Nguyễn thị Hải Hà trò chuyện với Nhà Văn Lữ Quỳnh

Posted: 11/09/2017 in Bút Đàm / Phỏng Vấn, Nguyễn Thị Hải Hà

Nguyễn Thị Hải Hà

VỀ ĐỌC VÀ VIẾT

NTHH: Anh lấy ý tưởng từ đâu để viết?

LQ: Tôi thường lấy ý tưởng từ cuộc sống. Cuộc sống, nhất là trong thời kỳ chiến tranh có nhiều tình huống bất ngờ, và đôi khi bi thảm ngoài sức tưởng tượng của con người.

NTHH: Hiện nay anh đang đọc gì, viết gì?

LQ: Tôi đang đọc sách Phật Giáo. Đức Phật là vị thầy vĩ đại nhất, theo tôi. Tư tưởng của ngài bao gồm hầu hết tham sân si của cuộc đời, và tìm ra lối thoát, sự giải quyết cho chúng sinh. Về chuyện viết, tôi cố gắng tránh lặp lại điều đã viết trong những tác phẩm trước.

NTHH: Tại sao anh viết?

LQ: Thời trẻ tôi viết với ý muốn chống lại bất công của xã hội và sự phi lý của chiến tranh. Rồi, dần dà viết trở thành như một cái nghiệp, không thể rời bỏ.

NTHH: Anh vừa là nhà văn vừa là nhà thơ? Anh tự xem mình là nhà thơ hay nhà văn?

LQ: Tôi vốn rất ngại tự nhận mình là nhà văn hay nhà thơ, nhưng nếu phải trả lời câu hỏi của chị, thì tôi tự nhận mình là nhà văn hơn, vì viết văn sẽ dễ gần với bạn đọc, nhất là khi mình phơi bày những vấn đề gai góc của thời đại mình đang sống.

NTHH: Anh vừa viết truyện dài vừa viết truyện ngắn, sở trường của anh là truyện dài hay truyện ngắn?

LQ: Thường viết truyện ngắn cô đọng và dễ dàng hơn. Tôi có một truyện dài “Vườn Trái Đắng”, năm 1973, 1974 đã đưa kiểm duyệt đến lần thứ ba, ở Sở Phối hợp Nghệ thuật Sài Gòn, mà không được phép. Sau tháng 4-1975, bị thất lạc!

NTHH: Ngoài viết văn và làm thơ anh còn tham gia bộ môn nghệ thuật nào khác, như vẽ, âm nhạc, … ?

LQ: Tôi có những người bạn rất thân ở bộ môn Âm nhạc, Hội họa như các anh Trinh Công Sơn, Nguyễn Trọng Khôi, Đinh Cường, Bửu Chỉ. Tôi thường tham dự họp mặt, mà không tham gia bộ môn nào cả.

NTHH: Trước năm 1975 anh là một trong những người thành lập báo Ý Thức. Tại sao anh làm báo?

LQ: Trước 1975 tôi cùng vài người bạn thành lập nhóm Ý Thức và sau đó ra tờ Tạp chí Bán nguyệt san Văn học Nghệ Thuật Ý Thức. Khởi đầu là bằng tấm lòng yêu văn chương; sau đó theo thời thế, nội dung được chuyển hẳn sang thái độ dấn thân, chống lại xu hướng ru ngủ, viễn mơ, nhất là trong lúc chiến sự sôi động khắp miền nam.

NTHH: Anh có đọc các tác giả gốc Việt viết bằng tiếng Anh không?

LQ: Tôi có biết các tác giả gốc Việt viết bằng tiếng Anh, nhưng tôi không đọc họ, một phần vì trình độ ngôn ngữ hạn chế.

NTHH: Anh có thường tham gia văn học mạng? Anh chú ý đến mạng nào nhiều nhất, thích gửi bài đến trang mạng nào nhất?

LQ: Tôi thường tham gia văn học mạng. Vẫn thường có bài post trên Da Màu, Tiền Vệ, Sáng Tạo và các blog Phạm Cao Hoàng, Trần Thị Nguyệt Mai, Phố Văn…

NTHH: Anh có thường gửi bài về các báo in và báo mạng trong nước? Theo anh cách viết truyện ngắn của các tác giả Việt đương thời có thay đổi, hay hơn hay vụng hơn, so với cách viết truyện ngắn thời trước từ tiền chiến cho đến thập niên sáu mươi, từ thập niên sáu mươi cho đến tháng 4 năm 1975.

LQ: Tôi không gửi bài cho báo in trong nước. Riêng báo mạng, tôi có gửi cho Văn Việt. Cách viết truyện ngắn bây giờ có khác với các tác giả thế hệ trước. Cụ thể, từ 1954 đến cuối 1960. Những tùy bút của Mai Thảo, truyện ngắn của Võ Phiến, Y Uyên, Trần Hoài Thư, Dương Nghiễm Mậu; kịch của Vũ Khắc Khoan ở miền nam, nặng về triết lý nhân sinh và xã hội, nhất là trong thời kỳ chiến tranh với quốc nạn Cộng sản; thì truyện ngắn của các tác giả hiện nay đi sâu vào kỹ thuật viết, với nhiều khám phá mới về nội dung như Nguyễn Viện, Đỗ Hoàng Diệu…

VỀ BẠN BÈ VĂN NGHỆ

NTHH: Anh có nhiều bạn bè trong giới văn học và nghệ thuật? Anh nghĩ gì về những người bạn văn nghệ cùng thời?

LQ: Những người bạn văn nghệ của tôi, cũng còn được coi như những người anh em thân thiết. Họ chơi thân với tôi, với cả gia đình tôi, bằng sự yêu mến, trân quý, hết lòng giúp đỡ lẫn nhau. Họ là Đinh Cường, Bửu Chỉ, Trịnh Công Sơn, Trần Hoài Thư, Đỗ Hồng Ngọc, Lữ Kiều, Nguyên Minh, Nguyễn Mộng Giác.

NTHH: Anh có bài thơ Chiều Tân Định đề tặng họa sĩ kiêm thi sĩ Đinh Cường. Bài thơ rất hay và tôi rất thích câu cuối: “uống ngụm nắng tàn trong chiếc ly không.” Và bài thơ Giấc Mơ có nhắc đến nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, trong đó có ba câu rất u buồn: “Bầy quạ giăng hàng trên dây thép/ Những nốt nhạc đen giữa hoàng hôn/ Chập chờn trùng vây mộ địa.” Xin anh cho biết lý do gì, hay kỷ niệm gì đưa đến sự thành hình của hai bài thơ này?

LQ: Về bài thơ Chiều Tân Định, tôi làm tặng Đinh Cường. Sau khi tiễn gia đình anh ở phi trường Tân Sơn Nhất đi định cư ở Mỹ, tôi về lại cái quán mà chúng tôi thường ngồi với nhau mỗi buổi chiều, lòng ngậm ngùi, tôi đã gọi cho mình một ly rượu đỏ và một chiếc ly không đặt đối diện. Tên quán Hoa giấy và đường Thuốc lá trong bài thơ, là điểm hẹn mà Trịnh Công Sơn, Đinh Cường và tôi thường gọi nhau đến. (Các tên này do chúng tôi đặt). Còn ba câu thơ “Bầy quạ giăng hàng trên dây thép/ Những nốt nhạc đen giữa hoàng hôn/ Chập chờn trùng vây mộ địa.” chị đã nhắc đến nằm ở phần cuối bài thơ có tựa đề “Những giấc mơ tôi”. Khi một người bạn thân thiết ra đi, mà thời gian chưa thể khỏa lấp nỗi trống, thì những giấc mơ hiện về hằng đêm, và đôi khi tôi đã vội vàng ghi lại được, ví dụ như “… chiếc piano treo ngược trước khán phòng…” Có một thời gian tinh thần tôi bất an, chỉ làm thơ và loay hoay với những giấc mơ u ám. “…lòng ta quanh năm chỉ một mùa vàng lạnh/ giấu bạn bè trong những giấc mơ…”

VỀ QUÁ TRÌNH VIẾT VĂN VÀ SỰ NGHIỆP VĂN CHƯƠNG

NTHH: Xin anh cho biết một vài tác phẩm gối đầu của anh. Nhà văn nào ảnh hưởng đến cuộc đời nhà văn cũng như quá trình sáng tác của anh?

LQ: Tôi thường đọc, trước đây Hemingway, G. Marquez và gần đây Haruki Murakami (qua bản dịch) và đặc biệt với G. Marquez, tôi rất thích cuốn “Trăm năm cô đơn” của ông; tác phẩm này đã ám ảnh tôi và tôi còn nhớ các nhân vật cũng như bối cảnh của thời đại đó.

NTHH: Anh có học trường dạy viết văn không?

LQ: Tôi không học trường dạy viết văn.

NTHH: Nhà văn Ray Bradbury quan niệm rằng người ta không thể học viết văn trong đại học. “Đại học là một chỗ không tốt cho người viết văn vì các ông giáo sư luôn luôn nghĩ là họ hiểu biết nhiều hơn là người viết.”[i] Theo anh thì học vấn chính qui (đại học văn chương và có bằng cấp) có cần thiết cho công việc sáng tác không?

LQ: Học vấn rất cần cho công việc sáng tác chị ạ. Chính học vấn là chìa khóa trí tuệ để mở ra tầm nhìn thế giới.

NTHH: Theo anh nhà văn có nhiệm vụ gì? Giải trí? Thay đổi xã hội và giáo dục thế hệ nối tiếp?

LQ: Theo tôi nhiệm vụ của nhà văn là giáo dục và nếu được, có thể làm thay đổi xã hội, cho xã hội tốt đẹp và an bình hơn.

NTHH: Theo anh, người Việt Nam có thời kỳ vàng son trong văn học nghệ thuật không và nếu có thì vào lúc nào?

LQ: Khác với một số nhà phê bình thường cho rằng thời kỳ vàng son của văn học Việt Nam là Tự Lực Văn Đoàn; theo tôi trong giai đoạn 1954-1970, mới là thời kỳ mạnh mẽ, đáng lưu tâm nhất của nền VHNT Việt Nam, nhất là của miền Nam. Đây là thời kỳ mà nhiều khuynh hướng về văn học, nghệ thuật, triết học bên ngoài tự do du nhập vào miền nam. Tiêu biểu là chủ nghĩa hiện sinh với tác phẩm của Jean Paul Sartre, Albert Camus, Franz Kafka. . . Và cùng với sự tự do, nhân bản ấy là cuộc chiến khốc liệt, mở ra thời kỳ văn học phản chiến, chống Cộng với nhiều tác giả vừa chiến đấu vừa sáng tác, nổi tiếng như Ngô Thế Vinh, Y Uyên, Nguyễn Bắc Sơn, Trần Hoài Thư…

NTHH: Anh có đọc lại tác phẩm anh đã viết và xuất bản không? Trong các tác phẩm của anh, anh thích nhất truyện nào, bài thơ nào?

LQ: Tôi ít khi đọc lại tác phẩm đã viết. Trong các truyện ngắn, tôi thích truyện “Bóng tối dưới hầm.” Thơ thì có bài thơ ngắn làm tặng Đinh Cường năm 1990. Về thơ cũng nên nhắc đến bài “Hoàng Sa, nỗi nhớ”, tôi làm khi Hoàng Sa của chúng ta bị bọn Tàu chiếm năm 1974, trong đó có mấy câu: “… tôi xin lỗi/ rất đau lòng nhưng phải nói ra// ngày mất Hoàng Sa/ chỉ nửa nước đau thương căm hờn lũ giặc// chỉ nửa nước sục sôi niềm đau mất đất…” Khi bài này đăng lên, có một bạn đọc gửi mail hỏi, tại sao mất Hoàng Sa mà chỉ nửa nước đau thương?! Nhắc đến bài thơ này làm tôi nhớ đến ngày mất Hoàng Sa 19-1-1974, hơn một tuần lễ sau có một chiếc thuyền cao su trôi giạt vào bờ biển Quy Nhơn, trên có 13 thủy thủ từ Hoàng Sa. Quân Y Viện Quy Nhơn tiếp đón điều trị các anh, ban đầu các anh phần lớn bị hôn mê. Các bác sĩ chăm sóc đặc biệt, từ muỗng nước muỗng sữa đầu tiên. Sau khi bình phục, các anh được xe của đơn vị chở đi thăm thành phố biển, với biểu ngữ chào mừng “ Những chiến sĩ anh hùng từ Hoàng Sa trở về”.

NTHH: Trong các tác phẩm của anh, có truyện ngắn “Bóng Tối Dưới Hầm” tôi thích nhất. Tôi đọc truyện này lần đầu trong Tuyển Tập Truyện Ngắn do Thư Ấn Quán xuất bản và thích nó ngay lập tức. Tôi đọc lại vẫn còn thấy thích cái không khí căng thẳng của ba người nấp dưới hầm. Đây là một truyện ngắn đầy tính xung đột và bi kịch nhưng không khí truyện rất ngấm ngầm, thầm lặng. Xin hỏi anh dựa vào một chuyện có thật hay chỉ thuần tưởng tượng?

LQ: Truyện “Bóng tối dưới hầm” tôi viết từ bối cảnh có thật ở khu 3 huyện Phú Lộc, một vùng kháng chiến thời chống Pháp; dĩ nhiên có phần hư cấu trong hồi tưởng của người đàn ông, một trong ba nhân vật dưới chiếc hầm bí mật.

NTHH: Tôi đọc hết tất cả truyện ngắn trong “Mười Hai Truyện Ngắn của Lữ Quỳnh” có truyện viết từ năm 1970, nhiều truyện khác không thấy đề thời gian viết xong. Qua những tác phẩm như “Ngày Hòa Bình Đầu Tiên,” “Mùa Xuân Hư Vô,” anh có nghĩ anh là một nhà văn phản chiến (phản đối cuộc chiến tranh Việt Nam) không?

LQ: Đúng rồi chị. Tôi rất ghét chiến tranh. Trong chiến tranh chỉ có nhân dân là kẻ bị thảm bại cay đắng nhất. Một số truyện của tôi muốn nói lên sự chán chường, vô nghĩa, phi lý như thế.

NTHH: Một vài truyện ngắn của anh như “Bụi Đá” trong đó mẹ của nhân vật bị quân xa Mỹ cán chết. Truyện “Ngõ Cụt” nhân vật là một người Mỹ lai, kết quả của cuộc hiếp dâm. Có phải anh và nhiều người trí thức thời ấy nhìn sự hiện diện của người Mỹ như một cuộc xâm lăng?

LQ: Có thể, cùng với sự đánh giá sai về vai trò của “giải phóng”.

NTHH: Một cách tổng quát, theo anh thế nào là một truyện hay?

LQ: Thế nào là một truyện hay? Dù là một cách tổng quát, cũng chưa trả lời chị ngay được.

NTHH: Chúng ta có nhà văn đương đại nào và tác phẩm đương đại nào đáng chú ý, có triển vọng vang danh trên văn đàn quốc tế không?

LQ: Chưa thấy có.

NTHH: Thưa anh, chúng ta có thể làm gì để phát huy nền văn học VN, nhất là ở hải ngoại?

LQ: Thật khó, khi mà thế hệ đầu tiên sắp qua đi, dù có một số tác giả đã có sách xuất bản bằng tiếng Việt …và thế hệ kế tiếp không còn sử dụng tiếng Việt nhiều nữa. Một số nhà văn trẻ hải ngoại viết bằng tiếng Anh như Lan Cao, Viet Thanh Nguyen đầy tài năng và trở thành những tên tuổi lớn tôi không biết nói gì thêm.

VỀ BẢN THÂN, GIA ĐÌNH VÀ NGƯỜI THÂN

NTHH: Trong gia đình của anh có ai tham gia công việc viết văn không? Phu nhân của anh có yêu thích văn chương? Tán thành công việc viết lách, in ấn của anh không?

LQ: Trong nhà tôi có người con trai đầu viết văn, cháu tên Phan Triều Hải, có vài tác phẩm đã được xuất bản. Nhà tôi đọc nhiều, không biết có tán thành việc viết lách của tôi không, nhưng không phản đối chuyện tôi in ấn.

NTHH: Trước năm 75 anh ở trong ngành quân y, anh làm gì trong quân y? Sau năm 75 anh có bị đi tù (cải tạo), bao nhiêu năm?

LQ: Trước năm 1975 tôi ở ngành Hành chánh Quân Y, phục vụ đơn vị cuối cùng là Quân Y Viện Quy Nhơn. Sau tháng 4/1975 tôi ở tù một năm rưỡi.

NTHH: Xin anh kể một điều gì về anh, về xã hội Việt Nam trong mắt nhìn của anh, trước năm 75 và hiện nay có ảnh hưởng đến cuộc sống tinh thần văn chương của anh mà độc giả chưa biết.

LQ: Tôi vẫn thương tiếc miền Nam những năm từ 1954 đến 1962, thời của thanh bình, no ấm; thời của một nền giáo dục nhân bản, tươi đẹp. Cái thời mà Cộng sản VN từ 1975, cho đến hiện tại, sau 42 năm, vẫn không biết đến bao giờ mới vươn tới được. Và,

Tôi đang suy nghĩ một đề tài: chính tuổi thơ mình, được nghe kể, cũng như một số tư liệu về ngôi làng và đời sống ma quái cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20; về một ngôi nhà không có đàn ông và những hệ lụy vây quanh nó. Đề tài thì dài hơi, nhưng không biết tôi có đủ sức để viết không!

NTHH: Anh có một số tác phẩm như “Người Ngồi Đợi Mưa,” “Một Người Tù Lãng Mạn” nói về sự cầm tù của quân nhân đào ngũ. Xin hỏi đây là kinh nghiệm bản thân hay chỉ là sáng tác hư cấu?

LQ: Với “Người ngồi đợi mưa” là một truyện thật. Người đợi mưa trong truyện là Trần Hoài Thư. Mái hiên hai đứa ngồi đợi mưa là nhà tôi ở đường Cường Để, Quy Nhơn. Còn truyện “Một người tù lãng mạn” là hư cấu; Tôi muốn nói lên tâm hồn lãng đãng, gần như tuyệt vọng của người tù và tấm lòng trắc ẩn, đầy tình người của người lính quân cảnh; những người lính chỉ có dưới chế độ VNCH.

NTHH: Câu hỏi đặc biệt. Anh có gì muốn bày tỏ, góp ý, chỉ bảo, khuyên nhủ với những người viết tiếng Việt hiện nay trong công việc gìn giữ và khuếch trương văn học Việt?

LQ: Thế hệ sau có điều kiện về học vấn, điều kiện sống, điều kiện tiếp nhận các trào lưu văn học thế giới đủ làm hành trang cho mình phát triển một nền văn học tự do của nước nhà rồi!

Nguyễn Thị Hải Hà
Tháng 8- 2017

[i] Weller, Sam. The Ray Bradbury Interviews. Melville House, Brooklyn New York. @2010. p. 203.

Nguồn: Bài do nhà văn Lữ Quỳnh chuyển

Đã đóng bình luận.