Archive for the ‘Bút Đàm / Phỏng Vấn’ Category

Tom Glenn
Trịnh Bình An chuyển ngữ bài phỏng vấn Author Q&A: George J. Veith.

LỜI GIỚI THIỆU: Tháng Tư 1975, khi Tom Glenn một cựu nhân viên mật vụ rời khỏi Việt Nam thì George J. Veith chỉ mới tốt nghiệp trung học Hoa Kỳ. Khi “Jay” Veith rời quân ngũ với cấp bậc Đại Úy binh chủng Thiết Giáp đóng quân tại Đức thì Tom Glenn giành nhiều thì giờ với những bệnh nhân AIDS vì đó là cách giúp ông quên đi những ám ảnh đớn đau từ Việt Nam. Một người già, một người trẻ, cách nhau cả một thế hệ nhưng cả hai có cùng một điểm chung: Việt Nam.

Đối với Tom đó là mảnh đất ông đã để lại một phần thân thể – tai ông bị điếc vì tiếng bom nổ. Đối với Jay đó là mảnh đất chưa bao giờ đặt chân tới nhưng chất chứa quá nhiều thứ bị che dấu. Sau nhiều năm ròng rã tìm hiểu, Jay đã khám phá ra nhiều điều đáng kinh ngạc. Những sự thật lịch sử trong 2 năm cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa được ông trưng ra trong tác phẩm dày trên 600 trang: Black April: The Fall of South Vietnam, 1973-1975Tháng Tư Đen: Những Ngày Tháng Cuối Cùng Của Miền Nam Việt Nam, 1973-1975.

Dưới đây, là cuộc phỏng vấn tác giả “Black April” – George J. Veith được thực hiện bởi tác giả “Last of The Annamese” – Tom Glenn, Trịnh Bình An lược dịch.
(more…)

Hồ Đình Nghiêm


Nhà thơ Trần Mộng Tú

Tôi gặp chị lần đầu tiên vào tháng 10 năm 1987, gặp ở “Trăng Đất Khách”. Chị là tác giả bài thơ Trăng Đất Khách, được Làng Văn Magazine chọn làm nhan tuyển tập “Các Cây Bút Nữ Hải Ngoại” bao gồm 18 người với bề dày lên tới 352 trang. Trong tuyển tập ấy, riêng chị đóng góp 7 bài thơ và 1 bài được Phan Ni Tấn phổ thành ca khúc. Từ 1987 cho đến nay tôi vẫn chưa có cơ hội được gặp chị ngoài đời, chỉ nhìn bóng dáng chị ẩn hiện trên các trang giấy, lẩn trốn trong các dòng chữ; theo tôi là quá đỗi mượt mà, quá đỗi trong sáng… những yếu tố tiên khởi làm nên sức quyến rũ đọc giả được hình thành từ một ngòi bút tài hoa. Mới đây, lòng tôi lại thổn thức khi đọc phải bài bút ký của chị thuật lại chuyến đi “hành hương” về Mã Lai, quanh các trại tỵ nạn cũ từng lưu dấu vết của thuyền nhân Việt Nam để thắp hương cho các linh hồn xấu số. Không cầm được lòng, tôi đã viết lá thư ngắn gửi đến chị để bày tỏ lòng biết ơn. Nghĩa cử của chị khiến một đứa vượt biển may mắn như tôi phải xót xa, thầm tri ân.

Tôi yêu câu thơ của Hoàng Trúc Ly (?):

“đời lê thê quá tôi về muộn
em ngủ một mình đêm gió mưa”.

Cuộc sống tôi rất “lê thê”, muốn đi thăm hỏi những người mình mến chuộng thì luôn bị “gió mưa” làm khó. Chị là người tôi mến chuộng. Ở xa, tôi chỉ còn biết duy một cách là thực hiện cuộc trò chuyện này.

Thưa các bạn, chữ “chị” mà tôi dùng ở trên không ai khác là nhà thơ Trần Mộng Tú. Tôi mong chị Trần Mộng Tú thuận lòng khi đột ngột bị quấy rầy. Tôi hy vọng qua tâm sự chị trao đổi, tôi sẽ thấy vơi nhẹ bớt “đời lê thê”.
(more…)

Phạm Thị Hoài

Cuộc trò chuyện này được thực hiện qua thư điện tử, với nhà bất đồng chính kiến Phạm Hồng Sơn, người từng bị chính quyền Việt Nam kết án 13 năm tù, sau giảm thành 5 năm tù và 3 năm quản thúc, nay sống tại Paris, Pháp.


BS Phạm Hồng Sơn

Phạm Thị Hoài: Thưa anh Phạm Hồng Sơn, anh sống ở Paris vừa tròn một năm. Vì sao có cuộc ra đi này?

Phạm Hồng Sơn: Trước khi vào tù năm 2002 tôi có khoảng gần một tháng cảm nhận gần hơn với nhà tù và có khoảng gần hai năm thích thú làm quen với cảm giác phiêu lưu đi vào một con đường “đặc biệt”. Nhưng với việc rời khỏi Việt Nam vừa rồi, tôi có khoảng một tuần để đi đến quyết định dứt khoát trước một biến cố chưa bao giờ nghĩ tới. Hai con tôi đều được học bổng Excellence-Major của chính phủ Pháp và đã rời Việt Nam đi du học, đây là điều may mắn nhưng phần nào đã được trông đợi. Ít lâu sau vợ tôi lại có quyết định di chuyển từ văn phòng đại diện khu vực tại Hà Nội sang làm việc ngay tại trụ sở chính tại Paris. Sự kiện này quá bất ngờ đối với tôi. Nhưng tôi xét thấy mình không thể không ủng hộ một cơ hội như thế cho sự nghiệp của một người đã hy sinh cho tôi quá nhiều.
(more…)

Nguyễn Mạnh Trinh | Nhã Lan

Nguyễn Mạnh Trinh (NMT): Hôm nay thời tiết đã vào mùa đông và lòng người cũng như ảnh hưởng theo. Chúng ta lại có thêm một Giáng Sinh ở xứ người và hình như bất cứ ai trong chúng ta đều có những nỗi niềm riêng tư, những kỷ niệm không quên về thời điểm ấy. Từ quê nhà sang đến xứ người, trong tâm tư dồn chứa bao nhiêu điều tích lũy, có khi muốn nói mà chưa diễn tả hết. Cũng may, chúng ta còn có những nhạc sĩ, nhà văn, nhà thơ, cảm chung nỗi niềm và dùng nốt nhạc, câu thơ, lời văn để chia sẻ với chúng ta. Những lần trước, chúng tôi trong mục Tản Mạn Văn Học đã nói về những dòng nhạc, những bài thơ, những truyện ngắn và tác giả của nó qua chủ đề Giáng Sinh. Thật khó mà lột tả hết được những tâm tư của người Việt Nam xa xứ, với tấm lòng sùng kính tin tưởng vào những đấng tối cao luôn che chở bảo bọc con người vượt qua được những chông gai hiểm trở của dòng đời. Qua văn chương, tôn giáo không những chỉ có sự cứu rỗi mà còn có tính thiết thực của niềm tin khi con người nhiều khi lâm vào cảnh cùng đường tận lối. Mà, với dân tộc Việt Nam và thời thế Việt Nam thì chuyện đối diện với hiểm họa nguy nan là chuyện bình thường của một đất nước chiến tranh và một thời thế xoay chuyển đến tận cùng cuộc sống.
(more…)

Từ Thức

Hỏi: Thưa bà Tổng Giám Đốc, bà nghĩ gì về câu của một đỉnh cao trí tuệ, tuyên bố ngành trà đá có tỉ số lợi nhuận cao nhất thế giới?

Đáp: Thằng đó ăn nói vung vít, sẽ gây khó khăn cho kỹ nghệ trà đá VN, cho kinh tế quốc gia. Các hãng cạnh tranh ngoại quốc như Coca Cola, Pepsi, sẽ nhẩy vào thị trường.

Hỏi: Anh ta nói mặc dầu vậy, các bà không đóng thuế.

Đáp: Tiên sư nó. Hãy hỏi công an vỉa hè xem chúng tôi đóng thuế tới mức nào. Chúng nó lượn qua lượn lại, không đóng thuế mà yên với chúng.

Hỏi: Đó là thuế gián tiếp, thuế không chính thức.

Đáp: Đừng bắt chước mấy thằng lãnh đạo, ăn nói ngớ ngẩn. Ở xứ này, cái gì là chính thức, cái gì là bán chính thức. Cái gì là công, cái gì là tư?
(more…)

BBC | Nhã Ca


Nhà văn Nhã Ca

Sau trận Tết Mậu Thân, phía Mỹ và Việt Nam Cộng hòa chiếm lại được một thành Huế tan hoang.

Bên cạnh việc dọn dẹp, tái thiết thành phố, những hố chôn người tập thể dần dần được phát hiện.

Trong số những tin tức, tường thuật, phóng sự, ghi chép được đăng tải ở miền Nam Việt Nam về ‘thảm sát ở Huế’ khi đó, bút k‎ý Giải Khăn Sô Cho Huế của Nhã Ca đã gây choáng váng dư luận. Một phần của sách sau này được dựng thành phim “Đất Khổ”, với Trịnh Công Sơn vào vai chính, người con nhạc sĩ Huế.

Tác giả cuốn sách nói bà đã có mặt tại cố đô trong những ngày Tết Mậu Thân, tận mắt chứng kiến và trực tiếp nói chuyện với các nhân chứng về cuộc giao tranh, về các cuộc bắt bớ, về những nấm mồ tập thể…

Cuốn sách bị cấm lưu hành tại Việt Nam sau khi Sài Gòn sụp đổ. Tác giả cùng chồng bị bắt giam, nhà cửa tài sản bị tịch thu. Là cây bút nữ duy nhất trong số cả trăm nhà văn nhà báo Saigon bị cầm tù, 14 tháng sau bà được phóng thích cùng 21 đồng nghiệp.

Nhân 50 năm trận chiến 1968, BBC phỏng vấn nhà văn miền Nam, người đã trực tiếp sống và viết với Huế Tết Mậu Thân.
(more…)

Hồ Đình Nghiêm thưa chuyện cùng nhà văn Võ Kỳ Điền


Nhà văn Võ Kỳ Điền

Hồ Đình Nghiêm (HĐN): Mến chào anh Võ Kỳ Điền. Đầu tiên xin được chia vui, niềm vui khi nhà văn vừa in xong tác phẩm mới. Bấy chầy sức khỏe anh ra sao? Có sung như khi trải lòng bằng chữ viết?

Võ Kỳ Điền (VKĐ): Cám ơn Nghiêm đã hỏi thăm. Tới tuổi nầy hình như anh đã già. Anh chỉ nói là hình như thôi nghe, tuy vậy trong bụng cứ nghĩ mình còn trẻ măng. Anh em mình có một cái sướng là khi nào muốn già thì già mà muốn trẻ thì cứ tha hồ cho trái tim đập nhịp phơi phới như lúc mười tám vậy đó. Thời gian của anh bây giờ hết để dành cho nhà thuốc đến nhà thương, rồi sẽ có một ngày không xa đến nhà dưỡng lão… Nhưng càng không đi ra ngoài nhiều như xưa thì lại gần gũi tới bàn viết, hết đọc cái nầy thì viết cái kia, không viết được chữ nào thì giấy nó trách mực nó buồn, nhờ vậy mà có lại niềm vui của mấy chục năm về trước. Đã lỡ vướng vào cái nghiệp văn chương bút mực dù ít dù nhiều rồi, làm sao mà đành lòng không liếc ngang liếc dọc trở lại cho được, phải không Nghiêm?
(more…)

Tuấn Khanh


Luật sư Võ An Đôn

Trò chuyện với luật sư Võ An Đôn, những ngày cuối năm 2017

Đây không phải là một cuộc phỏng vấn. Bởi một cuộc phỏng vấn thì tôi sẽ phải chọn lựa cách nói, xoay trở cách trình bày cho chỉn chu.

Nhưng nếu như vậy, thì sẽ không thể mô tả được một tính cách của Đôn. Tính cách đã đem lại cho anh sự thương mến từ rất nhiều người, cũng như sự ghét bỏ từ không ít người.

Tôi giữ nguyên cách xưng hô của Đôn, như một người anh em. Nhưng đó không phải là riêng với mối quan hệ quen biết với tôi, mà hầu hết các cuộc phỏng vấn của VOA, BBC, RFA, SBS… Đôn vẫn luôn xưng hô như vậy: nhũn nhặn và gần gũi.

Đôn có biệt hiệu là “luật sư chăn bò” – một cách gọi mà các đồng nghiệp một thời không kìm nổi sự tức giận đã thốt lên như vậy. Nhưng Đôn đón nhận hình ảnh đó một cách tự nhiên như một phần đời của mình. Trong cuộc nói chuyện với Đôn, tiếng gà kêu, tiếng trẻ con nghêu ngao… vẽ cho tôi một bức tranh về cuộc sống của Đôn. Anh bước ra từ bùn đất quê nhà, và khi phải quay lại, thì anh đón nhận mọi thứ thật an nhiên.

Tôi chọn luật sư Võ An Đôn làm người trò chuyện để khép lại một năm đầy biến động. Một năm mà người làm nghề tìm công lý cho kẻ khác, đã không thể nhìn thấy ngay trên số phận của mình.
(more…)

Nguyễn Mạnh TrinhNhã Lan


Tranh của Trần Thanh Châu

PHẦN II

Nhã Lan: Thân ái chào tái ngộ Lưu Na

Lưu Na: Xin chào tái ngộ

Nguyễn Mạnh Trinh: Tôi đọc trong Lênh Đênh thấy Lưu Na trách móc lớp đàn anh đàn chị đã bỏ rơi mình thì tôi thấy lạ quá, vì chính chúng tôi cũng bị bỏ rơi, chúng tôi cũng là nạn nhân chứ đâu chủ động để bỏ rơi người khác. Như vậy tại sao LN lại có ý nghĩ là lớp đàn anh đàn chị bỏ rơi lớp trẻ… () Có thể tôi đọc bị hiểu lầm bị nhiễu xạ, xin cô giải thích.

Lưu Na: Cho em nói như vầy, khi anh NMT nói lớp đàn anh thì em hiểu anh NMT muốn nói tới lớp sinh viên đi trước và những người quân nhân. Rõ ràng sinh viên và quân nhân là lứa đàn anh; sinh viên thì em không có ý kiến vì em không biết nhiều, bây giờ nói đến lớp quân nhân là lớp ảnh hưởng trực tiếp và nhiều nhất đến LN, thì gia đình LN cũng có người tử trận, và cũng có người lính – cũng phải ở tù. (Như vậy), trước tiên là gia đình LN cũng có lính nên Na không có lý do gì oán trách người lính. Bây giờ nghĩ chung về một thế hệ thì Na thấy, những người quân nhân những người lính cũ họ muốn hay không thì vì cuộc chiến họ đều phải tham dự. Tham dự, nếu không mất mạng thì cũng mất tuối trẻ, bây giờ cuộc chiến tàn họ phải vào tù mà những người không vào tù – ở bên ngoài trốn chui trốn nhủi sống rất là bấp bênh, đói khổ, thảm thiết lắm. Những trường hợp như vậy mình thương không hết, không có lý do gì để giận. Nhưng tuổi đời càng lớn càng nghĩ đến những mất mát của họ, nói cho cùng LN nghĩ mình nợ những người lính đó một mạng sống một cuộc đời, và LN tin không phải chỉ mình LN mà rất nhiều người cũng nghĩ như vậy. Họ đã hy sinh đã mất mát rất, rất nhiều, chịu đau khổ rất nhiều, Na không có lý do gì oán trách họ. Thành ra, nếu trong Lênh Đênh có nhắc một điều gì đó để gây hiểu lầm thì nơi đây nhờ anh Trinh hỏi Na có dịp để nói: không có chuyện đó.
(more…)

Nguyễn Mạnh TrinhNhã Lan


Tranh của Trần Thanh Châu

Nguyễn Mạnh Trinh: Trong văn học Việt Nam hải ngoại, một đề tài được chú ý nhất không phải với người Việt riêng thôi mà còn cả với người bản xứ là tiến trình hội nhập của người Việt tị nạn. Ở văn chương Hoa Kỳ tác phẩm của những người di dân là một phần tiêu biểu thí dụ như những tác phẩm của Monique Truong, của Aimee Phan, của Nguyễn Minh Bích, của Lan Cao, củaKim Thúy, của Nguyễn Thanh Việt… ở Pháp thì Linda Le, Trần Huy Minh…Đó là những tác giả có tác phẩm viết bằng Anh ngữ hay Pháp ngữ.

Tình cờ, chúng tôi đọc một tác phẩm mới của một nhà văn nữ cũng rất mới bằng Việt ngữ. Đó là tác phẩm Lênh Đênh của tác giả Lưu Na. Tôi cũng là một người tị nạn nên khi đọc những trang sách trong truyện của Lưu Na như thấy lại những chuỗi ngày đã qua của đời lưu lạc với những nhân vật mà nét hiện thực đời sống tỏ lộ hết sức rõ ràng. Lưu Na không chỉ là người kể truyện mà còn là một chứng nhân của những cuộc đổi dời mà thời thế như những trận cuồng phong cuốn xoay mọi người miền Nam vào những cơn bão tố khủng khiếp.
(more…)

Nguyễn Thị Hải Hà

VỀ ĐỌC VÀ VIẾT

NTHH: Anh lấy ý tưởng từ đâu để viết?

LQ: Tôi thường lấy ý tưởng từ cuộc sống. Cuộc sống, nhất là trong thời kỳ chiến tranh có nhiều tình huống bất ngờ, và đôi khi bi thảm ngoài sức tưởng tượng của con người.

NTHH: Hiện nay anh đang đọc gì, viết gì?

LQ: Tôi đang đọc sách Phật Giáo. Đức Phật là vị thầy vĩ đại nhất, theo tôi. Tư tưởng của ngài bao gồm hầu hết tham sân si của cuộc đời, và tìm ra lối thoát, sự giải quyết cho chúng sinh. Về chuyện viết, tôi cố gắng tránh lặp lại điều đã viết trong những tác phẩm trước.
(more…)

Hồ Đình Nghiêm


Nguyễn Xuân Thiệp
dinhcuong

Tựa ở trên, tôi vay mượn từ thi tập từng gây tiếng vang “Tôi Cùng Gió Mùa” của nhà thơ Nguyễn Xuân Thiệp. Trước tiên cho tôi được bày tỏ đôi điều: Anh tôi, trung tá bị bắt đi học tập cải tạo tận ngoài Bắc. Giống các cựu quân nhân khác, anh sang Mỹ nhưng chọn sống ở một thành phố nhỏ, ít đồng hương, thầm lặng. Biết em mình có viết văn, anh cho hay nhà thơ Nguyễn Xuân Thiệp từng là bạn học chung lớp đệ Tam ở trường Quốc Học, Huế. Kể điều này ra chỉ để xác nhận, với tôi nhà thơ Nguyễn Xuân Thiệp đúng nghĩa là một người anh. Thơ anh làm từ dạo tôi còn là một cậu bé khờ khạo.

“những câu thơ anh viết
dài theo đường chim bay
cũng là bông tường vi
sáng nào em đã hái”

Lớn lên tôi vẫn đi sau lưng anh, mơ có lần được hái nụ tường vi. Tôi biết anh không mấy thích trả lời những cuộc phỏng vấn. Vậy thì chỉ xin hiểu cho những “tâm sự” được ghi lại dưới đây thuần là buổi chuyện trò bình thường giữa hai anh em chúng tôi. Nếu có sai sót xin anh Nguyễn Xuân Thiệp vị tình và các độc giả khoan thứ.
(more…)

Hồ Đình Nghiêm


Nhà văn Nguyễn Thị Thảo An

Những năm đầu thập niên 80, xuất hiện một đội ngũ đông đảo người cầm viết. Họ đóng góp và làm giàu cho giòng văn học hải ngoại. Khởi sắc, hung phấn. Như tất cả các tạp chí văn chương (báo giấy) thời điểm đó, chủ nhiệm nguyệt san Văn, nhà văn Mai Thảo hằng tháng vẫn giới thiệu “Những Người Viết Mới”, kỳ vọng và gọi tên: Họ là một nhịp cầu tiếp nối không làm gián đoạn sự tốt đẹp của nền văn học miền Nam vừa bị bức tử.

Nhà văn Nguyễn Thị Thảo An là một khuôn mặt mới, là một trong các “gạch nối” đầy lạc quan kia. Tôi không rõ nhịp cầu ngày nọ vẫn còn đó hay đã gãy nhịp theo giòng chảy ơ hờ của thời gian phủ lấp. Mấy mươi năm sau “hai người viết mới” tìm ra nhau, nói theo cách của Hoài Khanh: “Ta ngồi lại bên cầu thương dĩ vãng, nghe giữa hồn cây cỏ mọc hoang vu”.
(more…)

Phạm Cao Hoàng thực hiện


Trần Hoài Thư
Photo by Phạm Cao Hoàng – New Jersey, 7 tháng 5.2017

Gần 20 năm qua, trong sinh hoạt văn học nghệ thuật của người Việt ở hải ngoại, Trần Hoài Thư là cái tên được nhiều người nhắc đến, là nhà văn/nhà thơ được nhiều người yêu mến vì công lao của ông trong việc sưu tầm và xuất bản các tác phẩm văn học miền nam 1954-1975. Bằng số tiền lương hưu ít ỏi, với sự hỗ trợ của những người có lòng với văn học miền nam, từ năm 2000, Trần Hoài Thư cùng người bạn đời Nguyễn Ngọc Yến mua máy in, thành lập nhà xuất bản Thư Ấn Quán và tạp chí Thư Quán Bản Thảo. Cho đến nay, phần lớn các tạp chí văn học dạng báo giấy ở Mỹ đã đóng cửa nhưng Thư Quán Bản Thảo vẫn tồn tại và đã phát hành đến số 75. Tủ sách DI SẢN VĂN CHƯƠNG MIỀN NAM của nhà xuất bản Thư Ấn Quán đã sưu tầm và in lại hàng trăm tác phẩm giá trị, đáng kể nhất là bộ THƠ MIỀN NAM gồm 5 tập với tổng cộng khoảng 3500 trang và bộ VĂN MIỀN NAM 4 tập với tổng cộng khoảng 2400 trang. Công việc của hai vợ chồng ngày càng có kết quả thì chuyện không may đã xảy ra cho chị Yến: tháng 1 năm 2013 một cơn tai biến (stroke) đã làm chị ngã gục, từ đó đến nay chị chỉ nằm một chỗ, không ngồi dậy được, mọi sinh hoạt cá nhân phải nhờ vào nhân viên trong nursing home và Trần Hoài Thư. Bất chấp những khó khăn, những bất hạnh đang phải chịu đựng, hiện nay Trần Hoài Thư vẫn thực hiện việc in ấn tạp chí Thư Quán Bản Thảo và tủ sách Di Sản Văn Chương Miền Nam.

Bài phỏng vấn này nhằm cung cấp cho bạn đọc những thông tin căn bản và chính xác về một nhà văn/nhà thơ rất đặc biệt: Trần Hoài Thư. (Phạm Cao Hoàng)
(more…)

Hương Kiều Loan thực hiện


Nhạc sĩ Vũ Đức Nghiêm (1930-2017)

Trong một khu vườn trăm hoa đua nở, thông thường những bông hoa sặc sỡ, hương thơm ngào ngạt hoặc có một kích thước dễ được nhìn thấy, thường được tự phô bầy ngay trước mắt khiến mọi người có thể nhận thức được ngay khi mới bước vào vườn hoa. Còn có những loài hoa với hương thơm nhẹ diụ quyến rũ và với những mầu sắc hài hoà thanh nhã, tuy đã hiện hữu cùng với những loài hoa khác, nhưng loài hoa hiếm quí này không dễ gì mà thấy chúng dễ dàng được. Trong vườn hoa âm nhạc, Vũ Đức Nghiêm là một trong những loài hoa hiếm quí ấy. Nhạc cuả ông thanh nhã, tiết điệu rất tuyêt vời, không quá cầu kỳ để trở thành diêm dúa lố bịch, nhưng cũng không giản dị mộc mạc thái quá để dễ bị đồng hoá với hình ảnh của người “nhà quê đi guốc mộc”.
(more…)

Hồ Đình Nghiêm


Nhạc sĩ Phan Ni Tấn

Ở Canada, hầu như tỉnh bang nào cũng có văn thi sĩ người Việt cư ngụ. Toronto là thành phố lớn, “đất lành chim đậu” và dĩ nhiên khi hót đã tạo ra một cung bậc khác thường. Xin thứ lỗi cho tôi nếu ví những văn nghệ sĩ là giống chim lạ. Tôi tin người mang tên Phan Ni Tấn ND sẽ rộng lòng chín bỏ làm mười khi nghe tôi hót tiếng trầm đục.

Hồ Đình Nghiêm (HĐN): Thưa anh Phan Ni Tấn, tôi nhớ những năm xưa khi anh vui chân tạt về Montréal thăm thú, anh có mập ra và “tóc phai mấy mùa”. Sức khoẻ anh độ rày thế nào, thưa anh?

Phan Ni Tấn (PNT): Cám ơn Hồ Đình Nghiêm. Tuy “tóc phai mấy mùa”, nhưng sức khỏe thì… “xanh tóc”.
(more…)

Hồ Đình Nghiêm


Thi sĩ Luân Hoán (2013)

Hồ Đình Nghiêm (HĐN): Thưa anh Luân Hoán, tôi biết anh luôn kiệm lời, thích cười chứ chẳng nói mấy khi. Nhưng mà nghĩ tình đứa chung khóm cùng phường, anh thử cười và gõ giúp tôi đôi hàng. Vị tình nhé? Cả nể nhé? Thì thôi không nói cũng kì, đôi lời ít chữ tại vì chú mi.

Luân Hoán (LH): Không có ít nói đâu; chỉ nói đâu sai đó nên giữ đúng tinh thần câu “im lặng là vàng”. Vàng này mợ gì có chức lớn trong nước có ý là “là đương nhiên” bây chừ đó khó lấy được. Sẵn sàng nhưng tùy nghi theo vấn hạch của bạn. Bắt đầu đi.

HĐN: Loạt thơ “Mỗi Ngày Một Ảnh Người Quen” anh đang bỏ công vun đầy là một ý tưởng hay, cảm động. Vừa tri ân, vừa gợi nhớ, vừa tưởng tiếc… những người vừa đi khuất. Anh quen biết nhiều nhân vật, anh ưu tiên dành lòng ưu ái cho mấy vị vắng mặt rồi mới tới phiên những kẻ còn tại thế?

LH: Trước đây khi vẽ bạn bè (Tâm Chân Dung), tôi chỉ chọn những bạn còn cùng thở, để nhắc nhở lại kỷ niệm; đó là muốn tránh trường hợp hiểu lầm có phóng đại. Với trò mới này, thật tình tôi chỉ muốn khoe ảnh mình chụp với người quen thôi; nhưng sau đó nghĩ lại lòng Facebook vốn rộng rãi, nên viết được gì thì thêm vào. Đã thế sao không thêm những bài đã viết có liên quan ? biết đâu bà con, người quen biết của “nhân ảnh” cũng muốn đọc cho biết, thế nên trở nên rườm rà.
(more…)

Ngô Thế Vinh


Nhà văn Phùng Nguyễn
[photo by Ngô Thế Vinh 05.2015]

Phùng Nguyễn sinh năm 1950, mất ngày 17 tháng 11 năm 2015. Bàng hoàng với cái chết đột ngột của Phùng Nguyễn ở cái tuổi đang sung mãn nhất về sinh hoạt trí tuệ và sáng tạo, tôi đã viết bài tưởng niệm “Phùng Nguyễn, Như Chưa Hề Giã Biệt” (1), nay nhớ tới Anh, có dịp đọc lại bài viết, mới nhận ra là còn nợ Anh “Ba Câu Hỏi”, mang món nợ ấy cũng đã hai năm, nay là lúc tôi phải trang trải, và cũng là thay cho nén nhang tưởng nhớ Phùng Nguyễn. (Ngô Thế Vinh)

1. Sông Mê Kông, mối tình lớn

Phùng Nguyễn: Sẽ không xa lắm với sự thật nếu cho rằng ai cũng có một mối tình lớn. Nhà văn Ngô Thế Vinh cũng không ngoại lệ. Người tình của nhà văn đến từ một vùng hẻo lánh của cao nguyên Tây Tạng (Tibetan plateau) với một độ cao hơn 5000 mét tính từ mặt biển. Bắt đầu bằng những bước dò dẫm từ vùng núi non thuộc tỉnh Thanh Hải, nàng lượn lờ suốt chiều dài tỉnh Vân Nam miền Nam Trung Quốc trước khi lần lượt băng qua biên giới các quốc gia Miến Điện, Lào, Thái Lan, Cambodia, và cuối cùng Việt Nam, nơi nàng kết thúc cuộc hành trình dài hơn 4800 km và hòa nhập vào Biển Đông ở các cửa Sông Tiền và Sông Hậu. Nàng được gọi bằng nhiều cái tên, Dza Chu, Lan Thương, Mea Nam Khong, Tonglé Thom, Cửu Long… Tuy nhiên nàng được biết đến nhiều nhất dưới cái tên Mekong.
(more…)

Trangđài Glassey-Trầnguyễn thực hiện & hiệu đính

tran_chuc
Nhạc trưởng Trần Chúc

Lời ban biên tập: Nhân dịp Ban Hợp Xướng Magnifica thực hiện chương trình thánh nhạc “Chúa là Tình Yêu,” chúng tôi hân hạnh giới thiệu cuộc phỏng vấn do Trangđài thực hiện với Nhạc trưởng Trần Chúc. Nhạc trưởng Trần Chúc tốt nghiệp Cử nhân Văn Chương Pháp tại Viện Đại Học Saigon, tốt nghiệp Cao học Điện Toán tại Hoa Kỳ sau 1975 nhưng đam mê âm nhạc, nhất là hát hợp ca. Ông tự học hát, điều khiển ca đoàn, hoà âm và phối khí. Ông đã trình diễn nhiều bài hát nghệ thuật với giọng tenor và là nhạc trưởng trong nhiều chương trình âm nhạc giá trị ở Việt Nam cũng như ở Mỹ. Ông điều khiển Ca đoàn Trùng Dương (1973-1975) và Ca đoàn Nhà thờ Đức Bà (1970-1972) tại Saigon. Từ 1989-2004, ông là Nhạc trưởng và Thành viên Sáng lập của Ban Hợp Xướng Ngàn Khơi, và đã hoà âm cho hợp ca nhiều giọng cũng như dàn nhạc đại hoà tấu nhiều bài hát Việt Nam do Ngàn Khơi trình diễn. Từ 2005 đến nay, ông là Nhạc trưởng và Đồng Sáng Lập Viên của Magnifica Chorale. Từ 2015 đến nay, ông cũng là Nhạc trưởng Ban Hợp Xướng Viện Việt Học (https://tranchuc.wordpress.com/).
(more…)

Nguyễn thị Thanh Bình nhận định & thực hiện với Trần Doãn Nho, Đặng Phùng QuânHồ Đình Nghiêm

30_4_1975_cuoc_doi_doi

  1. Sau hơn 20 năm dòng sông Bến Hải ngăn cách chia đôi, và người Việt chúng ta trải qua cuộc nội chiến bắn giết nhau huynh đệ tương tàn, bây giờ nhìn lại ngày 30/4/1975, anh còn nhớ tâm cảm và hình ảnh đậm đặc nào in sâu trong lòng mình nhất? Khi ở Miền Nam lúc ấy, thành phố bấn động xé nát bởi những tiếng gầm rú của chiến xa, khói súng. Với Bắc Việt vẫn được tiếng là đội quân hiếu chiến, giỏi thói xiềng chân cố thủ, và quân đội rầm rầm hung hãn xe tăng thiết giáp, súng ống đâm sập cổng Dinh Độc Lập, nơi có vị Tổng Thống 48 giờ Dương Văn Minh và nội các đã chờ sẵn để “bàn giao lịch sử”, vì cố tránh cho Sài Gòn những cuộc đổ máu không cần thiết. Trong trường hợp xem ra hàng phục thay vì “trung lập” này, kẻ chiến thắng tha hồ hống hách nhìn kẻ chiến bại như chẳng có gì, còn gì để nói chuyện “bàn giao”, ngoài thái độ hả hê mở khóa 16 tấn vàng quốc gia để rồi mang đi cống nộp cho quốc tế C.S. Liên Xô lúc bấy giờ. Cũng từ phút giây ấy, Cộng quân “triệt hạ”, vứt bỏ trước tiên lá Cờ Vàng VNCH, vinh danh và dựng ngay lá Cờ Đỏ Phúc Kiến trên toàn bộ nóc nhà ủ dột của dân tộc VN. Và như thế, liệu khi dùng bạo lực vũ trang xâm chiếm Miền Nam với mục đích “đi cứu nước”, “giải phóng Nam Miền Nam”, và “thống nhất đất nước”, vào thời điểm ấy liệu lính Bắc Việt có thấy một và chỉ một người lính Mỹ nào còn lai vãng? Và sau 41 năm “Đánh cho Mỹ cút Ngụy nhào” và “Ta đánh đây là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc…” như Lê Duẩn thú nhận, anh thấy được bài học lịch sử gì ở đây và bản chất của công cuộc “giải phóng” này ra sao?
  2. (more…)

Lê Thị Huệ & Trangđài Glassey-Trầnguyễn

bia-mua_yeu_con
Hình: Olivier Glassey-Trầnguyễn

LTS: Nhân dịp Trangđài xuất bản tập thơ “MÙA YÊU CON Thứ Nhất” (2012), Nhà văn Lê Thị Huệ, Chủ biên Gió O (gio-o.com) đã có cuộc chuyện trò với thi sĩ về kinh nghiệm làm Mẹ và tác phẩm này, cũng như kinh nghiệm sáng tác bằng tiếng Việt, mà thi sĩ gọi là Tiếng-Nuôi-CON. Để có sách tặng người thân trong ngày Mother’s Day, xin liên lạc: vietamproj@gmail.com, 714 204 8340, trangdai.net.

Gió O: Tại sao là tác phẩm thứ nhất là một tập thơ về con yêu, Mùa Yêu Con?

TGT: Thưa Gió O, “MÙA YÊU CON Thứ Nhất” (2012) là tập thơ thứ năm của tôi. Tập thơ đầu tay, “nếu Mẹ thích – if you like, Mom” (2002) là tâm tình của một đứa con bằng máu mủ (đối với mẹ đẻ) lẫn một đứa con tinh thần (của Mẹ Việt Nam). Đây là một tập thơ song ngữ, với bản dịch 13 thứ tiếng. Tập thứ hai diễn đạt những cảm nghiệm tâm linh với cái tựa rất nghịch, “Cút Bắt (2002). Tập thứ ba ghi lại chuyến về thăm nhà đầu tiên sau bốn năm ở Mỹ, “những điều trông thấy – of things i’ve seen” (viết 1998, in 2004). Tập thứ tư nói về những đứt đoạn trong quan hệ cha con khi Ba tôi bị tù cải tạo và sau đó đi vượt biên, cũng như những ngày đầu tiên gia đình đoàn tụ tại Mỹ, “X–X1: Thuyền Nhân Khúc cho Ba – Songs for a Boat Father” (2004).
(more…)

Hồ Đình Nghiêm thực hiện

do_xuan_te
Nhà văn Đỗ Xuân Tê

Đôi lời thưa thốt: Những ngày nằm bệnh, tôi có cơ duyên được nhà văn Đỗ Xuân Tê từ chốn xa gửi tặng sách. Tôi đã điện thư cám ơn tấm thạnh tình của anh, tôi xem cuốn “Truyện của tôi MỘT THỜI U ÁM” là một trong những toa dược liệu giúp tôi chóng vượt qua được cơn đau. Anh Đỗ Xuân Tê vẫn thường gửi những bài viết đầy tính nhân văn đến diễn đàn Sáng Tạo, là một thành viên trong nhóm, tôi đơm ước muốn có khi sẽ thực hiện một cuộc trao đổi cùng anh liên quan tới chuyện viết văn làm thơ và may cho tôi, anh Đỗ Xuân Tê đã vui lòng cho ý tưởng của tôi được tựu thành. Tuy chưa bình phục, tôi tin là mình “đủ sức” để lái câu chuyện thoát khỏi những thứ “nhạy cảm”, hỏi những điều mà nhà văn Đỗ Xuân Tê sẽ rộng lòng tâm sự, đáp trả. Cám ơn nhà văn Đỗ Xuân Tê.

Hồ Đình Nghiêm (HĐN):  Thưa anh Đỗ Xuân Tê, cầm (hay bồng?) “đứa con tinh thần” của anh trên tay, ấn tượng ban đầu của tôi là nhìn ngay ra một sự khác biệt, một thứ “cổ lai hy”: “…Sách in không bán, chỉ để tặng…(tác giả chịu cước phí bưu điện)…”. Thưa anh, xin anh giải thích cho cụm chữ tôi dùng: “Hào hoa phong nhã, không đẹp không ăn tiền”. Nghĩa cử ấy “xưa nay hiếm”?
(more…)

Phùng Nguyễn

nha_thuyen-dong_thao
Nhà văn Nhã Thuyên – Photo by Đồng Thảo

Nhã Thuyên (1986) là tác giả của vài tập thơ và truyện cực ngắn, bao gồm Viết (2008), Ngón tay út (2011), Rìa vực (2011), Màu cỏ xanh trong suốt (2012, đồng tác giả) cùng vài cuốn sách tranh nho nhỏ cho trẻ em. Tác phẩm trong bản dịch tiếng Anh của cô được xuất bản trong tuyển thơ ba tác giả Việt Nam, thuộc series thơ Châu Á Thái Bình Dương của Vagabond Press, Australia (2013), đã và sẽ xuất hiện trong một số tạp chí như RHINO Poetry, Asymptote. Hiện cô đang chuẩn bị ra mắt tập thơ thứ hai, từ thở, những người lạ, và đây là tập thơ đầu tiên của cô sẽ được xuất bản trong bản dịch tiếng Anh bởi Vagabond Press. Cô cũng đồng chủ biên tập thơ ba tác giả Lê Văn Tài, Nguyễn Tôn Hiệt, Phan Quỳnh Trâm vừa ra mắt bởi Vagabond Press, tháng 7, 2015. Hiện cô đồng sáng lập và biên tập tạp chí văn chương song ngữ AJAR.
(more…)

Kính Hòa

dang_tho_tho-kinh_hoa

Nhà văn Đặng Thơ Thơ sinh ra và lớn lên tại Sài gòn. Sang Mỹ Đặng Thơ Thơ là một trong những người sáng lập trang văn học Da Màu, và Đặng Thơ Thơ cũng được biết đến như một trong những cây bút người Việt viết về giới tính.

Trong tác phẩm mới xuất bản Khả Thể, nhà văn có đề cập đến những ký ức về ngày 30 tháng Tư năm 1975. Trong một dịp sang vùng Washington DC, nhà văn dành cho Kính Hòa một buổi phỏng vấn về những ký ức này, và những nhận xét liên quan đến văn học của người Việt hiện nay. Trước hết nhà văn cho biết:
(more…)

Điều hợp: Nguyễn Lệ Uyên
Tham dự: Luân Hoán, Trần Doãn Nho, Trần Văn Nam, Trần Hoài Thư, Nguyễn Lệ Uyên, Nguyễn Vy Khanh, Lữ Quỳnh, Phạm Văn Nhàn, Trần thị Nguyệt Mai

group_discussion

Tạp chí Thư Quán Bản Thảo 63, dành phần lớn số trang cho chủ đề 20 NĂM VĂN HỌC MIỀN NAM, để một lần nữa, khẳng định sự đóng góp của các nhà văn nhà thơ trong giai đoạn máu lửa cùng giá trị nhân văn, tự do lẫn các khuynh hướng sáng tạo của họ trong giai đoạn đất nước lâm vào cuộc nội chiến tàn khốc nhất.

Văn học miền Nam 54-75 không hề mang tính chất độc hại của một loại sản phẩm văn hóa mà nhà cầm quyền CSVN gán cho cái nhãn nô dịch, phản động, đồi trụy. Ngược lại, nó đã làm tròn sứ mệnh của người cầm bút trước lịch sử văn học Việt Nam.

Những gì mà giới văn hóa văn nghệ miền Bắc, dưới sự chỉ huy của đảng CSVN đã và đang tiếp tục bức tử một nền văn học chói sáng ở một nửa đất nước, trong một cụm từ mang tính thóa mạ, báng bổ: “Văn học đô thị miền Nam” (?!), là điều không thể chấp nhận, đi ngược lại xu hướng phát triển đa chiều về văn hóa dân tộc của bất kỳ một quốc gia nào!
(more…)

Nguyễn Thị Hải Hà


Nhà văn Trần Hoài Thư
Đinh Cường

Nguyễn Thị Hải Hà: Anh định nghĩa như thế nào về tác giả Trần Hoài Thư? Nếu chọn cho mình một tên gọi, anh thấy anh là ai? Nhà văn quân đội? Nhà văn Miền Trung? Hay một tên nào khác?

Trần Hoài Thư: Tôi là nhà văn sống và viết. Tôi tìm chất liệu ở con người thật của tôi. Tôi sống và viết bằng con người thật của tôi.

Dù viết nhiều về lính, nhưng nhất thiết tôi không phải là nhà văn quân đội. Tôi đã kể tôi là nhà văn sống và viết. Khi tôi ở trong quân đội, tôi viết về người lính, khi tôi đào ngũ, tôi viết về kẻ đào ngũ, khi tôi trở lại đơn vị bị giáng lon, thì viết về tâm trạng của người lao công chiến trường… Khi tôi bị thương nằm trong quân y viện tôi viết về tâm trạng người thương binh, khi tôi ở trong trại khổ sai, tôi viết về sự thật cảnh tôi vồ chụp lấy thau cơm nhão nhẹt chua lè dành cho chó ăn ở bên hiên một doanh trại bộ đội Bắc Việt vì quá đói …

Tôi viết bằng chất liệu của đời sống mình. Từ chất liệu ấy, tôi xây dựng cốt chuyện, nhân vật…
(more…)

Mặc Lâm

nha_thuyen_3
Nhà văn Nhã Thuyên

Mới đây một công văn của Ban tuyên giáo Trung ương đã bị tung ra trong cộng đồng mạng trên đó yêu cầu báo chí không được loan tải những tin tức mà Ban Tuyên giáo thấy cần phải định hướng. Một trong những tin mà báo chí không được loan tải hay đăng các đơn thư trái chiều là việc Trường Đại học Sư phạm Hà Nội ra quyết định thu hồi luận văn thạc sĩ của cô Đỗ Thị Thoan, từng được chấm điểm tuyệt đối hơn ba năm trước nhưng từ tháng 7 năm ngoái bị một nhóm tự nhận là những nhà phê bình văn học vạch ra những điều mà họ gọi là phản lại văn học phản lại chế độ và yêu cầu thu hồi luận văn này.

Công văn có nội dung như sau:

“Về luận văn thạc sĩ của Nhã Thuyên (tức Đỗ Thị Thoan) “Vị trí của kẻ bên lề: Thực hành thơ của nhóm Mở miệng từ góc nhìn văn hóa” do PGS TS Nguyễn Thị Bình hướng dẫn, tuần qua, căn cứ Luật Giáo dục 2005 và Điều lệ trường đại học năm 2010, Hiệu trưởng Trường Đại học sư phạm Hà Nội đã ra quyết định thành lập Hội đồng khoa học để thẩm định lại chất lượng luận văn này. Hội đồng ra quyết định thu hồi luận văn và không công nhận học hàm (sic) thạc sỹ của chị Đỗ Thị Thoan. Đề nghị báo chí không đang tải ý kiến, đơn thư trái chiều.”
(more…)

Michail Ryklin trả lời phỏng vấn về Khủng hoảng Krym
Phạm Thị Hoài dịch

michail_ryklin
Triết gia Michail Ryklin

Die Zeit: Thưa ông Ryklin, có lần ông nói rằng điều duy nhất còn giữ được nước Nga là cảm giác về sức mạnh quân sự, dư âm từ chiến thắng của Stalin trong Thế chiến II. Hành động của Putin tại Krym hiện nay xuất phát từ đó chăng?

Michail Ryklin: Đó là điểm tựa cho guồng máy tuyên truyền của Putin. Mọi nỗ lực phân tích cuộc chiến một cách khoa học đều bị hình sự hóa. Đi chệch quy chuẩn ngôn ngữ chính thống về đề tài này là trở thành tà giáo. Đây là lần thứ hai Putin thất bại nặng nề tại Ukraine. Hồi Cách mạng Cam, ông ta đã đặt cược vào Yanukovych – và thua. Bây giờ lại thua nữa. Mà Putin lại là người khó tha thứ cho kẻ khác vì những sai lầm của chính mình. Kẻ khác phải trả giá.

Tình thế hiện nay của Putin ra sao?

Ông ta đang bị sập trong cái bẫy do chính mình giăng ra. Suốt bao nhiêu năm ông ta dựng hình ảnh về bản thân như một người hùng, và thực tế thì cuộc xâm lăng chủ quyền quốc gia của Ukraine đang diễn ra rồi – hiển nhiên là vi phạm luật pháp quốc tế. Câu hỏi chỉ còn là: Putin sẽ đi xa tới mức nào. Ông ta ưa trả thù, nhưng đồng thời cũng là người thực dụng. Máu mà đổ ở Krym thì ông ta có thể mất khá nhiều.
(more…)

Phạm Thanh Nghiên

tuong_niem_40_nam_hai_chien_hoang_sa

Xin gửi tới quý độc giả phần 5 và cũng là để kết thúc loạt bài “phỏng vấn về hải chiến Hoàng Sa và các chiến sĩ Hải quân Việt Nam Cộng Hòa”. Mặc dù người được mời cho cuộc phỏng vấn này, nhà văn Vũ Thư Hiên vẫn bày tỏ quan điểm dựa trên các câu hỏi (như ở các phần trước) nhưng tôi sẽ không trình bày theo cách thông thường là xen phần câu hỏi trước mỗi câu trả lời. Ngoài lý do muốn tạo ra sự khác biệt của một bài phỏng vấn đơn thuần, Phạm Thanh Nghiên cũng …tự cho mình cơ hội được bày tỏ suy nghĩ, được trải nghiệm với vai trò một người …được phỏng vấn. Nhưng quan trọng hơn cả là bản thân những câu trả lời của nhà văn Vũ Thư Hiên đã giống như một bài viết hoàn chỉnh (dù rất ngắn) có sức lôi cuốn và có tính văn học.
(more…)

Phạm Thanh Nghiên

tuong_niem_40_nam_hai_chien_hoang_sa

Không phải ngẫu nhiên tôi dành phần bốn này để kể về tâm tư của hai nhân vật cách nhau nửa vòng trái đất với sự khác biệt rất điển hình. Từ tuổi tác, khoảng cách địa lý, hoàn cảnh, không gian sinh sống đến xuất thân (chế độ) chính trị đã trở thành một sự tương phản đương nhiên. Nhưng, chính sự khác biệt đến tương phản ấy đã đại diện cho một câu chuyện của những câu chuyện về một giai đoạn lịch sử kéo dài hàng chục năm với sự đau đớn, quằn quại của Dân tộc. Song, đấy cũng là câu chuyện của sự gặp gỡ mang niềm hy vọng. Họ không đại diện cho chế độ chính trị nào (dù tốt hay xấu). Họ là những nguời Việt Nam chân chính với chung một khát vọng bình dị nhưng vĩ đại: Tự do, Dân chủ và Toàn vẹn lãnh thổ cho Đất nước mình.
(more…)