Sàigòn, trước 1975.
  2. Chữ Hán, Việt dịch có thể tới mấy chục bản dịch, đầy đủ hay không, bản được chú ý nhứt là bản của Thiền Sư Nhất Hạnh, người nổi tiếng là có nhiều ảnh hưởng lên tín đồ Phật giáo Âu Mỹ.
  3. Chữ Sanskrit, chưa có bản Việt dịch trực tiếp hay gián tiếp nào, thiền hữu Nguyên Giác – tôi thích gọi ông là thiền hữu vì ông có một đời sống và sự làm việc về Phật học quá hơn một cư sĩ – dịch gián tiếp qua ba bản Anh Ngữ.

(more…)

Huỳnh Kim Quang

“People find out who they are by writing.”
Grace Cavalieri

Tôi đến thăm nhà thơ Nguyễn Lương Vỵ, người vừa ra mắt tập thơ thứ 13, “Âm Tuyết Đỏ Thời Gian,” hôm 24 tháng 8 năm 2019, tại một quán cà phê trong vùng Little Saigon.

Trông anh gầy đi sau nhiều lần giải phẫu tim và phải nằm tại viện điều dưỡng để được chăm sóc sức khỏe chu đáo hơn. Nhưng nụ cười trên môi anh vẫn không hề suy suyển dù đôi mắt ngày càng ẩn kín sâu hơn trong cặp kính dày cộm.

Cầm tập thơ mới tinh còn nóng hổi mà anh tặng, đang nhìn chầm chập vào hình bìa có ngụm máu đỏ tươi phun vọt ra, tôi chưa kịp cảm ơn thì người bạn trẻ Tô Đăng Khoa đứng cạnh bên đã lên tiếng:

– Máu của Huệ Khả đó!

Nhà thơ Nguyễn Lương Vỵ tiếp lời:

– Giọt máu ngộ đạo của Huệ Khả.

Tôi phụ họa theo:

– Nhờ máu từ cánh tay mới chặt đó mà Tổ Huệ Khả đã “tìm không thấy tâm ở đâu.”
(more…)

Đỗ Trường

Thời gian gần đây, những lúc tâm trạng không được thăng bằng, tôi thường tìm đến Nguyễn Văn Gia. Đọc thơ ông, tuy không có cái chất cổ phong, với chiều sâu suy tưởng của Phạm Ngọc Lư, nhưng cho tôi cái tĩnh tại của nội tâm, cùng sự lắng đọng mang mang hương lúa, hồn quê. Khi đi sâu vào đọc và nghiên cứu, ta có thể thấy, cái cái truyền thống văn chương xứ Quảng đã đưa Nguyễn Văn Gia đến với thi ca ngay từ cái thuở học trò. Song cái hồn thơ ấy, dường như bị chẻ, chia ở đâu đó. Và phải đợi đến biến cố lớn nhất của cuộc đời ở cái tuổi ngũ tuần, mới làm hồn thơ Nguyễn Văn Gia chợt tỉnh. Tuy nhiên, là người trầm tư, kỹ tính, do vậy, Nguyễn Văn Gia viết không nhiều. Cho đến nay, ông mới cho in ấn và phát hành ba thi tập: Đôi Bờ Thời Gian (2010) Lặng Lẽ Phù Sa (2015) và Nắng Gió Quê Nhà (2019). Có thể nói, đây là những tập thơ hay về nội dung tư tưởng cũng như nghệ thuật sáng tạo, mà tôi đã được đọc trong thời gian gần đây. Nếu Đôi Bờ Thời Gian và Lặng Lẽ Phù Sa hồn quê, hương lúa được vọng lên từ tình yêu, lẽ sống của con người, thì đến với thi phẩm Nắng Gió Quê Nhà ngòi bút Nguyễn Văn Gia đã chọc thẳng vào những nỗi đau đang hằn lên hình đất nước. Và có thể nói, đi tìm lại ký ức, tìm lại đất nước, hồn quê là tư tưởng xuyên suốt sự nghiệp sáng tạo của ông.
(more…)

Lê Hữu

Ta với Trăng cùng trọ mái hiên

“Tôi thích câu thơ ấy,” tôi nói với anh Trần Huy Sao như vậy. Còn phải kể thêm nữa những bài thơ, những câu thơ trăng nào của anh.

Chân bước đi, lòng còn ngoảnh lại
Trăng mười phương chỉ nhớ phương này

Bầu trời nào cũng chỉ một bầu trời, vầng trăng nào cũng chỉ một vầng trăng, vậy mà Trần Huy Sao, con người nghệ sĩ ấy, những đêm trăng sáng ngước nhìn trời, thấy trăng viễn xứ phương này lại mơ về bóng trăng soi phương nào.

Tôi không rõ có thi sĩ người Việt nào yêu trăng đến độ chỉ làm thơ về trăng, thế nhưng tôi đặc biệt thích những bài thơ trăng của Trần Huy Sao. Kể ra không hết, những bài thơ nói về một quê hương kỷ niệm, về một thời tuổi trẻ, một tình yêu đầu và những ngày vui mơ hồ trong trí tưởng. Trong đó, bao giờ cũng có hình ảnh những đêm trăng lung linh của một mùa trăng cũ.
(more…)

Phan Tấn Hải


Nhà biên khảo Vy Thanh

Bạn muốn tìm một tác phẩm nói đầy đủ về cuộc đời ông Hồ Chí Minh, người mang Chủ nghĩa Cộng sản vào Việt Nam, bằng tiếng Anh để hế hệ trẻ hải ngoại hiểu được vì sao bạn kinh sợ Chủ nghĩa CS và trở thành người tỵ nạn? Bạn muốn giải thích cho thế hệ trẻ về những thảm cảnh dân tộc đã trải qua dưới chế độ CS? Bạn muốn thế hệ trẻ đọc các hồ sơ mật bằng Anh văn về ông Hồ Chí Minh từ các văn khố an ninh của Nga, Trung Quốc, Pháp quốc… để biết về khuôn mặt thật của người khai sáng chế độ CSVN? Bạn muốn thế hệ trẻ đọc về ông Hồ với một số giấy tờ nêu nghi vấn ông thủ tiêu một số lãnh đạo CSVN thời kháng Pháp (như Hoàng Đình Giong) để giành quyền lãnh đạo, hay về chuyện Nguyễn Thị Minh Khai (vợ chính thức của Lê Hồng Phong) có đứa con gái với ông Hồ, hay về hồ sơ và hình ảnh nhân vật Thiếu Tá Hồ Quang có phải đã đóng thay ông Hồ sau khi Nguyễn Ái Quốc có tin đã chết… Có một tác phẩm nghiên cứu viết bằng tiếng Anh đi tìm câu trả lời cho bạn.
(more…)

Phan Tấn Hải

Sách dày khoảng 630 trang, khổ giấy 6X9 inches, bên cạnh các bài thơ là những bài lý luận phức tạp, bên cạnh một số tranh minh họa của Ngọc Dũng, Thái Tuấn… cũng là các đồ hình lý luận về thơ Tân Hình Thức và cả khoa học…

Nhà thơ Khế Iêm đã xuất hiện rất mực Khế Iêm… Thơ Tân Hình Thức thường bị ngộ nhận là khó hiểu và bí hiểm. Nhưng nơi đây, độc giả sẽ không thấy thơ Khế Iêm khó hiểu hay bí hiểm… thực sự nhiều câu thơ rất dễ hiểu. Thí dụ, như bốn câu đầu bài thơ nhan đề “Tân Hình Thức và Câu Chuyện Kể” nơi trang 13, trích:

Khi tôi ngồi uống cà phê ngoài lề
đường và kể lại câu chuyện đã được
kể lại, từ nhiều đời mà đời nào
cũng giống đời nào, mà lời nào cũng…

(more…)

Nguyễn Thông

Bây giờ, thời buổi này, nếu nhắc tới cụm từ “cải cách ruộng đất”, lứa U50, thậm chí U60 trở lại đây hầu như không biết, giả dụ đã từng nghe đâu đó thì cũng rất loáng thoáng láng máng lờ mờ. Nhưng với U70 trở về trước thì đó là thứ quá khứ kinh hoàng, bi kịch, đen tối, thê thảm, đầy máu và nước mắt. Sao lại có sự khác nhau thế nhỉ? Đơn giản là, quá khứ ấy, lịch sử ấy bị ém nhẹm, bưng bít, giấu kín, cố tình lờ đi, bởi nó chính là sản phẩm của chế độ xã hội chủ nghĩa, của những người cộng sản.

Mà chẳng phải chỉ “cải cách ruộng đất”, nhiều sự kiện khác, như “cuộc đấu tranh chống nhóm phá hoại Nhân văn giai phẩm” (1956-1958), “vụ án xét lại chống đảng” (1967-1968), “công cuộc cải tạo công thương nghiệp tư bản chủ nghĩa ở miền Nam” (1976-1980), “thời bao cấp” (suốt mấy thập niên từ 60 tới 80)… là những đặc sản mà nhà cai trị ngại nhắc tới. Cứ phải quán triệt quan điểm “đẹp tốt phô ra, xấu xa đậy lại”. Vậy nên có tình trạng lịch sử, văn chương, báo chí, nhà trường… đều ngó lơ, hời hợt, xuyên tạc, bo tròn, nói chung là không được phép khai thác tỉ mỉ, đào sâu, chỉ vì mấy thứ đó là vùng cấm.
(more…)

Nguyễn Mạnh Trinh

Giáo sư Phạm Cao Dương vừa xuất bản tác phẩm sử học “Trước khi bão lụt tràn tới, Bảo Ðại Trần Trọng Kim và Ðế Quốc Việt Nam”. Ðây là một cuốn sách viết về những trang sử đẹp của dân tộc Việt Nam. Thế mà vì thời cuộc nên lịch sử đã bị nhiều huyền thoại khiến sự nhận định bị nhìn ngắm một cách không trung thực. Giáo sư Phạm Cao Dương với tâm nguyện viết về người đẹp, việc đẹp với một tác phẩm tưởng nhớ những người thuộc thế hệ trí thức Tây Học đầu tiên của nước Việt Nam mới, còn giữ được tinh thần sĩ phu truyền thống cùng với tuổi trẻ đương thời đã đứng ra làm việc nước và đã ra đi trong nhiều oan khuất. Ông viết về thời của Hoàng Ðế Bảo Ðại, vị hoàng đế cuối cùng của triều đại Nhà Nguyễn và cũng là cuối cùng của thời đại Quân Chủ Việt Nam. Mặt khác đây cũng là thời của Nội Các của nhà giáo kiêm học giả Trần Trọng Kim, một trí thức được rất đông người trong nước biết tiếng và yêu mến qua các bộ sách Giáo Khoa Thư gồm có Quốc Văn Giáo Khoa Thư, Luân Lý Giáo Khoa Thư… dùng cho các bậc tiểu học và bộ Việt Nam Sử Lược – cuốn sử gối đầu giường của nhiều thế hệ người Việt rất lâu về sau này. Ðồng thời, nội các ấy cũng có nhiều người trí thức nổi tiếng đương thời đã đặt được giềng mối cho nhiều ngành chuyên môn của quốc gia Việt Nam.
(more…)

Phạm Hồng Sơn

Đọc xong cuốn sách về một con người đã chết cách đây hơn nửa thế kỷ khi còn đương xuân, đương ở những năm tháng tiềm năng nhất về sức lực và trí lực, tự tôi dằn lòng nở một nụ cười lớn hạnh phúc cho riêng tôi.

Trầm mặc, bùi ngùi, thương xót, đau khổ, nhỏ lệ là một phản xạ nhân bản, hoặc, tệ hơn, một biểu hiện bề ngoài, rất đỗi tự nhiên của con người trước cái chết của con người. Cái tự nhiên đó dường như đã khiến chúng ta quên mất một điều, đối với con người sự hệ trọng nhất không phải sống hay chết mà là đã sống ra sao và được chết như thế nào. “Đã sống ra sao” là sự nỗ lực hay thiếu nỗ lực để sống cho xứng với tên gọi Con Người. “Được chết như thế nào” là “tử bất kỳ”, là điều không phụ thuộc vào ý muốn của chúng ta. Nhưng tư thế của người chết, tinh thần của người chết, bi tráng, lẫm liệt hay vật vã, bi lụy, luôn luôn khiến những kẻ đang sống phải suy nghĩ. Một con người có tầm vóc hiếm có, chỉ được sống một cuộc sống ngắn ngủi so với tha nhân, đã luôn trăn trở, nỗ lực, chịu đựng trong âm thầm cho tới tận lúc chết để bước và vươn cao hơn trên những bậc thang về cả trí tuệ lẫn nhân phẩm, được biết một Con Người như thế trong một cuộc đời còn nhiều ô trọc tại sao ta không hạnh phúc?
(more…)

Trương Văn Dân
Đọc tập truyện & tùy bút Bên Kia Cầu Chữ Y của Huỳnh Ngọc Nga, nxb Tổng Hợp tp HCM, 4-2018)

Khi người ta nói bên này bên kia thì này chỉ nơi gần, kia chỉ nơi xa. Xa có thể là cách một dòng kênh, nhưng cũng có thể là cách một đại dương. Và tập truyện Bên Kia Cầu Chữ Y của Huỳnh Ngọc Nga xuất hiện giữa mùa nóng tháng 4/2018 giữa Sài Gòn như bao gồm cả hai ý ấy, vì trang văn của chị đậm đặc chất hoài niệm về những điều mà với chị nay đã xa xôi, đã không còn nữa.

Tôi biết chị Nga từ nhiều năm trước. Và có lẽ chị là người bạn văn duy nhất của tôi ở Ý. Phần đông những bạn bè đi du học cùng thời chỉ theo học những môn kỹ thuật, tuy cũng có người thích đọc nhưng phần lớn xem văn chương là một điều vô bổ.

Tôi làm việc và sinh sống ở Milano, còn chị Nga và gia đình sống ở Torino, hai thành phố cách nhau chừng 150km, chỉ 2 tiếng đi xe lưả nhưng chị em ít gặp nhau, ai cũng bận rộn và chỉ gặp nhau qua điện thoại, hay sau này, qua những bài viết, chuyển qua email.
(more…)

Phan Tấn Hải

Nhà xuất bản Văn Học Press vừa ấn hành tiểu thuyết Những Ghi Chép Ở Tầng Thứ 14 của Thận Nhiên… Đây là những trang giấy rất buồn. Từng chữ và từng hình ảnh trong tiểu thuyết dội lại trong hồn người đọc về một đất nước và con người Việt Nam một thời chiến tranh tan nát, và rồi một nền hòa bình buồn bã.

Tiểu thuyết này đã được giải văn xuôi của Văn Việt năm 2018. Khi viết những dòng cho Lời Tựa để ấn hành sách năm 2019, nhà văn Thận Nhiên đang ở Detroit, tiểu bang Michigan. Ông viết rằng tiểu thuyết này là hư cấu, dựa trên một số chi tiết đời thật. Khởi sự tiểu thuyết viết từ năm 2014, lúc đang sống ở Sài Gòn, ở căn hộ tầng 14, trong một chung cư ở huyện Bình Chánh.
(more…)

Du Tử Lê

Trường phái Siêu thực xuất hiện trong sinh hoạt thi ca và hội họa, đã có hàng trăm năm trước. Nó khởi đầu từ thủ đô Paris, Pháp quốc. Tới nay, trong Bách Khoa Toàn Thư, Wikipedia – Mở vẫn còn ghi nhận sự thành hình của trường phái này:

“Trường phái Siêu thực (Surrealism) là khuynh hướng nghệ thuật bắt nguồn từ chủ nghĩa Tượng trưng và Phân tâm học, đặt phi lý tính lên trên lý tính. Theo chủ trương, khuynh hướng nầy nhằm giải phóng con người khỏi mọi xiềng xích xã hội, thể hiện nội tâm và tư duy tự nhiên, không bị gò bó bởi lý trí, lôgic, luân lý, mỹ học, kinh tế, tôn giáo. Những sáng tác phẩm của những nghệ sĩ Siêu thực ghi chép tất cả những trạng thái tâm lý luôn luôn chuyển biến trong tiềm thức, không phân biệt thực hay mộng, tỉnh hay điên, đúng hay sai.”
(more…)

Phan Tấn Hải

Truyện Thạch Sanh Lý Thông có liên hệ gì với tư tưởng Phật giáo? Nơi đây, chúng ta thử suy nghĩ về chủ đề này, trong dịp Giáo sư Nguyễn Văn Sâm biên dịch, chú giải và ấn hành Truyện Thơ Thạch Sanh Lý Thông.

Truyện cổ tích Thạch Sanh Lý Thông được kể qua văn học truyền khẩu nhiều thế kỷ trước khi xuất hiện truyện thơ cùng tên. Thường được gọi tắt là truyện Thạch Sanh. Do vì xuất sinh từ văn học truyền khẩu, nên có nhiều phiên bản khác nhau.

Riêng về truyện thơ, cũng có ba dị bản khác nhau, tất cả đều bằng thể lục bát. Như thế, ông bà mình đã ưa thích truyện này một cách đặc biệt.
(more…)

Trịnh Y Thư

1.
Trong một bài phỏng vấn đăng trên tạp chí văn học The Paris Review cách đây khá lâu, nhà văn Nhật Hakuri Murakami có một phát biểu rất ý nhị, “Cái hay của việc viết văn là bạn có thể mơ trong lúc thực sự đang tỉnh táo.” Tôi thấy điều đó quá đúng, bởi nếu bạn không mơ mộng, không mơ ngày, không sống với  không-thời-gian của tưởng tượng bay bổng trong cõi huyền ảo, phi thực tại thì có lẽ bạn không nên chọn nghiệp văn. Đối với những người cầm bút như Murakami, viết tức là mơ, là mộng du trong chốn phi thực. Sự khác biệt với mộng du trong lúc ngủ là ý thức vẫn hiện hữu, mơ và thực bởi thế hòa quyện nhau, trí tưởng tượng vượt ra ngoài kiểm soát của lí trí. Nhờ đó, người viết không nhất thiết quan tâm nhiều đến cái giống thật, không phải bám sát sự thật để có thể dễ dàng mạo hiểm vào những cảnh giới mới của sáng tạo. Tôi đồ khi viết cuốn tiểu thuyết Những ghi chép trên tầng thứ 14 [Văn Học Press xuất bản, 2019] nhà văn Thận Nhiên của văn học Việt Nam hải ngoại cũng ở trong một tâm cảnh tương tự. Chính vì thế, mặc dù cuốn tiểu thuyết phản ánh khá nhiều đời sống thật của tác giả ngoài đời – khiến người đọc không ngớt thắc mắc phải chăng nhân vật chính diện ở ngôi thứ nhất ấy chính là tác giả – nhưng thật sai lầm nếu chúng ta xem đây là cuốn tiểu thuyết tự truyện, và càng sai lầm hơn nếu chúng ta đánh giá nó dưới góc độ hiện thực.
(more…)

Lê Lạc Giao

Thơ, chỉ một nỗi niềm
Dù cho bao cõi vẫn đời riêng
Như trong bóng xế, chiều nghiêng nắng
mùa cũ về, quay quắt nhớ thương…

Tôi thích thơ từ thuở bé. Kiều, Chinh phụ Ngâm, Cung oán ngâm khúc là những bài thơ dài đầu tiên mà tôi tập đọc từ lúc bắt đầu biết chữ. Đến khi trưởng thành, tôi khám phá ra âm điệu từng bài thơ theo thời gian đã vun đắp, nuôi nấng tình yêu thương trong tôi thêm bao la to lớn, và cũng chính nó biến thành thứ nợ tinh thần trong cuộc đời mình. Yêu thơ mà xem như nợ quả là một quan niệm khá tiêu cực! Nhưng tính gắn bó của thơ nôm na không phải là một thứ nợ hay sao? Trong gia đình tôi nhiều người biết làm thơ và tôi có một số bạn bè là thi sĩ. Tôi xin nói thêm chữ thi sĩ dùng ở đây chỉ người làm thơ mà không hàm ý làm thơ hay dở, nổi tiếng hay chỉ là kẻ tấp tểnh sự nghiệp văn chương. Chị em, các cháu tôi đều biết làm thơ từ thuở còn học tiểu học và cho đến hôm nay ai nấy đều có những bài thơ hay tập thơ đắc ý của riêng mình. Tôi cũng không loại trừ, nhưng tôi làm thơ rất ít và các bài thơ của tôi giá trị không kém thuốc chữa bệnh. Mỗi khi có chuyện đau buồn tôi lấy thơ ra đọc sau đó dường như cõi lòng nhẹ bớt nỗi đau thương, do đó thơ gắn bó đời tôi trên cả hai mặt vật lý và tinh thần. Tôi nói hơi nhiều về thơ cũng chỉ để giới thiệu với các bạn về một người bạn, người anh thi sĩ của tôi mà cõi thơ của anh ấy đã chi phối không ít nỗi niềm tình cảm riêng tôi. Đấy là cõi thơ thi sĩ Du Tử Lê qua tập thơ “em cho tôi mãi nhé: ấu thơ mình” mà tôi mới được anh tặng.
(more…)

Phan Tấn Hải

Nhà thơ Đỗ Nguyên Mai vừa ấn hành tập thơ cho ngày 30 tháng 4 năm 2019: Battlefield Blooming.

Tập thơ ấn hành cho ngày tưởng niệm 44 năm Miền Nam sụp đổ dày 60 trang, viết bằng Anh ngữ, vì bản thân nhà thơ Đỗ Nguyên Mai thuộc thế hệ trẻ tại Hoa Kỳ, trước giờ chỉ làm thơ tiếng Anh.

Thi tập do nhà xuất bản Sahtu Press ấn hành.

Tập thơ gồm 40 bài thơ, trong đó có bài dài hai trang — như bài “The Warrior’s Wife” trang 8-9 — và có bài ngắn chỉ 4 câu.

Tuy là rất kiệm chữ, nhưng nhiều bài thơ ngắn mang sức mạnh rất lớn, đặc biệt đối với   người Việt tỵ nạn (và có thể là xúc động cho tất cả những người tỵ nạn toàn cầu).

Thí dụ như bài thơ bốn dòng, trang 13 như sau:

THE REFUGEES

Bones washed
barren onto shores,

we smell of salt;
we open wounds

(more…)

T.Vấn

Tủ Sách Điện Tử T.Vấn & Bạn Hữu vừa cho ra mắt tác phẩm thứ 42: Một Chút Dối Già – Tập Bốn của nhà văn Ngộ Không Phí Ngọc Hùng. Tác phẩm này cũng là tác phẩm thứ tám của Ngộ Không (gồm 4 tập Một Chút Dối Già, 3 tập Chữ Nghĩa Làng Văn và Tập khảo luận Phiếm Sử Lược Truyện), tất cả đều được xuất bản dưới hình thức sách điện tử do Tủ Sách điện tử của Trang mạng văn học T.Vấn & Bạn Hữu thực hiện.

Trong số 8 tác phẩm nói trên, tác phẩm Một Chút Dối Già – tập Một được tác giả cho ra mắt độc giả và bằng hữu dưới dạng sách giấy trước khi cho tái bản bằng hình thức sách điện tử.

Ngộ Không Phí Ngọc Hùng đã bước vào tuổi 75. Năm năm trước, ở tuổi cổ lai hy, ông tưởng mình sắp về cõi, nên cố sức tom góp lại mớ gia tài chữ nghĩa, mong có một chút gì để dối già. Với đời, với bằng hữu. Năm năm sau, cái một chút ấy đã nhiều hơn một chút. Nhưng nhiều hay ít, cũng vẫn chỉ là để dối già.

Bài viết dưới đây, được viết từ góc độ một độc giả, một người bạn văn sát cánh bên ông từ nhiều năm nay, giúp chiếu rọi xem Ngộ Không dối già như thế nào với gần 5 ngàn trang sách mà ông gọi là Một Chút ấy.
(more…)

Phan Tấn Hải

Cảm giác đầu tiên khi đọc tác phẩm mới này của Đỗ Hồng Ngọc, có thể thấy rằng đây là những dòng chữ từ một người sắp ra đi… Chẳng phải sao, ngay trên tựa sách đã ghi là “Về thu xếp lại…” (VTXL).

Đúng là trong các tản văn có nói về tuổi già, về bệnh, về những người bạn đã ra đi – trong đó, ngay ở Lời Ngỏ là ghi lại hình ảnh tới thăm người bạn thân, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, tại phòng Săn sóc đặc biệt Bệnh viện Chợ Rẫy.

Tác giả Đỗ Hồng Ngọc, một bác sĩ về hưu và đang giữ thói quen Thiền tập hàng ngày, tự ghi lại hình ảnh của mình, trích:

“…Thấy những bạn trẻ… trên dưới bảy mươi mà “gato”! Mới vài năm thôi mà mọi thứ đảo ngược cả rồi. Bây giờ có vẻ như tôi đang lùi dần về lại tuổi ấu thơ, tuổi chập chững, tuổi nằm nôi…” (Lời Ngỏ, VTXL)
(more…)

Hồ Đình Nghiêm


Nhà thơ Luân Hoán

Gia đình tôi theo đạo (nếu có thể xem đó là đạo) thờ cúng ông bà. Góc khuất trong nhà, khuất nhưng cao ráo sạch sẽ nhất, đặt để một cái bàn khá lớn dùng chưng ảnh những người đã khuất núi, bày biện hoa quả lễ vật nhang đèn có màn che bên ngoài. Đã là nơi dùng làm chỗ thờ phụng thì tự khắc giang sơn nhỏ bé kia vẫn toát ra được chút trang nghiêm, ai bước tới thảy kính cẩn cúi đầu, vụng dại tỏ bày thành tâm, lâm râm chừng như muốn sám hối một điều gì.

Tôi nghĩ những ai thờ cúng ông bà, không nhiều thì ít, họ có hấp thụ đôi điều cơ bản về triết thuyết Phật giáo. Từ nhà họ đến chùa, lối đi ngắn hơn so với những kẻ vô thần. Nếu muốn chứng nghiệm nỗi đau để tìm cách giải thoát, chỉ bảy bước họ có thể chuyển đổi cảnh giới để làm Tỳ Khưu (Bhiksu), là người phát nguyện tu hành, xuất gia theo giới luật của Phật. Đắc đạo hay không lại là chuyện khác. Đổ thừa cho phận mỏng, chẳng có căn tu. Tôi nhớ Bùi Giáng có hai câu, lạm bàn sự lầm lạc nọ:

tôi về nhà cửa sương thâu
bước đi mà chẳng thấy đâu con đường.
(more…)

Song Thao

Trong bài tựa cuốn “Có Một Thời ở Quê Hương Tôi”, cuốn sách mới nhất của Phan Ni Tấn, tác giả Lê Hữu kể lại chuyện có lần hỏi Phan Ni Tấn: “Tay nhạc tay thơ, tay nào phải tay nào trái?”. Chàng cười cười trả lời: “Vợ cả vợ hai, vợ nào…cũng là vợ cả!”. Phan Ni Tấn vừa cưới thêm vợ ba. Đó là…văn xuôi.

Nói tới Phan Ni Tấn người ta chỉ biết anh đàn hát, thơ thẩn. Nay bỗng dưng anh…trở mặt in ra một cuốn mà anh gọi là “tập truyện”, dày ngót nghét 200 trang, gồm tới 36 bài viết. Ngoài một vài bài có thể gọi là “truyện”, tôi thấy phần lớn gần với “chuyện” hay “hồi ký rời” hơn. Dù gọi là gì chăng nữa thì đây là một cuốn sách rất hấp dẫn. Anh quả đã ghi thêm một nghề mới trong lý lịch văn học của anh. Thơ và nhạc của Phan Ni Tấn đã định hình vững chắc từ lâu qua 12 tác phẩm gồm sách và CD như hai cây nạng chống đỡ sự nghiệp sáng tác của anh. Nay anh thêm một cây gậy mới ra ràng để tạo thành thế chân vạc. Như ba cạnh của một hình tam giác. Không thể gọi là một tam giác cân được mà phải gọi là tam giác bằng với hai cạnh dài có một cạnh đáy ngắn hơn.
(more…)

Nguyễn Bảo Hưng

Xin thưa ngay rằng bài viết này là để giới thiệu bản dịch ra Pháp ngữ cuốn Mùa hè đỏ lửa của Phan Nhật Nam. Bản dịch do Liễu Trương thực hiện với tựa đề Un été embrasé được nhà xuất bản L’Harmattan phát hành và xếp ngay vào bộ Mémoires du XXème siècle. Đọc tới đây, chắc có người đã thầm nhủ: « Ôi dào! Tưởng cái gì mới lạ, chứ Mùa hè đỏ lửa ai mà chẳng biết tỏng tự hồi nảo tới giờ. Vậy mà cũng bày đặt đem ra giới thiệu; mà lại trịnh trọng giới thiệu một bản dịch cơ chứ. Nỡm chưa. Rõ thật là chán mớ đời ». Nghĩ vậy kể cũng đúng thôi. Chính vì có phần nào đúng mới lại xin thưa thêm rằng tựa sách Un été embrasé không phải là cho quí bác quí chú đâu, những bậc đàn anh đã trưởng thành trong khói lửa của thập niên 70 thế kỷ trước. Giờ này quí bác, quí chú đều ngấp nghé tuổi cập kê thấp tuần, bát tuần cả rồi nên tóc đã ngả màu muối tiêu, đầu óc bắt đầu sền sệt, còn cặp mắt hơi kèm nhèm cũng chỉ nhìn ra chữ nghĩa của một vài khẩu hiệu đấu tranh quen thuộc qua đôi mắt kiếng ngày càng mờ đục với thời gian. Bản dịch ra Pháp ngữ, do đó, là dành cho các thế hệ con cháu quí vị kia đấy, lớp người đã phải theo ông bà, cha mẹ rời bỏ quê hương khi còn nhỏ, hoặc được sinh ra nơi xứ người. Sống lâu năm nơi đất khách, thành phần thuộc thế hệ thứ hai, thứ ba này không còn quen sử dụng tiếng mẹ đẻ và cũng chỉ có những hiểu biết mơ hồ về quê hương xứ sở, về các biến cố khiến ông bà, cha mẹ đã phải bỏ đất nước ra đi. Với lớp người thuộc các thế hệ sau này, được sống trong môi trường sinh hoạt tự do với tinh thần tìm hiểu khách quan hơn, bản dịch Mùa hè đỏ lửa sẽ là một tài liệu hữu ích, như lời người dịch khi thông báo, giúp họ được « hiểu biết thêm về cái thời khói lửa đau thương, để nhớ ơn những người đã nằm xuống và càng yêu thương đất nước hơn ».
(more…)

Nguyễn Mạnh Trinh

Một thiên tự truyện. Một thời chiến chinh. Một thế hệ trai trẻ trong một thời đại đầy biến cố. Thân phận của những người Việt Nam trong một đất nước điêu linh. Những chuyện tình trong thời chiến của dang dở nửa vời, của những chia ly bất ngờ không định trước. Tất cả những sự kiện ấy người đọc đã nhận thấy, đã chia sẻ, khi đọc “Chút thân phận trên dòng chiến” của tác giả Nguyễn Liên Lực. Có người đã bâng khuâng tự hỏi. Chuyện của người hay chuyện của mình? Sao có lúc giống như đang đọc thiên tự truyện của chính bản thân?

Tôi đọc tự truyện của một người lính biệt kích, tưởng sẽ gặp chân dung một người lính chiến với những đoạn đường chiến binh trên con đường binh lửa. Nhưng, ý nghĩ ấy lại đổi khác đi để tôi nhìn thấy một chân dung nhân bản của một người Việt Nam cầm súng để tự vệ nhưng không một chút hận thù. Ở nơi đâu và bất cứ chỗ nào, và ở trong bất cứ hoàn cảnh nào, người lính ấy vượt qua những nghich cảnh để sống còn. Thế hệ chúng tôi qua những ngõ đường lịch sử đã tạo sự chung mang thời đại.
(more…)