Tam Nguyên Yên Đổ

Posted: 21/09/2011 in Biên Khảo / Phê Bình, Lê Văn Phúc

Lê Văn Phúc


Nguyễn Khuyến (1835-1909)

Qua mấy bài truớc, bạn đọc đã nhớ lại hai bậc đại nho lừng lẫy trong văn học sử nước nhà.

Nguyễn Công Trứ thì văn tài, võ tướng hiên ngang, chí làm trai, phận sự kẻ sĩ lo tròn, công nghiệp lừng danh thiên hạ. Hồi thiếu thời chưa danh phận cũng lả lướt rong chơi  văn nghệ “giang sơn một gánh giữa đồng”. Khi đỗ đạt vẻ vang đã đem tài ra giúp nước cho thỏa chí nam nhi. Lúc về già cưỡi bò rong chơi, theo sau một lũ tiểu đồng. Nhìn lại cuộc đời, Nguyễn Công Trứ chỉ mong nếu có kiếp sau thì xin được làm cây thông đứng giữa trời mà reo chứ không muốn làm người nữa!

Trong tâm sự ấy hẳn ẩn chứa một điều gì cay đắng của kiếp nhân sinh…

Chu Mạnh Trinh cũng đỗ đại khoa, tiếng tăm lừng lẫy, cũng văn nghiệp, công nghiệp xây dựng chùa chiền, cũng nổi danh là một thi nhân có tấm lòng yêu mến thiên nhiên, có tâm hồn thanh cao, tài hoa phóng khoáng…

Đến Nguyễn Khuyến, chúng ta lại thấy thêm một nhân tài làm vẻ vang cho đất nước.

Khác với nhiều sĩ phu cũng đỗ đạt cao, tên tuổi ghi trên bia đá trong văn miếu, nhưng ngày nay chúng ta ít được nghe đến đại danh. Phải chăng những bậc ấy chỉ nổi tiếng một thời, đỗ đạt rồi ra làm quan chứ không nổi tiếng trong phạm vi văn chương thi phú.

Với Nguyễn Khuyến, người đã để lại trong văn học Việt Nam mấy trăm bài thơ chữ Hán và hàng trăm bài thơ chữ Nôm, qua nhiều thể thơ đã là một kho tàng quý giá cho hậu thế.

Tiếc rằng chữ Hán ngày nay đã không còn được thông dụng nên chúng ta chỉ còn được thưởng thức những bài thơ chữ Nôm của người xưa.

***

Nguyễn Khuyến sinh năm 1835, hồi nhỏ có tên là Nguyễn Thắng. Quê nội ở xã Yên Đổ, huyện Bình Lục,  tỉnh Hà Nam.

Thiếu thời, ông cùng Trần Bích San (người làng Vị Xuyên, đỗ tam nguyên năm 1864 -1865) là bạn học ở trường Hoàng Giáp Phạm Văn Nghị.

Ông nổi tiếng là người thông minh, hiếu học. Nhà nghèo nhưng vẫn cố gắng đèn sách học hành.

Năm giáp Tí (1864) ông thi Hương đậu Giải Nguyên, cùng khoa với mấy bạn thân là Dương Khuê ở Vân Đình và Bùi Văn Quế ở Châu Cầu.

Năm sau, thi Hội không đậu, ông ở lại kinh đô, đổi tên Nguyễn Thắng thành Nguyễn Khuyến, học trường Quốc Tử Giám.

Năm Tân Mùi (1871) ông đỗ Hội Nguyên và thi Đinh, đậu Đình Nguyên. Vì đỗ đầu cả 3 kỳ thi nên người ta gọi ông là Tam Nguyên Yên Đổ.

Tôi đã theo cuốn “Thơ Nôm Yên Đổ&Tú Xương” của Bảo Vân Bùi văn Bảo để phân loại các thể thơ, giới thiệu nhà thơ Nguyễn Khuyến cùng độc giả.

Có thể tạm chia thành các thể thơ như sau: Ngũ ngôn, thất ngôn tứ tuyệt, thất ngôn bát cú, lục bát, song thất lục bát, hát nói, câu đối, phú Đường luật.

Trước hết, thơ ngũ ngôn là thơ mỗi câu có 5 chữ. Như bài “Đầu mùa hạ”:

Tháng tư, đầu mùa hạ
Tiết trời thực oi ả
Tiéng dế kêu thiết tha
Đàn muỗi bay lả tả
Nỗi ấy ngỏ cùng ai?
Cảnh này buồn cả dạ
Biếng nhác năm canh chầy
Gà đã sớm giục giã

Ông là người có óc hài hước, nhìn đâu cũng thấy có nét lạ, thấy khác thường nên đến người tu hành dưới mắt ông cũng không thoát khỏi những lời châm chọc:

Vịnh ông sư

Đầu trọc lóc bình vôi
Nhẩy tót lên chùa ngồi
Y..a.. kinh một bộ
Lốc cốc mõ ba hồi
Cơm chẳng cần cá thịt
Ăn rặt oản, chuối, xôi
Không biết câu tình dục
Đành chịu tiếng bồ côi…

Qua thất ngôn tứ tuyệt, có bài “Phỗng đá”:

Ông đứng làm chi đó hỡi ông?
Trơ trơ như đá, vững như đồng
Đêm ngày gìn giữ cho ai đó?
Non nước đầy vơi có biết không?

Câu chót: “đầy vơi” nghe có vẻ không êm bằng “vơi đầy”!?

Còn bài nữa là bài “Chừa rượu”:

Những lúc say sưa cũng muốn chừa
Muốn chừa, nhưng tỉnh lại hay ưa
Hay ưa, nên nỗi không chừa được
Chừa được, nhưng mà cũng chẳng chừa!

Tiếp đến là thể thất ngôn bát cú. Loại 7 chữ, 8 câu được coi như sở trường của Nguyễn Khuyến, với rất nhiều bài quen thuộc với chúng ta. Xin đan cử:

Mùa thu câu cá

Ao thu lạnh lẽo nước trong veo
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo
Sóng biếc theo làn hơi gợn tí
Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo
Tầng mây lơ lửng, trời xanh ngắt
Ngõ trúc quanh co khách vắng teo
Tựa gối buông cần lâu chẳng được
Cá đâu đớp động dưới chân bèo…

Đó là một bức tranh thu, cảnh vật đều tĩnh lặng, êm ả. Có ao thu lạnh lẽo, có lá vàng trước gió sẽ đưa vèo, có trời xanh ngắt, có ngõ trúc quanh co  và một người ngồi ôm cần chỉ thấy cá đâu đớp động dưới chân bèo.

Như một bức tranh quê ẩn hiện tâm sự của tác giả, lẩn quất trong cảnh vật thiên nhiên, mang một dáng buồn man mác…

Qua đến mùa hè, tác giả cũng có bài “Vào hè”:

Ai xui con cuốc gọi vào hè
Cái nóng nung người, nóng nóng ghê
Ngõ trước, vườn sau um những cỏ
Vàng phai, thắm nhạt ngán cho huê
Đầu cành kiếm bạn, oanh xao xác
Giữa xóm đua bay, đóm lập loè
May được nồm nam cơn gió thổi
Đàn ta, ta gẩy khúc Nam nghe…

Nguyễn Khuyến riễu người nhưng cũng tự riễu mình, một con người dở dở ương ương, đánh cờ rất thấp, đánh bạc thì chạy làng, nói năng gàn bát sách…Vậy mà cũng bia xanh, cũng bảng vàng ! Như bài « Tự trào » :

Cũng chẳng giầu mà cũng chẳng sang
Chẳng gầy, chẳng béo, chỉ làng nhàng
Cờ đương dở cuộc, không còn nước
Bạc chửa thâu canh đã chạy làng
Mở miệng nói ra gàn bát sách
Mềm môi chén mãi, tít cung thang
Nghĩ mình cũng  gớm cho mình nhỉ !
Thế cũng bia xanh, cũng bảng vàng !

Nhắc lại : Ông đỗ đầu cả 3 kỳ thi, gọi là tam giáp tiến sĩ tức Tam Nguyên Yên Đổ !

Chưa hết, ông còn 2 bài tự rỡn mình, xin chọn bài « Tiến sỉ giấy 2 » :

Cũng cờ, cũng biển, cũng cân đai
Cũng gọi Ông Nghè có kém ai
Mảnh giấy làm nên thân giáp bảng
Nét son điểm rõ mặt văn khôi
Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ ?
Cái giá khoa danh, thế mới hời !
Ghế tréo, lọng xanh, ngồi bảnh chọe
Nghĩ rằng đồ thật hoá đồ chơi !

Tác giả sống trong thời kỳ Pháp đô hộ nước ta. Ngày hội Tây, có lắm trò chướng tai gai mắt. nên dưới mắt Nguyễn Khuyến, nhận xét thế này :

Hội tây

Kià hội thăng bình, tiếng pháo reo
Bao nhiêu cờ kéo với đèn treo
Bà quan  tênh nghếch xem bơi trải
Thằng bé lom khom nghé hát chèo
Cậy sức, cậy đu, nhiều chị nhún
Tham tiền, cột mỡ lắm anh leo
Khen ai khéo vẽ trò vui thế
Vui thế bao nhiêu nhục bấy nhiêu !

Nhục đây là nhục mất nước, nhục làm nô lệ !

Ông có người bạn học cũ làm Tuần Phủ, tính keo kiệt, bủn xỉn, lại có hiềm khích với Nguyển Khuyến. ông bạn chỉ lo làm giầu nên mất cướp. Nguyễn Khuyến có bài thơ như sau :

Tôi nghe kẻ cướp nó lèn ông
Nó lại lôi ông đến giửa đồng
Lấy của, đánh người, quân tệ nhỉ !
Thân già, da cóc có đau không ?
Bây giờ trót đã sầy da trán
Ngày trước đi đâu mất mẩy lông
Thôi cũng đừng nên ky cóp nữa
Kẻo mang tiếng dại với phường ngông !

Tả cảnh mình nhà nghèo mà có bạn đến chơi, không biết tiếp đón ra sao, ăn uống thế nào, Nguyễn Khuyến đã có một bài thơ rất khéo, rất thực tình, bộc bạch cảnh nhà nỗi khó, chỉ còn bạn với ta nhìn nhau cũng đủ cười khà !

Bạn đến chơi nhà :

Đã bấy lâu nay bác tới nhà
Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa
Ao sâu, nước cả khôn chài cá
Vườn rộng, rào thưa khó đuổi gà
Cải chửa ra cây, cà chửa nụ
Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa
Đầu trò tiếp chuyện, trầu không có
Bác đến chơi đây, ta với ta.

Tả cảnh nghèo mà khéo đến như thế phải coi là tuyệt diệu !

Mùa lụt, bạn ông là Bùi văn Quế ở Châu Cầu cũng chịu cảnh lụt lội. Ông có thơ thăm bạn như sau :

Lụt hỏi thăm bạn

Ai lên nhắn hỏi bác Châu Cầu
Lụt lội năm nay, bác ở đâu ?
Mấy ổ lợn con, rầy lớn bé ?
Vài gian nếp cái, ngập nông, sâu ?
Phần thua, suy tính càng thêm thiệt
Tuổi cả, chơi bời hoá sống lâu
Em cũng chẳng no mà chẳng đói
Thung thăng chiếc lá, rượu lưng bầu…

Một bài nữa cũng rất khó, rất lạ với vần trắc ở cuối mỗi câu, xem ra ít có ai soạn được theo lối đó.

Nguyễn Khuyến có bài “Cảnh tết”:

Năm ngoái, năm kia đói muốn chết
Năm nay phong lưu đã ra phết!
Thóc mùa, thóc chime hãy còn nhiều
Tiền nợ, tiền công chưa trả hết
Trong nhà rộn rịp gói bánh chưng
Ngoài ngõ bi bô rủ chung thịt
Ta ước gì được mãi như thế
Hễ hết Tết rồi, thời lại Tết!

Nguyễn Khuyến đã trải qua nhiều cảnh ngộ trong cuộc đời, từ nghèo khổ đến hiển vinh, từ ấu thơ đến lúc tuổi về chiều. Và đây là bức tranh của một ông già khi xế bóng, mọi thứ đều có chiều hướng đi xuống, kèm nhèm, khấp khểnh, phút chốc đã thấy mình già.

Đây là “Cảnh già”:

Nhớ từ năm trước hãy thơ ngây
Phút chốc mà già đã đến ngay
Mái tóc chòm xanh, chòm lốm đốm
Hàm răng chiếc rụng, chiếc lung lay
Nhập nhằng bốn mắt tranh mờ tỏ
Khấp khểnh ba chân dở tỉnh say
Còn một nỗi này thêm chán ngắt
Đi đâu dở những cối cùng chầy…

Nguyễn Khuyến đã từng trải qua cảnh nghèo. Nhưng ông chấp nhận cảnh nghèo một cách rất tự nhiên và thi  vị hoá cảnh nghèo cũng rất ư là lịch sự. Xin cùng đọc “Đừng nghĩ tết tôi nghèo”:

Anh em đừng nghĩ tết tôi nghèo
Tiền bạc trong kho chửa lĩnh tiêu
Rượu cúc nhắn đem, hang biếng quẩy
Trà sen mượn hỏi, giá còn kiêu
Bánh đường sắp gói, e nồm chảy
Giò lụa toan làm, sợ nắng thiu
Thôi thế thì thôi đành tết khác
Anh em đừng nghĩ tết tôi nghèo.

Sang đến thể song thất lục bát, bài thơ được biết đến nhiều nhất vẫn là bài “Khóc bạn Dương Khuê”. Người đọc thấy ở đây mối thân tình bằng hữu cùng học hành đỗ đạt, cùng ra làm quan, cùng chung chén rượu tiếng đàn sênh phách, cùng văn chương chữ nghĩa thênh thang, cùng tuổi già sức mỏi thân mòn. Nhưng người đi trước đã để lại cho kẻ đi sau biết bao nhiêu tâm sự ngậm ngùi!

Tiếng khóc của người  khóc bạn chỉ còn là những giọt như sương…

Nguyễn Khuyến viết bài này nguyên bản chữ Hán rồi tự dịch sang chữ Nôm. Một bài khóc bạn vừa dài, vừa thê thiết lại vừa ẩn chứa biết bao nhiêu thương nhớ khôn cùng:

Bác Dương thôi đã thôi rồi
Nước mây man mác, ngậm ngùi lòng ta!
Nhớ từ thuở đăng khoa ngày trước
Vẫn sớm hôm, tôi bác cùng nhau
Kính yêu từ trước đến sau
Trong khi gặp gỡ, khác đâu duyên trời
Cũng có lúc chơi nơi dặm khách
Tiếng suối nghe róc rách lưng đèo
Có khi từng gác cheo leo
Thú vui con hát lựa chiều cầm xoang
Cũng có lúc rượu ngon cùng nhắp
Chén quỳnh tương ăm ắp bầu xuân
Có khi bàn soạn câu văn
Biết bao đông bích, điển phần trước sau (*)
Buổi dương cửu cùng nhau hoạn nạn (**)
Phận đẩu thăng chẳng dám kêu trời (***)
Bác già, tôi cũng già rồi
Biết thôi, thôi thế thì thôi mới là…
Muốn đi lại, tuổi già thêm nhác
Trước ba năm, gặp bác một lần
Cầm tay, hỏi hết xa gần
Mừng rằng bác vẫn tinh thần chưa can
Kể tuổi tôi còn hơn tuổi bác
Tôi lại đau trước bác mấy ngày
Làm sao bác lại về ngay?
Chợt nghe, tôi bỗng chân tay rụng rời
Ai chẳng biết chán đời là phải
Sao vội vàng đã mải lên tiên?
Rượu ngon không có bạn hiền
Không mua, không phải không tiền không mua!
Câu thơ nghĩ đấn đo không viết
Viết đưa ai? Ai biết mà đưa ?
Giường kia treo những hửng hờ
Đàn kia gẩy cũng ngẩn ngơ tiếng đàn
Bác chẳng ở, dẫu van chẳng ở
Tôi tuy thương, lấy nhớ làm thương
Tuổi già, hạt lệ như sương
Hơi đâu chuốc lấy hai hàng chứa chan!

(*): Vách đông để sách, vườn tây đặt bút nghiên
(**): Ý nói những năm hoạn nạn.
(***): Thời ly loạn, từ quan về ở ẩn.

Nguyễn Khuyến ví tình bạn với Dương Khuê cũng như đôi bạn Bá Nha – Chung Tử Kỳ,  tri âm, tri kỷ. Khi Chung Tử Kỳ mất rồi thì Bá Nha cũng đập vỡ cây đàn…

Nguyễn Khuyến còn bài “Di chúc” khá dài, dặn dò con cháu lo đám tang cho mình.

Trong văn học sử, ít có ai cẩn thận đến như thế!

Xin cùng nghe những lời dặn dò của nhà thơ Nguyễn Khuyến như sau:

Kém hai tuổi xuân đầy chín chục
Số thầy sinh phải lúc dương cùng (1)
Đức thầy đã mỏng mòng mong
Tuổi thầy lại sống hơn ông cụ thầy
Học chẳng có rằng hay chi cả
Cưỡi đầu người kể đã ba phen (2)
Tuổi là tuổi của gia tiên
Cho nên thầy được hưởng niên lâu ngày.

Ấy thuở trước ông mày chẳng đỗ (3)
Hoá bây giờ cho bố làm nên
Ơn vua chưa chút báo đền
Cúi trông hổ đất, ngửa lên thẹn trời
Sống không để tiếng đời ta than
Chết được về quê quán hương thôn
Mới hay trăm sự vuông tròn
Sống lâu đã trải,chết chon chờ gì?
Đồ khâm liệm chớ nề xấu tốt
Kín chân tay đầu gối thời thôi
Cỗ đừng to lắm con ơi!
Hễ ai chạy lại, con mời người ăn
Tế đừng có viết văn mà đọc
Trướng đối đừng gấm vóc làm chi
Minh tinh con cũng bỏ đi (4)
Mời quan  đề chú con thì chớ nên (5)

Môn sinh cho bố tiền đặt giấy
Bạn của thầy cũng vậy mà thôi
Khách quen chớ viết thiếp mời
Ai đưa lễ phúng, con thời chớ thu
Chẳng qua nợ để cho người sống
Chết đi rồi còn ngóng vào đâu!
Lại mang cái tiếng to đầu
Khi nay bày biện, khi sau chê bàn
Cờ biển của vua ban ngày trước
Khi đưa thầy, con rước đầu tiên
Lại thuê một lũ phường kèn
vừa đi vừa thổi, mỗi bên dăm thằng
Việc tống  táng nhung nhăng qua quit
Cúng cho thầy một ít rượu hoa
Đề vào mấy chữ trong bia
Rằng ”Quan nhà Nguyễn cáo về đã lâu”.

(1): Đến ngày tận số
(2): Ba kỳ thi đều đỗ đầu
(3): Ông cụ thân sinh cũng là khoa bảng nhưng không đậu cao
(4): Mảnh lụa,vải hay giấy đề tên tuổi, chức vụ, địa vị người chết
(5): Viết tên hiệu người chết, thưòng do người có chức tước làm.

Với thể lục bát, xin trích 4 câu ngắn của bài “Sông Lấp Nên Đồng” nghĩ về cảnh đổi thay của đất nước, của cuộc đời, cũng là gửi gấm tâm sự của tác giả:

Sông kia rầy đã nên đồng
Chỗ làm nhà cửa, chỗ trồng ngô khoai
Nằm nghe tiếng ếch bên tai
Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò?

Đến thể Phú Đường Luật, chúng ta thường nghe đến bài phú “Thầy đồ dậy học”.

Đây là cảnh dậy học ngày xưa ở thôn quê. Học trò nghèo mà thầy cũng nghèo. Nhưng thầy thì vẫn cứ là giấy rách giữ lề, vẫn ra thói phong lưu rất mực:

Thầy đồ, thầy đạc
Dậy học, dậy hành
Vài quyển sách nát
Dăm thằng trẻ ranh
Văn có hay đã đỗ làm quan, võng điều võng tía
Võ có giỏi đã ra giúp nước, khố đỏ khố xanh
Ỳ hẳn thầy văn dốt, vũ rát
Cho nên thầy luẩn quẩn, loanh quanh.
Trông thầy:
Con người phong nhã
Ở chốn thị thành
Râu rậm bằng chổi
Đầu to tầy giành!
Cũng có phen đi đó, đi đây, thất điên bát đảo
Cũng nhiều lúc chơi liều, chơi lĩnh,tứ đốm tan khoanh!
Nhà lính, tính quan, ăn rặt những thịt quay, lạp xường, mặc những quần vân áo xuyến
Đất lề, quê thói, chỗ ngồi cũng án thư, bàn độc, ngoài hiên cũng cánh xếp mành mành….
Gần có một mụ
Sinh được bốn anh
Tên Uông, tên Bái
Tên Bột, tên Bành
Mẹ muốn con hay, rắp một nỗi biển, cờ, mũ, áo
Chủ rước thầy học, tính đủ tiền chè, rượu, cơm, canh
Chọn ngày lễ bái
Mở cửa tập tành
Thầy ngồi chễm chệ
Trò đứng chung quanh
Dậy câu Kiều lẩy
Dậy khúc lý Kinh
Dạy những khi xuống ngựa, lên xe, đứng ngồi phải phép
Dạy những lúc cao lâu, chiếu hát, ăn nói cho sành…

Ngoài ra, ông còn có những câu đối, văn tế, coi như đủ mục.

***

Những bài thơ trên, hầu hết bạn đọc đã học, đã nhớ cả rồi.

Chép lại cũng chỉ mong kẻ hậu sinh không quên  thiên tài của tiền nhân để lại.

Nói tóm lại, trong cuộc đời của Nguyễn Khuyến, khi đỗ đạt ra làm quan ở nội các Huế, khi làm đốc Học Thanh Hoá, khi làm bố Chánh Quảng Ngãi, làm Toàn Tu ở Quốc Tử Giám, trong cương vị nào ông cũng giữ được phẩm giá, nổi tiếng là người thanh liêm, chính trực.

Thời ông lam quan thì việc nước đã rối ren, Pháp chiếm xong miền Nam, kéo quăn ra Hà Nội, lần thứ nhất khiến Nguyễn Tri Phương bị thương, nhịn ăn mà chết. Lần thứ hai (1882), Hoàng Diệu thắt cổ tự tử.

Năm sau, Nguyễn Khuyến được đề cử Quyền Tổng Đốc Sơn Tây nhưng ông đau buồn vì vận nước, không muốn cộng tác với người Pháp nên lấy cớ đau mắt, cáo quan về quê sống đời đồng ruộng, gửi gấm tâm sự vào thơ.

Xuất thân từ một gia đình thanh bần, nuôi chí lớn  học hành, đỗ đạt vinh quy hiển hách, ông đã  là một tấm gương sáng chói.

Có tài làm thơ Hán Nôm với tâm hồn thi sĩ mênh mang tình ý, nhà thơ đã trải rộng tấm lòng mình cùng bầu bạn, thiên nhiên, để lại cho hậu thế những vần thơ đầy ắp tình người, rung động trước thiên nhiên, nhìn cuộc đời qua một lăng kính của một thi nhân, một triết nhân, cảnh ngộ nào cũng tìm được nét vui trong niềm vui của mình và tâm hồn rộng mở…

Tam Nguyên Yên Đổ mất năm 1909, hưởng thọ 74 tuổi tại quê nhà.

Lê Văn Phúc
07-2011
Nguồn: Phan Ni Tấn chuyển bài

Đã đóng bình luận.