Dịch là phản?

Posted: 04/11/2011 in Biên Khảo / Phê Bình, Nguyễn Bảo Hưng

Nguyễn Bảo Hưng
Traduttore, traditore (châm ngôn Ý)

Sáng 12-8-2011, khi vào trang Thư Viện Sáng Tạo trên máy vi tính tôi cảm thấy hứng khởi khi thấy giới thiệu ở ngay dòng đầu : “Người khách lạ (Truyện ngắn; Albert Camus; Võ Công Liêm chuyển ngữ)” và định bụng sẽ mở đọc liền. Hứng khởi, vì trước tình trạng sinh hoạt văn học Việt Nam hầu như dậm chân tại chỗ hiện nay, việc cho quảng bá một tác phẩm có giá trị văn học quốc tế của một nhà văn từng được giải thưởng Nobel tôi cho là một việc làm rất hữu ích và cần thiết. Thoat đọc cái tựa “Người khách lạ”, tôi nghĩ ngay tới nhân vật Meursault và cuốn “L’Etranger” (1942) của A.Camus. Nhưng chỉ sau mấy dòng đầu, tôi đã ngỡ ngàng vì không gặp mấy câu văn để đời nói lên thái độ dửng dưng, hầu như vô cảm của một đứa con có bà mẹ mới chết (mà tôi đã thuộc nằm lòng) : “Aujourd’hui maman est morte. Ou peut-être hier, je ne sais pas.»(Hôm nay mẹ mất. Mà cũng có thể là hôm qua, tôi không biết nữa). Rồi, chỉ cần đọc thêm không đầy nửa trang, tôi liền nhận ra đây là bản dịch truyện ngắn mang tựa đề « L’hôte » trong tập truyện « L’Exil et le Royaume » (1957). Tiếp tục đọc tới dòng cuối tôi mới biết người dịch đã không dựa trên nguyên tác, mà dịch lại theo một văn bản đã được dịch từ tiếng Pháp ra tiếng Anh. Rút kinh nghiệm những lần gặp phải một số bản dịch không được dịch từ nguyên tác, mà lại dựa trên bản dịch lại bằng một ngôn ngữ khác, tôi vội đem đối chiếu bản dịch tiếng Việt với nguyên tác « L’hôte » của Camus trong tập « L’Exil et le Royaume » sẵn có. Và tôi đã phải thất vọng với những mong muốn hứng khởi ban đầu.

Thất vọng, vì bản dịch có quá nhiều đoạn lệch lạc không nói lên được nội dung tư tưởng của Camus và cho thấy văn phong tài hoa của ông trong cách chọn từ, sử dụng câu chữ. Thất vọng, vì một bản dịch như vậy không giúp ích cho độc giả muốn giao tiếp với văn học nước ngoài để mở rộng tầm nhìn, nâng cao nhận thức và trình độ thưởng ngoạn của mình. Xin nói rõ tôi không hề có ý chỉ trích, bài bác cốt để gây tranh luận ồn ào vô bổ. Tôi cũng không hề có ý phê phán hay chê bai việc làm của ông Võ Công Liêm. Nếu bản dịch của ông có những sai sót, lệch lạc, rất có thể những  sai lệch đó bắt nguồn từ bản dịch ra tiếng Anh mà ông sử dụng. Còn tôi, nếu có đưa ra một vài nhận xét như trên thì cũng không ngoài mục đích xây dựng đóng góp để biến việc làm dịch thuật và giới thiệu văn học nước ngoài thành một công tác văn hóa mà thôi. Để có cơ sở kiểm chứng và thảo luận nghiêm túc, trước hết, tôi xin lấy ra hai đoạn ngắn của bản dịch, sau đó là hai đoạn nguyên tác tương đương mà tôi gắng dịch lại sao cho sát với ý tưởng và phong cách diễn tả Camus.

Đoạn 1 : Từ giũa dòng 33 đến dòng 44 của bản dịch.

« …Hằng ngày Daru còn phân phát thực phẩm cho lũ trẻ con nghèo mà không có người chăm sóc. – « Có lẽ cũng cần đến những bậc cha, anh đến đây mỗi tối để chia xẻ miếng ăn với đám trẻ con thì hơn ». Daru nghĩ như thế.

Giờ này ; nạn đói sẽ không còn tiếp diễn nhờ tàu Pháp tiếp tế lúa mì và thực phẩm tới đây. Thật khó quên những ngày tháng gian khổ, mà chiến tranh thì như những bóng ma, chập chờn khi xuất khi hiện, gây hư hại không biết bao điều. Mặt đất như thau lại và cằn cỗi, sách vở cũng bị đốt cháy nằm chung với đống gạch vụn trải lên mặt đất. Hàng trăm gia súc chết mà chẳng mấy ai màng tới. Đứng trước nỗi khổ đó, thầy giáo Daru biến mình như kẻ tu hành ở một nơi xa xôi hẻo lánh và cho đó là niềm vui trong cuộc sống đầy gian khổ như hôm nay. Đôi khi Daru cảm thấy mình như một lãnh chúa, đối diện với bức tường vôi trắng đương đầu với thiếu thốn, bên cạnh đó còn phải lo toan những thứ khác kể cả nước uống và thức ăn.

Đột nhiên trời đổ tuyết, không dự báo, mong có mưa mà mưa không tới. Vùng đất này là thế đó ! nhiều khi thấy thật là tàn nhẫn, ngay cả những người ở đây cũng thờ ơ, lãnh đạm. Nhưng Daru đã sinh và lớn lên ở đây hay bất cứ nơi đâu. Daru cảm thấy mình như kẻ bị lưu đày. 

Và sau đây là trích đoạn theo nguyên tác :

« … Chaque jour, Daru distribuait une ration aux petits. Elle leur avait manqué, il le savait bien, pendant ces mauvais jours. Peut-être un des pères ou des grands frères viendrait ce soir et il pourrait les ravitailler en grains. Il fallait faire la soudure avec la prochaine récolte, voilà tout. Des navires de blé arrivaient maintenant de France, le plus dur était passé. Mais il serait difficile d’oublier cette mísère, cette armée de fantômes haillonneux errant dans le soleil, les plateaux calcinés mois après mois, la terre recroquevillée peu à peu, littéralement torrérifiée, chaque pierre éclatant en poussière sous le pied. Les moutons mouraient alors par milliers, et quelques hommes, çà et là, sans qu’on puisse toujours le savoir.

Devant cette mísère, lui qui vivait presque en moine dans cette école perdue, content d’ailleurs du peu qu’il avait, et de cette vie rude, s’était senti un seigneur, avec ses murs crépis, son divan étroit, ses étagères de bois blanc, son puits et son ravitaillement hebdomadaire en eau et en nourriture. Et, tout d’un coup, cette neige, sans avertissement, sans la détente de la pluie. Le pays était ainsi, cruel à vivre, même sans les hommes,  qui, pourtant n’arrangeaient rien. Mais Daru y était né. Partout ailleurs, il se sentait exilé. (CAMUS, L’Exil et le Royaume , L’hôte.- Coll. Folio – Edition Gallimard 1957, p. 83).

Chỉ cần đối  chiếu bất cứ câu văn nào của bài dịch với nguyên tác, ta cũng cảm thấy người dịch tỏ ra dịch rất tùy tiện, dịch phóng tác (hay dịch sáng tạo ?). Riêng với những đoạn như :  «Thật khó quên những ngày tháng gian khổ, mà  chiến tranh thì chập chờn như những bóng ma, khi xuất khi hiện, gây hư hại không biết bao điều. », « … sách vở cũng bị đốt cháy nằm chung với đống gạch vụn trải lên mặt đất… »…, thành thực mà nói, nếu Camus biết được, chắc ông sẽ phải đội mồ thức dậy, dụi mắt bóp trán tự hỏi không biết mấy câu văn này mình viết ra hồi nào nhỉ? Tôi đã đọc đi đọc lại nhiều lần nguyên tác ở đoạn này và không hề thấy có chỗ nào Camus nói tới chiến tranh hay đốt sách vở  cả. Rất có thể tác giả mấy câu dịch này, vì thấy mấy chữ cette armée de fantômes hoặc littéralement torérifiée mà suy ra như vậy. Nhưng chữ armée ở đây chỉ có nghĩa đông đảo như một đôàn quân, còn littéralement đúng theo nghĩa từ vựng hay nghĩa đen mà  thôi.  Giả dụ tôi muốn dịch đoạn văn này theo nguyên tác, tôi xin phép được tạm dịch ra như sau :

« Mỗi ngày, Daru phân phát một khẩu phần cho bọn nhỏ. Ông biết rằng chúng không có được khẩu phần đó gặp những ngày của thời buổi khó khăn này. Có thể một ông bố hay một người anh lớn nào đó sẽ tới chiều nay và ông có thể tiếp tế cho bọn nhỏ bằng hạt lúa mi. Phải làm sao cầm cự được cho tới mùa gặt tới, có vậy thôi. Giờ đã có những chuyến tàu chở lúa mì từ Pháp tới. Coi như trở ngại lớn nhất đã vượt qua. Nhưng khó mà quên được cảnh đói khổ này, những đoàn người rách rưới lang thang như những bóng ma dưới ánh mặt trời, những bình nguyên thiêu bỏng hết tháng này qua tháng khác, mặt đất thì bị  rang cháy mỗi lúc như co thắt lại, mỗi viên đá tan ra thành bụi dưới bước chân. Bày cừu thì chết cả ngàn con, và rải rác đó đây, cũng có vài người chết mà chẳng ai hay biết.

Trước cảnh cơ cực này, vốn quen sống như  một thầy tu trong ngôi trường hẻo lánh, vả lại đã bằng lòng với cái ít oi và đới sống khắc khổ này, ông cảm thấy mình sống như lãnh chúa với những bức tường trét vôi, tấm phản hẹp, một vài cái kệ  bằng gỗ trắng, cái giếng nước, cùng với thực phẩm và nước hàng tuần tiếp tế đều đều.Thế rồi, khi không, tuyêt ào ào đổ xuông, chẳng báo trước mà cũng chẳng  chờ đợi  một cơn mưa dọn đường. Cái xứ này vậy đó, đời sống nghiệt ngã làm sao, ngay cả khi chẳng có con người, và, dù cho có họ, thì cũng chẳng đem lại dàn xếp nào. Nhưng Daru đã sinh ra tại đây. Ở bất kỳ nơi nào khác, ông đều cảm thấy mình là kẻ lưu đày.

Ở trích đoạn trên, ta nên chú ý tới cách sử dụng chọn lọc một số từ ngữ đặc biệt, có thể nói mới lạ, gợi hình cụ thể, gây ấn tượng mạnh mẽ như : faire la soudure (nghĩa đen là hàn sì), la terre recroquevillée, torrérifiée. Ngoài ra ta cũng cần ghi nhớ hai câu chót : Chúng nằm trong số một vài câu chủ chốt giúp ta nắm được nội dung tư tưởng Camus. Nhưng có lẽ ta cũng cần biết sơ qua nội dung truyện ngắn này : Daru là một dân Pháp chính gốc nhưng sinh trưởng tại Algérie, như Camus. Ông ta được bổ nhiệm làm giáo viên duy nhất cho ngôi trường làng tại một vùng cao nguyên sa mạc hẻo lánh trắc trở. Thời đó, Algérie còn trong tình trạng lạc hậu chậm tiến nên trường sở còn được sử dụng làm nơi dự trữ thực phẩm, và Daru kiêm nhiệm chức quản kho và phân phối thực phẩm cho học trò. Còn Algérie, tuy vẫn là thuộc địa của Pháp, nhưng đã manh nha một phong trào nổi dậy. Câu chuyện xảy ra vào lúc nhà trường phải đóng cửa vì tuyêt rơi phủ lấp từ mấy ngày qua, học sinh không thể đến trường. Bữa đó, Daru thấy hai người tiến về phía mình : đó là viên hiến binh già Balducci dẫn dắt một tên Ả Rập phạm tội đâm chết một người  bà con trong một vụ cãi vã. Balducci có trách nhiệm bàn giao phạm nhân cho Daru, sau đó phải về ngay nhiệm sở do tình hình an ninh đòi hỏi. Và Daru có nhiệm vụ giải can phạm tới nhà tù dưới thành phố cách đó khoảng hai mươi cây số. Vốn tôn trọng luật pháp, nhưng sinh ra và lớn lên tại Algérie nên biết rõ tâm tính và tập tục của người dân xứ này, Daru không muốn lãnh công việc giải tù. Nhưng đó là lệnh hành chánh nên Daru đành miễn cưỡng chấp nhận. Y định bụng sẽ làm ngơ để phạm nhân có cơ hội trốn thoát. Sáng hôm sau, Daru dẫn tên Ả Rập tới một đỉnh cao, trao cho hắn một gói lương khô với một ngàn quan, rồi chỉ cho hắn hai hướng đi đê hắn tùy nghi lựa chọn : một đằng là hướng đông là hướng về phía nhà tù ; một dằng là hướng nam là phía sa mạc của dân du mục tức là hướng của tự do. Trái với dự đoán của Daru, tên Ả Rập đã chọn hướng đông tức là hướng của nhà tù. Khi Daru về đến trường,  trên bảng đen thấy ghi một hàng chữ nguệch ngoạc : « Ngươi đã giao người anh em ta, ngươi sẽ phải trả nợ. »

Nếu ta đọc Albert Camus để chỉ cần biết đầu đuôi câu chuyện ra sao, ta có thể đọc bản dịch này hay bất cứ bản dịch tầm tầm nào khác cũng được. Nhưng muốn đọc Camus như là nhà văn từng được trao tặng giải thưởng văn học Nobel, thì ta cần có những bản dịch chăm sóc hơn, chú ý tới từng câu chữ ông sử dụng. Bởi vì văn chương Camus không phải là văn chương truyện kể, mà thuộc loại văn chương hàm xúc ẩn dụ và ngôn ngữ ông là thứ ngôn ngữ đa tầng đa nghĩa. Ta có thể tìm thấy các đặc tính này của văn chương ông ngay trong câu chuyện đầu tiên mang tựa đề « La femme adultère » trong tập « L’Exil et le Royaume » (sdd. tr. 11 – 34) : Janine, vợ của một thương gia buôn vải, vẫn quen sống tại Pháp. Để thay đổi không khí, lần đầu tiên nàng theo chồng sang Algérie trong một chuyến đi chào hàng. Nhưng suốt cuộc hành trình, và ngay cả khi dừng nghi ở khách sạn, Janine vẫn gặp lại cái không khí ngột ngạt, nhàm chán của cuộc sống đơn điệu thường ngày. Ngoại trừ cái nhìn chăm chăm của người lính Pháp ngồi ở hàng ghế đối diện là còn đánh thức được người con gái nơi nàng đôi chút. Đêm đó tại khách sạn, trong lúc chồng đang ngủ say, Janine lẻn ra ngoài, chạy về phía pháo đài nơi chồng nàng đã dẫn lên hồi chiều. Janine leo lên thượng tầng và nhìn về phía sa mạc bao la. Trong bóng đêm bỗng sảng rực muôn vàn ánh sao, và dưới sự mơn trớn của làn gió mát như đến từ khoảng không gian bao la vô tận, Janine  thấy mình như được thoát ly và cảm thấy toàn thân tràn ngập một hoan lạc đê mê như vừa được thỏa mãn  mây mưa với người tình trong mộng. Sau đó,  trở về phòng,  Janine ôm mặt khóc nức nở vì hạnh phúc chợt bắt gặp trước cặp mắt ngơ ngác của ông chồng vừa thức giấc.

Người đọc từng làm quen với loại ái tình tiểu thuyết của bà Tùng Long hay Quỳnh Dao chắc không tránh khỏi bỡ ngỡ vì chờ mãi mà chẳng thấy hành vi dan díu nào của Janine cả. Thực ra Janine không hề phản bội chồng. Nếu nàng có mang mặc cảm ngoại tình cũng chỉ vì nàng đã tìm ra được hạnh phúc trong giây phút thoát ly và sống giao cảm với thiên nhiên, cái hạnh phúc đầy cảm xúc hoan lạc ái ân mà người chồng đã không đem lại cho nàng. Cái thông điệp mà Camus  muốn gửi  đến chúng ta qua câu chuyện này, cũng như các câu chuyện khác trong toàn tập là thế : Nếu khung cảnh cuộc sống hàng ngày là nhàm chán, vô nghĩa, vô vị và cho ta cảm giác của một chốn lưu đày, thì bên trong nó hay bên trên nó vẫn có một miền đất lạ chan hòa hạnh phúc để ta tìm ra một vương quốc hay một quê hương.

Trở về với câu chuyện « L’hôte », đối tượng của bài viết này. Cũng như từ adultère trong « La femme adultère », Camus đã chọn từ hôte đa tầng đa nghĩa để làm tựa cho một câu chuyện cũng mang ý nghĩa ẩn dụ. Theo từ điển Pháp từ hôte, trước hết, có nghĩa là khách mời hay khách trọ, và nghĩa này là để dành cho can phạm Ả Rập. Nhưng từ hôte còn có thể áp dụng cho thầy giáo Daru vì từ hôte cũng có nghĩa là chủ nhà hay chủ trọ. Và nghĩa này không chỉ đúng với Daru như là chủ ngôi trường nhiệm sở, mà còn đúng cả với Daru như là chủ của vùng đất mà, mặc dù điều kiện thời tiết và sinh sống khắc nghiệt, ông vẫn muốn chọn làm quê hương. (coi hai câu chót của phần trích dăn trên: Mais Daru y était né. Partout ailleurs, il se sentait exilé.) Nhưng nếu ta đi tới đoạn cuối câu chuyện, ta sẽ thấy từ hôte cũng có thể dành cho Daru theo nghĩa khách mời hay khách trọ, bởi vì ngay trên mảnh đất ông muốn chọn làm quê hương, ông bỗng cảm thấy lạc lõng cô đơn như không còn là một chốn quê nhà, như trong đoạn cuối câu chuyện tôi xin trích lại dưới đây :

Trước hết, theo bản dịch trên Thư Viện Sáng Tạo :

« Lên lớp hôm nay ; đứng trước bục giảng. Sau lưng thầy Daru là tấm bảng đen vẽ mấy nhánh sông của đất nước Pháp, chảy ngoằn nghèo, ông run rẩy viết lên hàng chữ đề tặng : « Hãy trở lại với người anh  em mình mà anh sẽ được trả ơn ». Thầy giáo Daru nhìn cảnh trời, vùng đất cao nguyên xa lạ và bờ biển cuối chân trời. Trong cảnh hoang sơ này thầy đã thấy và yêu nhiều thứ hơn bao giờ. Mặc dù sống cô đơn ở đây. »

Và sau đây là đoạn chót theo nguyên tác, mà tôi cố gắng dịch lại sao cho sát ý và phản ánh trung thực tư tưởng Camus :

«Un peu plus tard, planté devant la fenêtre de la salle de classe, l’instituteur regardait sans la voir la jeune lumière bondir des hauteurs du ciel sur toute la surface du plateau. Derrière lui, sur le tableau noir, entre les méandres des fleuves français s’étalait, tracée à la craie par une main malhabile, l’ínscription qu’il venait de lire : « Tu as livré notre frère. Tu paieras. » Daru regardait le ciel, le plateau et, au-delà, les terres invisibles qui s’étendaientt jusqu’à la mer. Dans ce vaste pays qu’il avait tant aimé, il était seul. » (Sdd. tr.99)

(Ít lâu sau, đứng không nhúc nhích trước cửa sổ phòng học, người giáo viên ngó bằng cặp mắt vô hồn ánh sáng vàng tươi từ lưng trời ùa xuống tràn ngập khắp vùng cao  nguyên. Sau lưng ông, trên tấm bảng đen, giữa các hình vẽ mấy con sông Pháp chảy ngoằn nghèo, hiện lên hàng chữ viết bằng phấn bởi một bàn tay vụng về ông vừa đọc : « Ngươi đã bán người anh em ta, ngươi sẽ phải đền tội. » Daru đưa mắt nhìn trời, vùng cao nguyên và, đằng sau kia, những giải đất vượt khỏi tầm nhìn chạy dài ra tới biển. Trên xứ sở bao la này ông từng gắn bó, ông cảm thấy cô đơn.)

Trở về với đề tài bài viết này, và cũng nhằm giải tỏa cho thắc mắc của tôi qua cái tụa mang hình thức nghi vấn : « Dịch là phản ? », ta hãy đối chiếu phần chót của bản dịch với đoạn chót của nguyên tác tôi vừa trích dẫn ở trên. Chỉ cần đọc một số chữ như :  « Lên lớp hôm nay ; đứng trước bục giảng »( ? ), hoặc … « ông run rẩy viết lên hàng chữ đề tặng : »Hãy trở lại với người  anh em mình mà anh sẽ được trả ơn. »( ???), cũng đủ cho thấy người dịch đã dịch phóng túng với óc tưởng tượng phong phú như thế nào. Nhưng điều này cũng không tai hại bằng việc câu cuối cùng «Dans ce vaste pays qu’il avait tant aimé, il était seul. » lại được dịch đổi ra thành « Trong cảnh hoang sơ này thầy đã thấy và yêu nhiều thứ hơn bao giờ hết. Mặc dù sống cô đơn ở đây. » Tai hại, vì nhưng lời dịch như vậy sẽ để lại cho người đọc cảm giác là câu chuyện dẫu sao cũng có một « happy end », và mọi chuyện rồi sẽ dàn xếp ổn thỏa. Vậy là huề cả làng. Vậy là tối lửa tắt đèn, trắng cũng như đen. Vậy là truyện của Camus cũng xêm xêm như những câu chuyện kể ta có thể đọc được trên các trang báo, trang mạng hàng ngày trong tinh thần giải trí văn nghệ. Tai hại là thế, bởi vì một bản dịch như vậy không giúp cho người đọc phát hiện ra ra được Albert Camus, giải thưởng văn học Nobel, và  cái ý thức về thân phận phi lý con người,  tư tưởng cốt lõi của toàn bộ các tác phẩm của ông.

Như đã trình bày ở trên, văn chương Camus thuộc loại văn chương ẩn dụ. Cái hay, cái đặc sắc trong các tác phẩm của Camus không chỉ có nằm trong lời lẽ kể truyện hay các sự kiện gây cấn, ngoạn mục được nêu ra. Cái làm nên giá trị văn học nghệ thuật của ông chính là cái nội dung tư tưởng, cái ý nghĩa thông điệp trong mỗi tác phẩm được dùng làm phương tiện chuyển tải. Trong câu chuyện « L’hôte » cũng vậy. Số phận của ông thầy Daru rồi sẽ sao ? Liệu ông còn được sống yên ổn với ngôi trường ông gắn bó hay không ? Điều này với Camus không quan trọng. Bận tâm của ông là nói lên diễn biến nội tâm của Daru phản ánh thân phận phi lý bi đát con người. Diễn biến tâm lý đó của Daru, chỉ cần đọc lại phần tóm lược câu chuyện và hai đoạn văn tôi đã trích ở trên là thấy được.

Về đoạn một, ta có thể coi như phần giới thiệu nhân vật chính và khung cảnh địa lý, xã hội của câu chuyện. Ở đoạn này ta thấy, mặc dù điều kiện đất đai, thời tiết khắc nghiệt, nhưng ở cương vị một giáo viên, và do cùng chung hoàn cảnh sống với các em học sinh cùng phụ huynh của chúng, nên ông cảm thấy gắn bó với chốn này, coi nó như là quê hương. (Mais Daru y était né. Partout ailleurs, il se sentait exilé.)

Ở đoạn hai, dáng đứng trầm ngâm ưu tư của Daru trước cửa sổ sau khi đã đọc hàng chữ đe dọa trên bảng đen, cho thấy ông đang phải sống một bi kịch vì mới phát hiện ra thân phận phi lý con người. (Dans ce vaste pays qu’il avait tant aimé, il était seul.) Trong câu chuyện này, tính phi lý không phải do thiên nhiên, không phải do điều kiện địa lý, thời tiết thù nghịch ; mà là do sự ngộ nhận, do những bức tường thù hận do chính con người dựng lên để ngăn cách nhau. Đó là một trong những ý thức về phi lý mà Camus muốn nói lên qua câu chuyện này, và cũng là cái ý thức bàng bạc trong hầu hết các tác phẩm của ông.

Việt Nam, sau một thời gian bước vào giai đoạn đổi mới và mở cửa, đã thực hiện được những tiến bộ khá ngoạn mục trên một số lãnh vực, đăc biệt là về mục phô trương đời sống xa hoa và đua đòi hưởng thụ. Về mặt này có thể nói là  không thua kém ai, có khi còn hơn nữa là đằng khác. Nhưng về lãnh vực văn hóa và sáng tạo, theo nhận xét có thể là chủ quan và thiển cận của tôi, dường như chưa có thực hiện nào đáng kể ( ngoại trừ một số sản phẩm, nhưng có vẻ là hàng nhái nhiều hơn). Trong khung cảnh ấy, mọi nỗ lực nhằm phổ biến và giới thiệu các tác phẩm văn học quốc tế có giá trị là việc làm tôi cho là hữu ích và cần thiết hơn bao giờ hết. Nhưng đó là công việc đòi hỏi ở người thực hiện nhiều đam mê và tinh thần trách nhiệm. Có thế mới mong biến việc làm dịch thuật và quảng bá văn học nước ngoài thành một công tác văn hóa được. Đó là cũng là mục tiêu tìm kiếm duy nhất của bài viết này.

Nguyễn Bảo Hưng
Cergy  24-8-2011
Nguồn: Tác giả gửi

Đã đóng bình luận.