Bánh mì, khẩu cầm và thân phận

Posted: 06/08/2011 in Minh Nguyễn, Truyện Ngắn

Minh Nguyễn


Harmonica player by Mindy Newman

“…
Bây giờ tôi đã blues điên kể từ khi con tôi ra đi
Tôi không có, không có thời gian để mất
Tôi phải tìm nó ngày hôm nay
Bây giờ bác sĩ sẽ làm tất cả những gì ông ta có thể
Nhưng những gì bạn sẽ cần là một gã undertaker
Tôi không có gì ngoài những tin xấu
Bây giờ tôi đã blues điên1

Trên đường đi tới nhà ga tàu điện ngầm Fullerton, Ngữ chợt nghe văng vẳng bên tai tiếng kèn harmonica của ai đó đang thổi bùng lên khúc nhạc trầm buồn u uất thường thấy ở đám người cùng khổ da màu. Lạ! Sống ở Chicago nhiều năm, đây là lần đầu tiên anh thật sự ngạc nhiên trước thứ âm thanh mang âm hưởng đồng quê, có nguồn gốc từ đất nước Châu Phi xa xôi. Gợi nhớ nơi Ngữ hình ảnh Kunta, một thanh niên da đen cũng là nhân vật chính trong truyện Cội Rễ,  bị bán xuống tàu buôn nô lệ chở sang Mỹ, đi làm thuê trên các nông trường của người da trắng. Thoạt tiên Blues chỉ gồm những ca từ đơn giản, nhằm nói lên sự gian khổ trong cuộc sống hay chỉ kể lại những chuyện vui buồn trong tình yêu.  Nhưng kể từ khi nô lệ được coi như một thứ hàng hóa có giá trên thị trường, Bắc Mỹ,  thì “những nỗi buồn” đã biến Blues trở nên thống thiết qua bao kiếp người cùng khổ, chịu nhiều sự áp bức. Và phải tới hơn ba trăm năm sau, khi cuộc nội chiến Nam-Bắc kết thúc, dẫn tới việc người nô lệ được tự do,  thì Blues mới thực sự trở nên nhân bản, gần gũi, nối kết với nhiều dân tộc hơn.

Trước mớ âm thanh lạ lùng ấy đã từng bước dẩn dắt đôi chân Ngữ lần theo tiếng nhạc đi tới. Bất chợt, dưới màu nắng ấm đầu ngày, Ngữ phát hiện bóng dáng một gã da màu đang trổ hết tài trên chiếc khẩu cầm. Trông gã bùi bụi thế nào với quần jean bạc màu, áo khoác ngoài sờn rách cùng với giày da lộn cáu bẩn. Gã đứng tựa hờ bờ vai vào bức tường bên dãy nhà cao tầng. Chân phải bắt chéo lên trên chân trái đang duỗi thẳng ra một cách biếng nhác. Gã đang chơi bài Crazy Blues trước đám đông người qua lại. Không ngờ, chiếc kèn không hơn gì món đồ chơi,  được đưa qua đưa lại một cách thuần thục giữa đôi môi gã. Âm thanh như dòng chảy cảm xúc mạch nguồn cứ thế tuôn trào. Đánh thức thiên lương đám đông người dừng bước, sẵn sàng trải rộng trái tim nhân ái, thả vào chiếc mũ đặt dưới đất vài đồng tiền xu.

Choáng ngợp trước lối trình diễn của gã nghệ sĩ. Ngữ chịu khó chờ cho đám đông người qua đường thưa dần trên phố, mới rời khỏi chỗ đứng bước tới.

– Anh cần gì? Tiếng kèn đột ngột dừng lại khi gã bất ngờ trông thấy sự xuất hiện của Ngữ bên cạnh.

Đặt xuống chiếc mũ một tờ giấy bạc,  Ngữ nói:

– Lâu lắm rồi tôi mới gặp người chơi Memphis Blues tuyệt vời cở anh.

– Anh biết gì về Handy?

– Một nhạc công chơi cho quán bar trước khi thành tên tuổi lớn trong làng sáng tác âm nhạc thế giới.

– Anh rành về blues quá nhỉ!

– Tôi mê âm nhạc.

– Loại cổ điển hay…?

– Jazz.

Như một cách gián tiếp trả lời thay cho sự khoa trương khả năng tiếp thụ âm nhạc nơi mình. Gã không ngần ngại mượn tiếng khẩu cầm,  kể lại câu chuyện bí ẩn của một nữ sát nhân, tìm cách lừa con vẹt tới đậu trên đầu gối mình, một cách khéo léo. Từ đó “ thế giới đã lạc lối “ của Bob Dylan mở ra cho người ta thấy một thế giới  nhiễu loạn tinh thần trong đời sống hiện tại. Bởi lòng can đảm giống như chuyện ngớ ngẩn và tầm phào[2]

Đợi cho gã chơi dứt bản nhạc,  Ngữ hạ thấp giọng mời:

– Chúng ta có thể đi uống với nhau một ly?

– Ồ! Tôi có được biết về chuyện gì?

– Không gì cả,  ngoài blues.

Với lời mời khá bất ngờ của Ngữ, gã tỏ ra bối rối trong vài giây để suy nghĩ. Cuối cùng,  gã nhận ra sự chân tình nơi anh nên vui vẻ chấp nhận đi tới cửa hàng cafeteria gần đó. Trong khi chờ gã thu vén vào túi vải, cái gia tài không mấy đáng kể, gồm ít mẫu bánh mì khô cứng cùng vài đồng tiền xu lẻ,  Ngữ hình dung ra phần nào đời sống khó khăn nơi gã nghệ sĩ tài hoa này. Kịp lúc đó,  anh cũng vừa nhận ra cái dáng dong dỏng cao nơi gã, khi gã đứng thẳng lưng cười với đôi hàm răng trắng phản chiếu ánh nắng lấp lánh; nổi bật qua màu da đen bóng cộng thêm mái tóc quăn xù, thoạt nhìn cứ ngỡ như bắt gặp tổ chim đang lay động trước gió.

Không nói thêm lời nào, gã bước song song bên Ngữ trên suốt đoạn đường dài,  đi tới quán cafeteria gần khu công viên. Trong lúc đứng xếp hàng chờ mua cà phê và thức ăn. Khi quay ra, Ngữ ngạc nhiên trông thấy gã nghệ sĩ thản nhiên ngồi ăn ngấu nghiến mấy mẫu bánh mì khô cứng do gã mang theo. Thấy Ngữ chăm chú quan sát nơi mình, gã tỏ ra ngượng ngùng,  chìa mẫu bánh mì còn lại về phía anh mời:

– Làm một miếng.

– Anh cứ tự nhiên. Tôi mua đủ thức ăn cho cả hai người đây.

Simith cười gượng giải thích:

– Từ hôm qua tới giờ tôi chưa có gì cho vào bụng.

– Anh thường xuyên chịu đụng sự đói khát trên đường phố?

– Biết làm sao được khi thời buổi thất nghiệp tràn lan, khiến lòng tốt cũng bị nghèo theo.

Đẩy cái khay trong đó đựng ly cà phê, một bánh hamburger, dĩa khoai tây chiên đến trước mặt Simith, Ngữ mời mọc.

– Ăn thêm đi.

Loáng một cái,  Simith đã ăn hết cái bánh mì kẹp thịt cùng với dĩa khoai chiên. Uống thêm ngụm cà phê cho trôi mọi thứ qua cổ xong,  gã giới thiệu gã tên Simith. Rời bỏ khu Harlem ra đi lang thang từ nhiều năm. Gã không vợ con. Không chỗ ở nhất định. Hàng ngày chơi khẩu cầm trên đường phố, tối ngủ trong thùng cạt- tông qua đêm. Gã may mắn thoát chết trong đường tơ kẻ tóc,  khi một viên AK bắn trượt qua vành tai ngoài chiếc mũ sắt. Nếu không, giờ này gã cũng có tên trên bức tường đá đen ở N. Y.

– Còn anh là ai, có quen biết nhau đâu,  mà mời tôi đến đây? Simith nhìn xoáy vào Ngữ hỏi.

– Tôi đến cách đây nửa vòng trái đất.

– Là đâu?

– Việt Nam

– Bull shit

– Sao vậy?

– Nơi đó chẳng khác gì một địa ngục trần gian.

– Sao anh biết?

– Nhiều thanh niên Mỹ, kể cả phong trào Hippy từng xuống đường phản đối chiến tranh Việt Nam, nhưng có ai thoát khỏi nơi đó.

– Anh từng tham chiến ở nước ngoài?

– Bọn G. I gọi tôi là “ American Cộng “. Chuyện có vẽ bởn cợt,  nhưng nhắc tôi nhớ tới quá khứ của mình là con cháu những người trước đây từng bi bắt đem bán xuống các tàu buôn nô lệ.

– Biết vậy, nhưng có khi nào anh thắc mắc về nguồn cội minh như Eliex Heili đã từng bỏ ra mười lăm năm, mò mẫm đến hầu hết các thư viện, kho lưu trữ tư liệu trên khắp nước Mỹ, đi tìm cội rễ của mình. Cuối cùng,  ông đến Phi Châu, đến tận làng Jufure hẻo lánh ở Gambia, nơi cách đây gần ba trăm năm Kunta Kinte, ông tổ bảy đời của Heili bị bắt bán xuống tàu buôn nô lệ da đen chở sang Mỹ.

– Hình ảnh ba trăm năm trước tổ tiên tôi vì nghèo đói, bị bán làm nô lệ trên các nông trang của người da trắng đã là một sự sĩ nhục. Nay tới thế hệ chúng tôi không vì hận thù nào,  cũng bị bắt cầm súng bảo vệ quyền lợi nước Mỹ qua các cuộc chiến tranh, dù chánh nghĩa hay phi nghĩa ở tận nước ngoài?

– Tôi tưởng luật pháp Mỹ cho phép các anh có được quyền từ chối  việc gì mình không thích?

– Và luật pháp cũng sẽ bắt bỏ tù những ai không chấp hành mệnh lệnh của chính phủ.

Qua cuộc nói chuyện, Ngữ liếc nhìn thấy chiếc kền harmonica lên nước bóng loáng được đặt cạnh bên Simith.   Chiếc kèn thoạt trông chẳng khác gì những chiếc kèn bày bán trong Wall Mart, song nó gợi lên sự tò mò bởi nét chữ được khắc chi chit trên mặt kim loại. Có thể, đây là địa danh hoặc kỷ niệm được ghi lại sau mỗi chuyến đi mà Simith muốn lưu giữ.

– Tôi có thể mượn chiếc kèn xem một lúc?

– Anh thích thi cứ việc giữ nó mà thổi?

– Chẳng phải nó là vật bất ly thân của anh từ trước đến giờ hay sao?

– Có gì quan trong đâu. Tôi hay anh giữ nó có khác gì người lính thập tự chinh mang vác sự bất hạnh đi giữa cuộc đời phù phiếm nơi thế giới này.

– Vì vậy,  anh có ý định tặng tôi chiếc kèn với ý đồ. Tôi sẽ là người kế thừa anh trong việc cất lên tiếng kêu thống khổ cho quê hương mình?

Như chợt nhớ ra điều gì, Simith lên tiếng hỏi Ngữ:

– Có phải lúc sáng sớm anh đang trên đường đi ra nhà ga tàu điện ngầm?

– Ờ! Mỗi sáng tôi thường đi bộ từ nhà ra tới đó để bắt đầu một ngày như mọi ngày.

– Dưng không anh lại bỏ công việc giửa chừng?

– Vì tiếng kèn của anh chứa đựng nhiều ma lực.

– Anh không sợ bị lay-off?

– Từ khi đặt chân qua đây đến giờ,  tôi chưa hề đi làm ngày nào thì cớ gì phải sợ.

– Trông anh bảnh bao cứ như là. . .

– Một kẻ dở. hơi? Vợ con tôi bảo thế! Vì vậy,  mỗi sáng gã ăn không ngồi rồi,  tưởng tượng ra việc ăn mặc tươm tất,  đi đâu đó cho đến hết ngày mới quay về.

– Có thật vậy không, hay anh chỉ đùa cho vui?

– Tôi không chỉ dị ứng với xã hội thực dụng tư bản mà còn vì sự sĩ diện trước cộng đồng.

– Goddam – it! Cộng đồng là “ cái chó “ gi mà anh phải sợ đến thế. Đèn nhà ai nấy sáng. Mình nghèo khổ,  cộng đồng nó xa lánh ngay.  Gia đình còn chưa nghĩa lý gì, nói chi thiên hạ. Toàn bọn giả nhân giả nghĩa bày trò đạo đức.

– Anh khá rành tâm lý ha!

– Tôi không hiểu con người cực đoan như anh sao lại chấp nhận di tản qua cái xứ sở đầy rẩy sự kỳ thị này?

– Tôi không có sự chọn lựa nào khác hơn,  vì sau thời gian đi học tập cải tạo về,  tôi có còn là tôi nữa đâu. Nhà cửa bị quản lý. Vợ con bị đuổi hết ra đường, đi lang thang kiếm từng bữa ăn bằng cách sống bám vào chợ trời.

– Vì thế anh chấp nhận đánh đổi?

– Với lý lịch của một tù nhân có thâm niên mười ba năm đi học tập cải tạo. Gia đình tôi bị đuổi đi vùng kinh tế mới nhiều lần, nhưng nhờ lì lợm mới trụ được ở thành phố. Trong khi nhiều gia đình do quá sợ hãi, vợ chồng con cái bồng bế nhau về nơi rừng thiêng nước độc, chết dần mòn với đủ thứ bệnh tật. Thử hỏi,  đứng trước thảm cảnh cuộc sống gia đình, cho dù là người có tinh thần yêu nước đến mấy, đành phải nuốt trôi sự nhục nhã vào lòng.

– Dễ hiểu thôi. Bởi anh từng có thời gian ở nông thôn nhưng lại không “ giác ngộ cách mạng “ nên mới ra nông nỗi?

– Anh nhặt những thông tin đó từ đâu?

– Nó có đầy rẩy trên mặt báo sau bảy lăm.

– Nói không phải chống chế. Vào thời điểm trước đó, bất kỳ người Việt Nam nào, nếu không đi lính cho bên này cũng phải đi lính cho bên kia. Tôi sống ở miền Nam phải làm lính “nguỵ quân”; trái lại, nếu sống ở miền Bắc, dĩ nhiên tôi phải cầm súng đứng về phía Cộng Sản? Sự phân biệt bên này hay bên kia, nằm trong ý đồ tạo ra sự kỳ thị giữa hai miền Nam-Bắc, nhằm chia rẽ người Việt  với người Việt, thông qua cái gọi là chiến tranh tâm lý.  Đẩy cả dân tộc vào cảnh  tương tàn, làm chảy máu giống nòi, anh em ruột thịt tàn sát lẩn nhau không chút nương tay trên khắp chiến trường.

– Xem ra cuộc đời tôi còn nhiều may mắn hơn anh, bởi từ buổi chào đời cho đến khi lớn khôn, tôi chỉ thấy sừng sửng trước mắt tòa nhà chọc trời Empire State, tượng Nữ Thần Tự Do, đài tưởng niệm Washington, đồi Capital, tòa nhà Bạch Ốc. . .  thay cho hình ảnh đất nước Châu Phi xa ngái. Vì thế tôi chỉ biết làm bạn với nỗi buồn cùng sự thất vọng ê chề, nên đã bỏ đi lang thang qua các tiểu bang, không phải để làm công việc Heili đã làm, mà đánh bạn cùng với chiếc kèn harmonica. Ngày ngày trổi lên khúc blues buồn,  thay lời oán trách cho số phận nghiệt ngã của mình.

Muốn cho Simith hiểu rõ về mình, Ngữ chậm rải kể…

Vào những năm 42,  đời sống nông thôn miền Bắc bấy giờ đang rất khó khăn. Một bộ phận dân chúng nghèo đói đã nghe lời các chủ đồn điền người Pháp đi “mộ phu” để mong có được công ăn việc làm. Do vậy, đã xảy ra một cuộc di dân lớn đi vào phía Lộc-Ninh, Hớn-Quản, Tây-Ninh, Dầu-Tiếng. Khi đó Cha Ngữ mới mười sáu tuổi, thấy hoàn cảnh gia đình bửa đói bửa no, cầm lòng không đặng, ông bèn trốn nhà theo đoàn người mộ phu ra đi vào Nam kiếm sống. Chưa đủ tuổi, cha anh phải khai thành mười tám để được nhà nước bảo hộ cấp giấy tờ tùy thân. Đang khi ngồi trên xe lửa, cha Ngữ may mắn được những người lớn tuổi khuyên nên bỏ tàu ở trạm áp cuối, nếu không muốn bị đưa lên rừng sống đời tù giam lỏng cùng với bệnh vàng da. Vì khi đã đặt chân đến đồn điền rồi, có muốn bỏ trốn cũng chẳng được.  Nghe vậy, cậu bé mười sáu tuổi đánh liều xuống tàu, trốn vào Sàigòn đi tìm người chú họ với hy vọng có được sự giúp đở. Khốn nổi, giữa đất Sàigòn lạ lẫm, đường ngang ngõ dọc biết tìm ra ông chú ở đâu? May sao trí nhớ đã giúp cậu bé hay hóng chuyện người lớn,  sực nhớ loáng thoáng cái địa chỉ mà cậu muốn tìm. Và cha Ngữ,  thay vì phải mất công đi loanh quanh tìm kiếm ông chú, vô tình lại gặp gỡ một số đông người cùng quê, đang làm phụ bếp trong các nhà hàng. Từ chỗ quen biết,  cha Ngữ được giúp đở vào làm trong một hãng sản xuất dược phẩm người Pháp. Sau đó vài năm,  nhờ có việc làm ổn định,  ông quen biết rồi lập gia đình cùng mẹ anh. Chưa bao lâu lại xảy ra việc người Nhật đảo chánh người Pháp. Đạn bom nổ  khắp Sàigòn, gây ra biết bao sự kinh hoàng. Nhận biết được sự nguy hiểm từ chiến tranh. Cha Ngữ quyết định đưa gia đình xuống Bến Tre lánh nạn. Nhờ giao thiệp giỏi, cha Ngữ xin được chỗ ngồi cho mẹ anh trải tấm vải bạt,  ngồi bán hàng xén quanh chợ Mõ Cày. Tưởng đã yên chỗ, nào ngờ sau đó cả gia đình phải lui xuống Phước Hiệp  mua đất cất nhà để cho mẹ anh có nơi sinh đẻ. Tại đây một cửa hàng tạp hóa nho nhỏ được mọc lên cạnh con sông đỏ quạch phù sa. Ngày ngày mẹ Ngữ ngồi bán kim chỉ, vải vóc,  bánh trái; trong khi cha anh chạy lên chạy xuống Mỏ Cày – Sàigòn, mua hàng giao chợ. Và cũng từ bến sông thơ mộng của miền Nam trù phú,  tôi mở mắt chào đời bên sự vui mừng khôn xiết nơi cha mẹ, láng giềng.

– Really?

– Hẳn nhiên! Điều đó chính xác như tuổi thơ tôi đã từng đứng khóc trước dãy tủ kính trưng bày hàng hóa, bị đập vỡ tan tành cùng với dấu giày đinh dày đặc do bọn lính tráng thực dân Pháp để lại qua các cuộc bố ráp,  bắt bớ, tra tấn, hảm hiếp dã man bất kỳ phụ nữ chậm chân nào trốn chạy không kịp sau tiếng mõ làng báo động.  Những tưởng hành động ghê tởm ấy chỉ ám ảnh tâm trí tôi trong thời gian ngắn. Nào ngờ, cả  khi tiếng súng tạm yên, gia đình tôi trở lại Sài Gòn làm ăn, vẫn không quên được ý chí căm thù bọn giặc ngoại xâm.

-Vậy những cái tên nhì Nậm, năm Tung, bảy Phục mà anh kể có phải là…?

Câu hỏi bất ngờ nơi Simith vô tình đưa Ngữ về gặp lại từng khuôn mặt thân quen trong thời kháng chiến chín năm ở Phước Hiệp. Một cái làng không quá dăm chục nóc gia,  sống chan hòa tình cảm bạn bè qua cách gọi tên thân mật theo từng nghề nghiệp. Cả Kim, chú hai thợ may, anh ba thợ mộc, ông tư thầy thuốc, chị hai tạp hóa, anh năm ghe bầu, . . .  quá khứ thơ ấu như chiếc võng đời đã ru Ngữ lớn lên từng ngày bên câu hò dân dã nơi dòng sông quê nghèo. Và, cũng  nhờ có thời gian sống ở miền quê trong thời buổi loạn lạc, đã giúp Ngữ thêm yêu mến các anh các chú nhì Nậm, năm Tung, bảy Phục. . .  vì dân mà đứng lên chống lại sự áp bức của kẻ thù,  dù chỉ bằng tay không hay tầm vông vạt nhọn.

– Vâng! Họ là lớp thanh niên Tiền Phong của mấy chục năm về trước. Ngữ trả lời sau nét mặt lộ vẽ buồn bực.

– Và đến nay họ là người chiến thắng trở về?

– Dĩ nhiên. Các anh các chú ấy  ngày nay đều là những người lãnh đạo cao cấp.

– Anh có thể nhờ vào sự quen biết đó. Cớ gì phải ra đi?

– Thực ra,  tôi không hề có ý định ra đi hay nhờ vã bất kỳ ai bao giờ. Tôi yêu quê hương tôi, yêu đất nước tôi với kỳ vọng sau chiến tranh, mọi người có thể góp bàn tay khối óc mình xây dựng lại quê hương đổ nát? Vì cả tin vào điều không tưởng đó. Suốt thời gian dài đi tù cải tạo, dù có phải trải qua những năm tháng khổ cực hay lao động miệt mài tận vùng  tây bắc đầy sương muối. Tôi vẫn mơ tới ngày trở về,  sống cuộc đời bình yên nơi đất nước đã qua rồi ngày dài chiến tranh. Tận hưởng phút giây được tự do nằm lăn ra trên đồi cỏ. Ngủ vùi dưới bầu trời đầy sao,  không sợ bị một ai quấy rầy. Thế nhưng, ước mơ tưởng chừng nhỏ nhoi ấy lại không thành hiện thực. Khi ngày trở về,  tôi phải chứng kiến bao sự mất mát đến không ngờ;  trước cảnh nhà cửa bị tịch thu, vợ con bị đuổi ra đường, vác đơn đi xin việc làm khắp nơi đều bị từ chối vì định kiến này nọ. Bộ mặt thật cuộc đổi đời hé lộ ra phần nào sự thật tàn nhẫn. Từ đó,  tình cảm dành cho các kháng chiến quân một thời từng được bà con tôn thờ,  thương mến, cưu mang, che chở, nay cũng mau chóng lụi tàn. Bởi,  sau ngày chiến thắng, chính những con người này đã quay lưng lại với bà con,  thông qua việc thẳng tay trấn áp trước quyền lợi của dân chúng bị xâm phạm. Thử hỏi, nếu không có được sự tin tưởng mảnh liệt từ cuộc kháng chiến chín năm như từng thấy. Liệu miền Bắc có thể chiến thắng được miền Nam? Cũng từ sự vỡ mộng nơi thần tượng ấy, khiến nhiều người mất niềm tin vào việc đi lên Xã-Hội Chủ-Nghĩa do miền Bắc lãnh đạo.

– Đó có phải là lời giải thích cho sự hiện diện của anh trên đất nước này?

– Thú thật, tôi đã phải đấu tranh với bản thân mình trong suốt thời gian dài, trước khi quyết định cho sự ra đi hay ở lại. Bởi,  ra đi là tự mình đánh mất quê hương; còn như ở lại, tương lai con cái sẽ bị chôn vùi vì lý lịch của cha nó có tới mười ba năm đi tù cải tạo.

– Có câu nói: “muốn có hòa bình phải bắt đầu từ chiến tranh?“

– Đất nước chúng tôi trải qua nhiều trận đánh nhau long trời lỡ đất khiến thế giới phải kinh hoàng. Nhưng mặt trái của việc đồng loạt loan tin chiến thắng cùng lúc từ hai phía kẻ thù, cho thấy sự dối trá đáng khinh tởm qua việc mỗi ngày phải chứng kiến hàng trăm xác người Việt vô tội, ngã xuống trong sự mòn mỏi chờ đợi hòa bình. Thứ hòa bình không có thật vì còn đang bị so kè, trả giá trong các cuộc thương lượng trên bàn hội nghị ở trại Davit.

– Xem ra, sự quỉ quyệt do chính con người  tạo ra chứ không ai khác, rồi cuối cùng đổ lỗi cho chiến tranh.

– Tiếc thay, thời gian này chưa xảy ra việc phá bỏ bức tường Berlin. Nếu không, việc thống nhất hai nước Đức với Merkel trở thành thủ lĩnh quốc gia đoàn kết dân tộc. Biết đâu đã chẳng tác động ít nhiều tới lương tri các nhà lảnh đạo cứng rắn đang còn cố tình chia cắt đất nước,  làm đau khổ thêm cho dân tộc mình. Chính vì vậy, nhiều đêm tôi thức trắng đến cay sè hai mắt, tự hỏi: “vì tội lỗi gì mà dân tộc tôi phải trả giá quá đắt cho nền hòa bình mà sự phân hóa hai miền Nam-Bắc chưa biết đến khi nào mới hàn gắn?“

– Anh nói làm tôi chợt nhớ tới A man returns. Một đoạn video kể lại chuyện một cựu quân nhân Mỹ, trong một trận chiến đã bắn chết người chiến binh VC. Tới khi lục soát trong túi áo người chết, anh ta tìm thấy tấm hình chụp chung hai bố cô con gái. Và, sau mấy mươi năm tìm kiếm, người cựu chiến binh Mỹ nhờ vào sự giúp đở của nhiều người, nhiều nơi. Cuối cùng cũng tìm ra được người con gái trong ảnh. Ông liền trở lại Việt Nam để đưa trả cô gái tấm hình mà ông cất giữ bấy lâu. Cô gái được báo trước nhiều ngày, song khi gặp nhau, một người là con gái kẻ thù, một người là kẻ thù đã giết cha cô gái. Một già một trẻ, không cùng ngôn ngữ, chỉ biết diễn đạt sự thân thiện bằng những giọt nước mắt, bằng những vòng tay ôm chặt đã khiến nhiều người có mặt không thể ngăn được sự xúc động,  ôm mặt khóc theo. Bởi người lính Mỹ đã bao năm luôn xem người con gái trong ảnh như con mình. Và, cô gái khi gặp người giết cha mình, đã quên hết hận thù vì trong tận cùng trái tim,  cô nhận thấy nơi người lính Mỹ tấm lòng một người cha.

– Wow! Một câu chuyện không chỉ cảm động mà còn thể hiện đầy tính nhân ái. Uớc chi điều đó cũng xảy ra giữa người Việt với người Việt?

Lợi dụng lúc Ngữ còn đang bối rối trong sự suy nghĩ mông lung. Simith để lại chiếc kèn trên bàn, rồi lẵng lặng ra đi không lời từ biệt. Đến khi sực tỉnh, Ngữ không còn nhìn thấy hình bóng gã nghệ sĩ da màu đâu hết. Thì ra Simith thực sự muốn anh trở thành người lính thập tự chinh, tiếp tục mang tiếng kèn đi khắp đó đây, nói lên nỗi bất hạnh nơi hàng triệu người Việt bị đánh mất quê hương.

Buồn. Ngữ cầm chiếc kèn lên, đặt đúng nơi trái tim mình, trước khi đưa nó lên miệng thổi “Người đàn ông trở về đứng hát trên thành cầu / Nghe tiếng tù và tan trên cánh đồng nắng hạn / Đôi mắt màu tro / Ứa ra những hồi niệm nhiều năm mê sảng…[3].” Tiếng kèn vang lên,  nghe như lời thở than ai oán, buồn đến nẩu ruột. /.

Minh Nguyễn
Nguồn: Tác giả gửi

[1] Mamie Smith & Her Jazz Hounds Crazy Blues (1920)
[2] Ca khúc Love Henry của Bob Dylan
[3] Blues trên cánh đồng – Thơ của Lê Thánh Thư

Đã đóng bình luận.