Mai Kim Ngọc
Giáo sư David Kaiser nghĩ là ông đã nắm được vấn đề. Trà Mi cần tất cả hai năm rưỡi nữa thì xong chứng chỉ điện toán. Phòng học vụ cũng cho biết phí tổn ăn ở cũng như học phí, và ông đã sắp xếp xong trong đầu ngân khoản cần thiết để trang trải. Ông sẽ lấy tiền nhuận bút cuốn Y Học Nhập Môn vừa xuất bản để chi phí cho vụ này. Tiền bán sách nói chung khiêm tốn và bất thường, như bông hoa thơm trong đời nhà giáo. Nhưng ông thích thú với ý nghĩa lấy bông hoa văn hóa này để giúp con gái nuôi đi học trở lại. Ngoài ra Trà Mi còn có thể làm thêm một số giờ tại phòng thí nghiệm để kiếm chút tiền tiêu vặt… Cô gái cho đến bây giờ không may một cách bất thường.
Hôm nay là 27 Tết Việt Nam. Ít người biết điều này, ngoại trừ mấy sinh viên và nhân viên Việt Nam, hay những người như ông, vì lý do này hay lý do khác có cảm tình đặc biệt với người di tản… Ông khám phá ra Tết là một truyền thống vừa trang trọng vừa đẹp đẽ. Lại hợp lý, vì đúng vào mùa xuân. Năm Mới dương lịch quá sớm với chu trình trời đất, vạn vật đang còn say ngủ trong đông giá. Ông đã dự tiệc Tết nhiều lần tại gia đình sinh viên, và chứng kiến những phong tục Tết nên thơ, như cành đào, bánh chưng, trà ngon, kẹo mứt, và nhất là những gói phong bao bằng giấy đỏ gói mấy đồng lẻ để làm quà mừng tuổi trẻ con.
Ông nghĩ đến món quà mừng tuổi đặc biệt cho con gái nuôi. Lát nữa khi đãi Trà Mi ăn trưa, ông sẽ cho biết ý định giúp cô gái đi học trở lại. Tuy không gói trong phong bao giấy điều, món quà mừng tuổi này thật thích hợp với ý nghĩa Tết, mở đầu một sự tái sanh, với những chờ mong, những hy vọng mới.
Nghĩ về Trà Mi, ông cảm thấy êm ả nhẹ nhàng. Về nhiều phương diện, Trà Mi là con gái nuôi của ông nhiều hơn là một nhân viên bình thường. Ông tin là đã ảnh hưởng cô bé không kém một người cha. Và ngược lại Trà Mi cũng đã ảnh hưởng ông rất nhiều, tuy ông không thích ghi nhận mình bị người khác ảnh hưởng.
Ông có sẵn thiện cảm với cộng đồng Việt Nam, nhưng từ khi Trà Mi tới, cảm tình đó đã trở nên đặc biệt tha thiết. Ông có nhiều bạn mới Việt Nam, đảm nhận chức vụ cố vấn cho hội này nhóm nọ… Ông được họ chia sẻ với ông những dự tính, những ước vọng, và nhiều khi cả chuyện thị phi trong cộng đồng nữa.
Giáo sư Kaiser ngồi ôn lại ngày Trà Mi đến văn phòng ông xin việc. Sáng hôm đó ông trở về đại học với một niềm hăng hái mới. Chuyến du lịch Âu Châu ba tuần vừa kết thúc làm ông thèm làm việc, nhớ làm việc. Chỉ vài bước nữa dọc theo mái hiên này là ông sẽ được trở lại cái văn phòng quen thuộc, với tủ sách gáy vàng, ảnh con gái, và nhất là chồng văn thư dày cộm đang chờ giải quyết. Công việc bận rộn như thuốc an thần, như sinh tố cho ông. Ông cần ăn uống, giải trí như mọi người, nhưng làm việc mới là cái sở thích tuyệt đối, cái sinh khí cho cuộc sống.
Ông sẽ vào phòng thí nghiệm trước, để nghe mấy người kỹ thuật viên phúc trình về ba tuần qua. Câu chuyện xã giao về chuyến đi Âu Châu có thể giới hạn trong ba mươi giây đồng hồ. Còn công việc, ông sẽ đi thẳng vào đề tài, không cho họ có dịp dông dài theo ý thích. Ông sẽ dành cho mỗi người những câu hỏi chính xác về phần hành của họ mà cũng phản ảnh sự lưu tâm của xếp đến từng nhân viên. Nửa giờ sau ông qua văn phòng. Ông dừng lại bàn giấy Virginia, cô thư ký trung thành đã theo ông hơn mười năm nay. Ông thăm hỏi Virginia thành thật ân cần. Tuy nhiên, nếp sống kỷ luật, ngăn nắp và hữu hiệu hoàn tất sự thăm hỏi này trong vài phút. Rồi ông mở cặp lấy món quà nhỏ cho Virginia từ Paris đem về, một cây bút máy Pháp nắp mạ vàng xinh xắn. Món quà tặng người thư ký trung thành cũng đã được chọn một cách chính xác. Lúc mua nước hoa cho con gái, ông đã tính tiện tay lấy thêm một ve cho Virginia, nhưng ông đổi ý thấy món quà có tính cách thân mến theo một chiều hướng không thích hợp… Dăm ba phút nữa cho Virginia có dịp ngắm nghía cây viết và xã giao cám ơn, ông duyệt qua công việc văn phòng trong khi ông vắng mặt. Sau cùng ông tự rót một tách cà phê lớn đem vào bàn giấy đóng cửa làm việc, giữa ảnh người thân, sách vở, và nhất là chồng văn thư dày cộm trên bàn. Đến mười giờ ông tạm gấp hồ sơ lại, và gọi Trung, người sinh viên đang sửa soạn luận án. Hai thày trò duyệt lại kết quả những khảo cứu Trung đã hoàn tất khi ông vắng mặt.
Mọi chuyện ngăn nắp trong đầu ông, cuộc sống thứ tự trước mặt ông. Buổi sáng trôi qua như kế hoạch, có lẽ không tình cảm, không khúc mắc, nhưng hữu hiệu và thoải mái. Chỉ có một nếp gợn nhỏ trong niềm vui sáng nay, khi ông nghĩ đến cái vị vừa chua vừa đắng của cà phê Virginia pha. Ông mơ hồ tiếc nuối những tách cà phê văn minh vừa uống hôm qua ở Pháp… Pha cà phê dở là một trong những tính xấu hiếm hoi của Virginia. Trên mười năm làm việc với nhau mà ông vẫn chưa thông cảm được ấm cà phê của cô nàng. Ông đôi lần có nhỏ nhẹ phê bình xây dựng, nhưng đâu vẫn hoàn đấy. Sau cùng ông chấp nhận những tách cà phê chua đắng như một thành phần không thể tránh được của đời sống ở sở.
Ông đang chăm chú giảng bài cho Trung thì có tiếng gõ cửa. Cô thư ký thò đầu vào, phân trần:
‘Giáo sư, tôi biết ông không muốn tiếp ai sáng nay. Nhưng có có cô bé xin việc bên phòng nhân viên gửi qua. Mà ông vẫn dặn là ông muốn đích thân phỏng vấn tất cả những nhân viên tuyển mộ cho phòng thí nghiệm mình…’
Ông không thích bị gián đoạn. Ông tính nhờ người khác phỏng vấn ứng viên dùm. Nhưng lại đổi ý, nghĩ chỉ thị mình đã ra, tối thiểu mình phải theo. Không có kỷ luật cho chính mình, kỷ luật cho người khác chỉ là một trò chơi hành chánh.
Ông cố đọc thêm một hai giòng chữ trên bản phúc trình thì Virginia đã dẫn ứng viên vào. Ông ngẩng lên, ngạc nhiên thấy một thiếu nữ Á Đông đang tần ngần đứng trước bàn giấy. Tất nhiên là đã trưởng thành rồi mới đi xin việc, như cô gái trông trẻ lắm, tưởng như mười lăm mười sáu tuổi là cùng. Ông nghĩ người Việt bao giờ trông cũng trẻ hơn tuổi, và ông bao giờ cũng sai khi đoán tuổi họ…
Cô bé dáng điệu lúng túng, ấp úng mấy câu chào hỏi Anh ngữ chắc mới học được tại một lớp cấp tốc cho người di tản. Đôi bàn tay nhỏ bé màu ngà cũ đang vân vê chiếc khăn tay. Ông mời cô gái ngồi, liếc qua bản lý lịch cá nhân thấy ứng viên hoàn toàn không đủ khả năng. Cô mới học xong một năm đại học ở Việt Nam, có vẻ khá về toán, nhưng không biết gì về điện toán. Rõ ràng không phải là một ứng viên thích hợp, vì ông cần người có khả năng viết chương trình thống kê. Tuy nhiên ông vẫn phỏng vấn. Công người ta chầu chực nạp đơn, ít nhất ông cũng phải tỏ ra tìm cách thu dụng. Ông định sẽ dành cho cô gái 15 phút, rồi sẽ nhẹ nhàng chối từ. Có lẽ sẽ giới thiệu cho một đồng nghiệp khác đang cần người không chuyên môn, không kinh nghiệm, để làm những việc văn phòng lặt vặt… Nhưng làm ở đây thì nhất là định không.
Cô bé ăn nói thông minh. Ông gắng tìm hiểu tại sao cô ta không đi học như những sinh viên di tản khác đang tấp nập trong giảng đường đại học này. Ông biết có nhiều nguồn tài trợ cho người di tản, học bổng này, trợ giúp nọ… Nhưng hoàn cảnh nào mới được hưởng, ông thật mơ hồ. Rồi ông nhún vai bỏ cuộc. Đời sống kinh tế xã hội của những người Mỹ nghèo trong chương trình an sinh ông cũng chưa hiểu nổi, nói chi đến người di tản mới tới…
Vậy mà ông cũng không bỏ cuộc được. Khi phỏng vấn xong, đang định cảm ơn chối từ, thì ông bắt gập cái nhìn của cô gái. Cái nhìn chờ mong mà không dám hy vọng. Cái nhìn không hẳn là buồn bã, nhưng không vui tươi, không thù hận, mà lạnh lùng băng giá đến nỗi làm ông rùng mình. Trong đời sống thanh bình ở Mỹ Quốc, ông chưa bao giờ thấy ai nhìn như vậy. Ngay cả trong khu Ghetto của người Do Thái tại New York ba bốn chục năm về trước, khi cuộc sống của sắc dân này còn lầm than vất vả, ông cũng chưa từng gập những cái nhìn như thế. Con Ruth em họ ông, khi vị hôn phu chết trận tại Cao Ly đã buồn ròng rã cả năm. Dì Muriel đã ngất xỉu khi đứa con trai vừa tốt nghiệp trung học tử nạn xe hơi. Nhưng họ cũng không nhìn như vậy.
Vậy mà cái nhìn vẫn quen thuộc làm sao… Ông nhìn lại cô gái một lần nữa. Khuôn mặt xinh đẹp với đôi mắt to đen, chiếc mũi thanh tú, nước da trắng mịn… Cô bé thỉnh thoảng cười xã giao, mỗi khi cười thì có lúm đồng tiền bên má trái. Ông ít thấy người chỉ có một má lúm đồng tiền, thầm nghĩ sự thiếu đối xứng làm khuôn mặt càng đáng để ý hơn. Tuy nhiên, nụ cười rất nhạt, nụ cười giao tế, thật khác hẳn với nụ cười hồn nhiên của đám nữ sinh viên Việt của ông.
Còn cái nhìn, tuy thông minh, cân nhắc, phân tích đo lường người đối thoại, nhưng tuyệt đối không để lộ một cảm nghĩ vui buồn gì. Người ta thường bảo con mắt là cửa sổ của tâm hồn, nhưng đôi mắt này cho thấy một tâm hồn đã nhất quyết đóng chặt. Cuộc đời bên ngoài là mua bán, lọc lừa, và nguy hiểm, và tâm hồn này không còn tin cẩn, không còn muốn trao đổi một tình cảm gì với ngoại cảnh nữa.
Ông đã thấy cái nhìn này bao giờ mà không nghĩ ra. Rồi ông tự nhủ có lẽ trong đáy tiềm thức, trong cái nhớ mung lung của nhiễm thể, những người thân yêu của ông trong những thời xưa cổ, những tổ tiên của ông, đã có nhìn như vậy. Có lẽ những người con gái Do thái mấy chục thế kỷ trước đã nhìn như vậy dưới bóng những kim tự tháp trên cát bỏng của sa mạc Ai Cập…
Rồi ông nghĩ ra, cái nhìn này thật ra ông đã thấy nó trong một hoàn cảnh cụ thể và gần đây. Đó là thời sau thế chiến thứ hai, Đồng Minh vừa giải phóng âu Châu, ông mới lên tám theo cha trở lại Prague sau nhiều năm lẩn trốn trong một nông trại hẻo lánh của một ông bạn của gia đình. Đó là cái nhìn của những đồng chủng mới được giải phóng từ những trại tập trung của Đức Quốc Xã… Và bất thần ông thấy gần gũi như ruột thịt với cô bé xin việc. Lần đầu tiên ông để ý đến sự giống nhau giữa hai thiểu số Do Thái và Việt Nam. Hoàn cảnh lưu lạc, sự thành công ở những vùng đất mới, khả năng làm việc, khả năng chịu đựng, và nhất là khả năng sáng tạo cao độ mà ông đã thấy tại những đồng nghiệp, hay những sinh viên Việt Nam trong đời sống đại học.
Bất thần ông quyết định giúp cô gái. Ông tính nhẩm ngân quỹ của mình. Sau cùng ông nói:
‘Cô Trà Mi. Công việc này không thích hợp với cô. Tuy nhiên tôi vẫn cần một người bán thời gian để làm những việc chung chung bên phòng thí nghiệm, không đòi hỏi kinh nghiệm đặc biệt gì. Lương bổng không cao, nhưng chắc đủ sống để tiếp tục đi học thêm. Nếu cô muốn, tôi sẽ thu xếp.’
Thấy Trung nhìn mình ngạc nhiên, ông cũng nhận thấy mình vừa làm một quyết định bất thường. Lương bán thời gian cho một nhân viên không chuyên môn không phải là một chi tiêu quan trọng cho ngân sách, nhưng chưa bao giờ ông lại sắp xếp công việc để thích nghi với ứng viên. Ông tự thuyết phục là công việc giao cho Trà Mi không phải không cần thiết. Tụi sinh viên của ông bừa bãi, thường để phòng thí nghiệm dơ bẩn đến chỗ không chấp nhận nổi. Ông vẫn thèm cà phê ngon, nhưng bình cà phê còn do Virginia đảm nhiệm, chút thèm muốn tầm thường mà xa vời như những cuộc viễn du. Bây giờ có Trà Mi, ấm cà phê cộng đồng sẽ có người phụ trách, và biết đâu đây chả là một cải tiến quan trọng cho cuộc sống của ông ở sở.
Tuy nhiên, ông vẫn thấy ông chỉ nhận ra nhu cầu này cho phòng thí nghiệm sau khi gặp mặt cô bé, ông tự hỏi thầm. Thật là trái ngược với thói quen hàng ngày. Ông bất giác mỉm cười: hay là tại cô bé xinh đẹp. Khuôn mặt Á Đông yêu kiều, cái lúm đồng tiền đơn độc bên má trái như bắt người ta phải nhìn, có lẽ đã ảnh hưởng phần nào sự tuyển mộ của ông. Rồi ông nhún vai. Ông tin là mình không bao giờ rơi vào thường tình đó. Cùng lắm ông chỉ có thể lẫn lộn công việc với lòng muốn giúp đỡ người khác. Không, ông không nghĩ mình lại lẫn lộn công việc với nhan sắc phụ nữ.
oOo
Sáng hôm sau, ông tới văn phòng đúng tám giờ. Thư ký ông chưa tới. Như thường lệ, ông biết Virginia sẽ chậm năm phút. Cô thư ký trung thành và giỏi việc này làm được tất cả những gì phi thường của nghề thư ký, nhưng đến đúng giờ là chuyện không bao giờ xảy ra. Dần dà, ông đã chấp nhận chuyện này như chấp nhận một thói quen xấu của chính mình. Vả lại hôm nào bị ông bắt gặp tới trễ, Virginia sẽ ở lại thêm vài phút, tuy không có việc gì quan trọng và ông không hề rày rà vì chuyện nhỏ mọn như vậy.
Bàn giấy của Virginia còn trống. Mấy cây bút chì còn xếp ngay ngắn trên tấm giấy thấm trải bàn, và bao nylon còn trùm lên chiếc máy chữ IBM. Vậy mà đã có mùi cà phê từ bên phòng thí nghiệm bay qua. Ông đẩy cửa bước sang. Phòng vắng tanh, chỉ có Trà Mi một mình bên chiếc bàn con gần cửa sổ. Cô gái đứng nhìn ra sân cỏ bên ngoài, bên cạnh chiếc bàn nước đã lau chùi sạch sẽ và ấm cà phê đang sôi.
Ông nhìn khung cảnh, thấy mát mắt. Cái bừa bộn quen thuộc thường lệ của góc giải lao phòng thí nghiệm đã biến đâu mất. Mấy chiếc áo choàng trắng của sinh viên và kỹ thuật viên đã được treo thẳng hàng trên mắc. Mấy chiếc tách sứ đã được rửa sạch và xếp gọn ghẽ bên cạnh hũ đường nắp không còn vết đường đóng bánh, và cà phê màu nâu tươi đang phập phồng sôi dưới nắp ấm thủy tinh. Ông nghĩ đến Bạch Tuyết với căn nhà gỗ của bẩy chú lùn. Nàng Bạch Tuyết này gọn ghẽ trong chiếc áo cổ bẻ màu xanh nhạt, đang đứng nhìn ra sân trường. Trà Mi hơi ngả người ra cửa sổ, xòe bàn tay nhỏ hứng những giọt nước mưa của trận mưa sáng thỉnh thoảng còn nhỏ giọt xuống từ mái hiên. Bán diện cô bé tươi mát, tinh nghịch.
Nhưng ông bỗng thấy vẻ trẻ thơ duyên dáng của cô gái sao có lẫn chút gì đàn bà. Có lẽ sự ngăn nắp của khu giải lao nhắc đến bàn tay nội trợ của một thiếu phụ. Và ông nghĩ hôm qua ông đã nhìn sai, và không căn cớ gì ông đã tưởng tượng ra cái băng giá nơi người con gái di tản. Vui vẻ, ông nói:
‘Good morning, Trà Mi. Trà Mi đến sớm thế. Đến từ bao giờ?’
Trà Mi ngoảnh lại, lễ phép trả lời:
‘Good morning. Giáo sư mạnh giỏi. Tôi cũng đến trước giáo sư một chút thôi.’
Có chút gì mảnh dẻ tan biến đi trong không khí. Cái hồn nhiên lúc nãy không còn nữa. Nét lạnh lùng hôm qua lại xuất hiện trên khuôn mặt cô bé. Câu Anh ngữ xã giao học ở lớp Anh văn cấp tốc đã hoàn tất vẻ vô hồn của liên hệ giữa hai người. Ông đứng tần ngần một giây. Trà Mi bỗng nói, giọng đều đặn không thân mà cũng không sơ:
‘Cà phê chưa ngấm. Giáo sư về văn phòng đi, tôi sẽ rót mang vào.’
Rồi lại hỏi:
‘Giáo sư dùng một hay hai viên đường? Cái tách màu xanh dương là của giáo sư phải không?’
‘Đúng rồi. Trà Mi cho tôi một viên đường thôi.’
Ngồi vào bàn giấy, ông không nghĩ thêm gì về người nhân viên mới nữa. Mỗi nhân viên của ông đều có vui buồn riêng tư của họ. Thật ra ông không có quyền thắc mắc, một khi họ làm việc chu đáo… Vả lại cũng không nên thắc mắc. Thắc mắc dẫn đến tìm hiểu. Mà tìm ra những mối bòng bong nhân sự nào có ích gì, nhất là không phải bao giờ mình cũng giúp người ta được. Kinh nghiệm hành chánh đã dạy ông rằng ân cần là điều tốt, nhưng người xếp có thể ân cần mà không riêng tây, không liên hệ, không dính líu. Giúp được thì giúp, vì một nhân viên sung sướng là một nhân viên đắc lực. Nhưng nếu không giúp được thì đừng bận tâm đến đời sống riêng tư của người ta. Câu chuyện sẽ trở nên quá gần gũi, không tốt cho công việc.
oOo
Mấy tháng sau, mọi việc đều đặn trôi qua, chỉ trừ một thói quen mới. Mỗi buổi sáng, khi giáo sư Kaiser vừa bước vào bàn giấy thì được Trà Mi bưng cho tách cà phê nóng mới pha. Có dịu dàng, nhưng không có ân cần hay thân mến. Trà Mi rót cà phê, bưng cà phê, như làm phần việc đã được ghi trong trách nhiệm hàng ngày. Mỗi lần như vậy, giáo sư Kaiser đều chào hỏi Trà Mi, hồn nhiên vui vẻ, cái vui vẻ hồn nhiên đúng mức của người đứng tuổi với nữ nhân viên trẻ dưới quyền. Và mỗi lần Trà Mi đáp lại, lễ phép lạnh lùng. Giao thiệp với bạn Mỹ trong sở đem lại chút linh hồn cho Anh ngữ của cô gái. Tuy nhiên nghe kỹ, thì thấy tiến bộ thực ra là về kỹ thuật phát âm hơn là nội dung ấm áp hay cởi mở.
Thỉnh thoảng, nhớ tới cách cư xử của cô gái di tản, ông thoáng nghĩ chắc quá khứ gian nan lắm nên cô không còn tin cẩn một ai. Ông lại nghĩ nếu hồn nhiên hơn chắc cô bé sẽ sung sướng hơn. Mơ hồ, ông mong ước là cuộc sống trở lại đều hòa sẽ dần dà giúp cho Trà Mi phục hồi được ‘lòng tin yêu’ giữa người với người. Rồi ông chặc lưỡi, tự giễu mình đã ướt át, tiểu thuyết, với những ‘tin’ với ‘yêu’, để lại quên bẵng sự việc nhỏ nhoi này, cho đến sáng hôm sau, khi mở cửa bước vào phòng thí nghiệm, ông lại sẵn sàng good morning cô bé với sự hồn nhiên thường lệ.
Cà phê Trà Mi pha rất ngon, không đậm mà cũng không nhạt… tựa như Trà Mi đã đoán được sở thích của ông để dụng ý chiều theo. Có hôm rảnh rang, ông gợi chuyện với cô gái:
‘Trà Mi pha cà phê khéo lắm.’
Trà Mi bình thản đáp:
‘Hồi ở nhà tôi vẫn pha cà phê cho ba tôi.’
Ông bắt lấy cơ hội, khuyến khích cô gái nói chuyện:
‘Ba Trà Mi chắc cỡ tuổi tôi. Ông có nghiêm lắm không? Ông ấy cũng thích cà phê sao? Tôi tưởng người Việt Nam uống trà nhiều hơn cà phê chứ?’
Ông hy vọng mở đầu cho một câu chuyện đầy tình tiết về phong tục tập quán về ẩm thực nơi quê cũ của Trà Mi. Cô gái chỉ vắn tắt:
‘Dạ cũng có người thích cà phê. Giáo sư muốn dùng thêm xin cứ gọi.’
Trà Mi xuống giọng chữ gọi để chấm câu. Cách phát âm đúng sách vở báo hiệu câu chuyện xã giao đã hết, và cô trở lại phòng thí nghiệm. Ông nghĩ Trà Mi thật khác hẳn với mọi người trong sở. Nếu là dân bản xứ, giờ này có lẽ cô gái đã gọi xếp bằng tên tục. Virginia gọi ông là David một tháng sau khi nhận việc, trừ khi hoàn cảnh đòi hỏi nghi lễ hành chánh khít khao. Đông Tây thật là khác nhau, ông thầm nghĩ.
Tuy nhiên ở Trà Mi, có cái gì còn sâu xa hơn sự khác biệt văn hóa Đông Tây. Cô bé như nhất định giữ mối liên hệ hàng ngày trong phạm vi công việc. Trà Mi làm đầy đủ bổn phận, và nhất định khép kín cuộc đời riêng tư của mình. Sự giao thiệp trong nhiều tháng không tiến mà cũng không lùi. Giáo sư Kaiser tính mau quên, thỉnh thoảng lại bắt chuyện cô gái để lại được đáp lại bằng sự khước từ lễ phép cho một liên hệ tình cảm dù thông thường nhất.
Có lần ông thầm nghĩ, chắc Trà Mi đã là nạn nhân của một bạo ngược nào đấy liên can đến nước Mỹ trong quá khứ, để bây giờ chỉ muốn một liên hệ giới hạn tuyệt đối trong công việc với người nước này. Nhưng không nhẽ… Ông nghĩ người Mỹ đã làm nhiều sai lầm ở Việt Nam, nhưng chủ tâm tàn bạo thì nhất định không có. Chủ tâm tàn bạo nhất định không phải là đặc tính của đồng bào ông. Vả lại Trà Mi cũng thờ ơ lạnh lùng ngay cả với mấy anh chàng sinh viên Việt Nam thỉnh thoảng mon men tới làm quen.
Ông lại nghĩ hay là những sóng gió bão táp trên đường vượt biên trên biển Nam Hải… Ông rùng mình, biết đâu Trà Mi đã chung số phận với biết bao phụ nữ thuyền nhân khi sa vào tay hải tặc Thái…
Ông xót xa. Thật là tội nghiệp. Cô gái còn trẻ như vậy, áng chừng chỉ xấp xỉ con Anne, con gái ông… Ông cảm thấy như có một nàng tiên bé bỏng xứng đáng được vui vẻ hạnh phúc, nhưng đang bị giam trong một tòa nhà bằng nước đá. Có chiếc cửa sổ nhỏ để cô gái có thể trốn thoát… Mỗi lần đi qua ông đã đưa tay vẫy gọi, sẵn sàng kéo cô ra, nhưng vì sợ hãi, vì hồ nghi, vì muôn vàn lý do của những linh hồn đã bị thương tổn, thiện ý của ông không được đón nhận.
Ông đã không cố gắng tới mức chăng. Nhưng đời sống riêng tư của người ta, dù là đời sống riêng tư của một cô bé… Rồi ông lại quên những thắc mắc về Trà Mi để vùi đầu vào công việc hàng ngày.
oOo
Cái vỏ băng giá của Trà Mi sau cùng cũng rạn vỡ. Hôm đó là lễ Valentine. Trà Mi vừa pha xong ấm cà phê mới, rót một tách mang vào cho giáo sư Kaiser. Đang bận đọc một văn thư, ông lơ đãng đưa tay như mời Trà Mi ngồi, tuy thật ra không có chuyện gì quan trọng để bàn. Trà Mi đặt tách cà phê lên bàn rồi ngồi xuống ghế đợi. Lúc ông ngẩng lên bắt chợt Trà Mi đang ngắm hình quả tim màu đỏ quảng cáo quà Valentine trên tờ nhật trình nằm góc bàn giấy, ông cao hứng ông gợi chuyện:
‘Trà Mi có biết phong tục Valentine ở bên này không nhỉ?’
‘Dạ không.’
‘Thế để tôi cắt nghĩa nhé. Cái này cũng là một đặc điểm rất Mỹ. Ngày Valentine là dành cho người yêu, hoặc vợ chồng, hoặc bạn trai bạn gái, hoặc vị hôn phu vị hôn thê. Quà tặng thường thường là hoa hay kẹo bánh cho phụ nữ, hay sơ mi cà vạt cho đàn ông.’
Nhắp ngụm cà phê, ông triết lý:
‘Một năm mà dành cho người yêu có một ngày thì đâu có nhiều, phải không Trà Mi. Yêu nhau mà lấy của nhau có một ngày một năm, thì quả thật dân Mỹ không có gì tham lam lắm.’
Trà Mi không trả lời ngay. Cô mơ hồ nhìn ra cửa sổ, lẩm nhẩm như nói một mình:
‘Dạ một ngày không có nhiều… Có khi không yêu mà người ta còn lấy cả một cuộc đời của kẻ khác…’
Ông không ngờ câu chuyện trở nên nghiêm trọng như vậy. Giọng cô gái sắp vỡ vì nghẹn ngào, cũng như nội dung câu nói cay đắng bất ngờ làm ông sửng sốt ngẩng lên. Nhưng Trà Mi đã quay đi, bán diện như sắp khóc. Ông ngạc nhiên:
‘Chuyện gì vậy Trà Mi?’
‘Dạ không.’
‘Tôi có thể giúp gì được không?’
Trà Mi thu hết bình tĩnh, đứng dậy rảo bước về phòng thí nghiệm. Cô ấp úng:
‘Xin lỗi, tôi phải về tắt máy điện toán…’
Ông nhìn theo. Dáng đi của cô gái có cái gì mềm mại, và rất… đàn bà. Không, đây không phải dáng đi của xử nữ với những đường nét phảng phất giống trai. Trà Mi là một người đàn bà đã nẩy nở, tuy hình hài vẫn còn duyên dáng mảnh mai.
“L’Amour avait passé par là.’ Ông thầm nghĩ đến một câu Pháp văn dí dỏm trong tiểu thuyết của D.H. Laurence đã đọc hồi còn sinh viên, rồi lẩm nhẩm tự dịch cho mình Ái tình đã có ghé qua đây. Nhưng ông thấy ân hận tức thì. Không, người con gái này đã tiếp xúc với đàn ông, nhưng đây không phải là tình yêu. Tình yêu đi qua có thể để lại hờn giận ghen tuông, sầu tủi, nhưng không tạo ra lạnh lùng băng giá như vậy.
Ông bỗng nghĩ đến con gái. Nó cũng cỡ tuổi Trà Mi, vừa xong trung học, và đang theo học tại một đại học bên miền đông. Bất giác ông so sánh hai thiếu nữ. Khuôn mặt cũng trẻ trung như vậy. Tuy khác chủng tộc, hai đứa cùng xinh xắn kháu khỉnh như nhau. Anne có nhiều điểm giống Trà Mi. Thứ nhất là việc gì được giao cho cũng làm chu đáo. Và nó cũng tự ái như Trà Mi, bao giờ cũng gắng tự giải quyết việc mình, trước khi nhờ đến người khác. Nhưng sự giống nhau chấm dứt ở đây. Con gái ông thơ ngây vô tư lự. Anne lúc nào mắt cũng mở to, vui buồn hồn nhiên, giận hờn rõ rệt. Còn Trà Mi…
Ông rút hồ sơ nhân viên ra duyệt lại lý lịch cô gái. Thật là một lý lịch đặc biệt và hiếm có. Bằng cấp ngoại quốc với những tên xa lạ. Sinh quán là một địa danh chưa từng nghe thời gian ông phục vụ tại Sài Gòn. Trà Mi để trống mục người thân để báo tin khi có tai nạn. Cả đất nước bao la này, không có ai lưu tâm đến sự sống chết của cô gái này sao?
Qua dáng người, ông đoán gia cảnh Trà Mi chắc khá giả. Ông nghĩ đến một người cha Việt Nam nào đây, cỡ tuổi ông, đã chăm sóc nuông chiều cô bé này trong những năm thanh bình của một đời sống trung lưu tại một đô thị xa xăm. Không biết bây giờ ông ta ở đâu. Nghĩ gì, lo gì về Trà Mi… Chắc ông ta không thể ngờ được giờ này, đứa con gái yêu của mình đang khóc tức tưởi trong một xó phòng thí nghiệm nơi đất khách quê người.
Xót xa, ông đứng dậy sang phòng thí nghiệm đi tìm Trà Mi. Cô gái đang ngồi trước máy điện toán, lưng quay lại, đầu gục xuống bàn. Ông nhẹ bước tới, khẽ gọi:
‘Trà Mi. Trà Mi đừng buồn. Có chuyện gì tôi giúp được không?’
Ông khẽ vỗ vai Trà Mi, dỗ dành. Cô gái ngả đầu áp má lên bàn tay an ủi, nức nở:
‘Giáo sư. Giáo sư ơi, Trà Mi khổ quá…’
Ông đứng yên giây lát, nước mắt Trà Mi âm ấm, ướt đẫm tay ông. Ân cần như một người cha, ông khẽ nói:
‘Trà Mi. Trà Mi cứ khóc đi. Đừng gắng giữ nước mắt lại. Ai cũng có lúc cần khóc một trận cho hả.’
Ông thấy lòng mềm vì xót thương. Nhưng ông ở một thế đứng thiếu thoải mái. Bàn tay vẫn bị giữ chặt giữa má và vai người con gái, ông phải nhún gối một chút để thích ứng với thế ngồi của Trà Mi, gắng giữ thăng bằng bằng cách vịn vào lưng ghế. Trà Mi tiếp tục khóc, ông thấy mỏi ở hai bắp chân nhưng không nỡ rút tay lại. Trà Mi khóc thêm độ năm phút nữa, rồi cô gái ngồi thẳng người, với hộp kleenex để lau nước mắt. Son phấn còn ướt nhoèn, cô gái quay lại ngượng ngập nhìn ông:
‘Thật là mắc cỡ… Trà Mi mít ướt quá. Nhưng mà cảm ơn giáo sư, cảm ơn giáo sư nhiều lắm…’
Ông thấy lòng biết ơn lẫn tín nhiệm trong đôi mắt cô gái. Lần đầu tiên ông thấy gần gũi với một người lạ như vậy. Ông lúng túng vì bàn tay ướt đẫm nước mắt và hoen ố phấn son. Ông định lấy kleenex chùi, nhưng lại sợ Trà Mi ngượng. Ông thoáng nghĩ khó mà giữ được bàn tay khô ráo khi an ủi người khác, và ngạc nhiên thấy nghĩa bóng của ý niệm ướt bàn tay lại làm ông ấm trong lòng. Sau cùng ông đút tay vào túi áo choàng, và dịu dàng nói với cô gái:
‘Tôi chỉ muốn nhắc là Trà Mi có thể nghĩ đến tôi như một người thân, mỗi khi gặp buồn bã khó khăn…’
Rồi ông trở về văn phòng. Ông biết sự liên hệ của ông với Trà Mi đã tiến sang một giai đoạn mới. Và ông cũng ngạc nhiên là ông không cảm thấy ngại ngùng, như thường lệ mỗi khi tình cờ dính vào chuyện riêng tư của một nhân viên…
oOo
Ngày Valentine mở đầu cho một thay đổi quan trọng. Trà Mi dần dà trở nên vui vẻ hơn, hồn nhiên hơn. Mỗi buổi sáng khi mang cà phê vào cho ông, cô nói chuyện nhiều hơn. Có khi cô hỏi ý kiến ông về việc chọn môn học ở đại học cộng đồng. Có khi cô nhờ ông giải quyết nỗi phân vân giữa hai loại sơ mi thể thao tính mua gửi về cho cha ở Việt Nam. Thỉnh thoảng khi thấy ông không bận lắm, cô kể cho ông những chuyện vui buồn trong lớp học tối.
Có lần cô hãnh diện khoe những điểm tốt cô đã thu hoạch cuối tam cá nguyệt vừa qua. Ông ngợi khen thành tích học hành của cô gái, và Trà Mi khiêm tốn ghi nhận công lao của Trung đã nhiều lần tận tình chỉ bảo bài vở cho cô.
Ông biết mình đã dùng khá nhiều thì giờ cho Trà Mi, nhưng ông không bao giờ khó chịu. Trái lại ông cảm thấy như được hưởng lại một lần nữa cái hạnh phúc chăm sóc cho con Anne khi nó chưa đi học xa. Có lần công việc hàng ngày bị đình trệ đôi chút, Virginia trách nhẹ ông, ‘David. Anh đã xử dụng cả tấn thì giờ với cô bé này…’ Nhưng rồi công bình, bà thư ký già nói tiếp, ‘Nhưng cô bé thật đáng khen. Vả lại, chắc anh cũng đỡ nhớ con Anne.’
Ông muốn thăng thưởng cho Trà Mi, nhưng thấy chưa có dịp. Cô gái vui vẻ hơn hạnh phúc hơn thật ra không phải là một lý do hành chánh đầy đủ để thăng thưởng. Nhưng sau cùng cơ hội cũng xảy đến, một cách bất ngờ và lý thú, khi người chuyên viên thống kê đi nghỉ thường niên. Hôm đó ông cần tính gấp một số tài liệu khảo cứu để kịp hạn nộp bài cho một tập san khoa học. Ông mang tài liệu đến máy điện toán để tự tay tính lấy. Trà Mi đang lúi húi lau mấy chai lọ ở cuối phòng, ngẩng lên nhìn ông. Rồi cô bước lại gần máy điện toán ngắm ông làm việc. Bất ngờ Trà Mi đề nghị:
‘Giáo sư có bận thì để tôi làm cho.’
Ông ngưng tay, quay lại. Ông biết Trà Mi có thể bỏ những bảng số vào ký ức điện toán một cách máy móc, nhưng suy nghĩ và dùng điện toán để phân tích kết quả thí nghiệm thì thật là điều bất ngờ. Ông hỏi:
‘Cô biết tính thống kê sao?’
‘Như giáo sư biết, tôi đã lấy mấy lớp điện toán và thống kê ở đại học cộng đồng. Có phải giáo sư đang dùng paired t test không?’
Lời bàn chính xác của Trà Mi làm ông ngưng tay. Ông đẩy ghế, xoay lại nhìn người nhân viên trẻ từ đầu đến chân. Vẫn khuôn mặt xinh đẹp một cách sang trọng ấy, vẫn cái lúm đồng tiền bên má trái bắt lấy mắt người đối thoại…
‘Giáo sư cho tôi làm thử nhé.’
Trà Mi nhìn thẳng vào mắt ông, chờ đợi. Ông mỉm cười và đứng dậy nhường chỗ cho người nữ nhân viên:
‘Cô giúp tôi đi.’
Kéo chiếc ghế đẩu, ông ngồi xuống bên, yên lặng xem cô gái làm việc. Ông ngạc nhiên khi thấy cô rất thành thạo, và công việc tiến hành mau chóng. Nửa giờ sau, ông hoàn toàn yên tâm, và đứng dậy trở về văn phòng.
Đến trưa thì Trà Mi mang xấp kết quả vào cho ông. Mọi sự mỹ mãn. Ông yên lặng duyệt qua những trang giấy còn nóng hổi máy điện toán vừa in ra. Trà Mi hồi hộp nhìn theo tầm mắt của ông lướt trên những hàng chữ số. Ông không tìm thấy một lỗi nhỏ. Mười lăm phút trôi qua, căn phòng hoàn toàn yên lặng chỉ thỉnh thoảng có tiếng giấy sột soạt khi ông dở sang trang mới. Sau cùng ông xếp xấp giấy thành một chồng ngăn nắp. Nhìn Trà Mi, ông xoa tay sung sướng:
‘Thật là toàn hảo. Trà Mi giỏi thế, sao hôm nay mới trổ tài?’
Vẫn còn lo lắng, Trà Mi hỏi:
‘Giáo sư có dùng được những bảng thống kê này không?’
‘Tất nhiên là được, Trà Mi. Mà tôi sẽ ghi công Trà Mi trong bản thảo nữa… Trà Mi siêng năng và thông minh quá.’
Cô gái mỉm cười cám ơn, nụ cười hồn nhiên đầu tiên từ khi đến sở làm việc. Niềm tự tin lẫn vui mừng hiển hiện trên mặt. Trà Mi trả lời:
‘Thật không có chi. Tôi biết giáo sư thất vọng về khả năng của tôi hôm phỏng vấn. Tôi đã ghi nhận những nhu cầu về thống kê của giáo sư, rồi lấy lớp tối đặc biệt để tìm hiểu những kỹ thuật này. Vả lại anh Trung có dạy thêm cho tôi rất nhiều…’
Giọng cô bình thản đều đặn như thường lệ. Nhưng ông vẫn nhận thấy sự thay đổi. Cái tâm hồn giá lạnh không còn thụ động nữa, và đã hồi sinh. Không những cô đã hết ngờ vực ngoại giới, mà còn tìm cách làm đẹp lòng người khác. Như một cây khô tưởng đã chết, nay bỗng trổ lộc. Lộc mới còn nhỏ nhoi khiêm tốn, nhưng vô cùng ý nghĩa, đánh dấu bước đầu của sự hồi phục…
Ông còn thấy nhiều hơn nữa. Cô gái đã chủ động trong liên hệ với người khác. Cô đã nắm lấy cơ hội để trở nên ích lợi hơn cho người xung quanh. Và cô trông đợi khen thưởng. Liên hệ hai chiều với cuộc sống đã hiển hiện. Cao hứng, ông nói:
‘Hôm nay phải ăn mừng.’
Trà Mi ngơ ngác không hiểu:
‘Tài liệu này quan trọng vậy sao?’
Vẫn đà hồ hởi, ông nói:
‘Quan trọng chứ. Trà Mi sẽ thành công. Trà Mi sẽ hạnh phúc ở đất nước này…’
Trà Mi như khựng lại vì không theo kịp đà suy nghĩ của ông. Nhưng một giây sau, như chợt hiểu, cô cảm động quay lại nhìn thẳng vào mắt ông:
‘Giáo sư lưu tâm đến cuộc sống… tôi muốn nói đến công việc riêng của tôi như vậy sao. Mà phòng thí nghiệm này bao nhiêu là nhân viên…’
Rồi như bẽn lẽn vì đã quá bạo dạn, cô cúi xuống:
‘Bao giờ cần tính thống kê nữa, giáo sư cho tôi hay…’
Sáng hôm sau Trà Mi bưng cà phê vào cho ông. Cô đặt tách cà phê xuống bàn giấy rồi trở ra sau một câu xã giao. Ông nhìn theo, tưởng như có ngần ngại trong dáng đi của cô gái. Trà Mi như chờ đợi một câu hỏi hay một cử chỉ khuyến khích từ phía ông. Ông thấy tội nghiệp. Nếu là con gái ông, nó đã chạy tới ôm cổ bố, kê khai rõ ràng những phần thưởng nó ước muốn vì đã làm được chuyện đáng khen. Mà không kể con Anne, ngay bất cứ nhân viên nào trong phòng thí nghiệm này cũng hồn nhiên hơn. Ông nói với theo:
‘Trà Mi. Nếu không bận, trở lại cho tôi nhờ chút.’
Trà Mi quay lại. Cô vẫn đứng, tựa hồ như câu chuyện sắp nói không lâu đến nỗi phải ngồi xuống nghe. Ông vui vẻ:
‘Trà Mi ngồi đi. Trà Mi nghĩ gì về công việc đang làm bây giờ?’
‘Dạ công việc vui lắm, mọi người trong sở dễ thương…’
Ông ngắt lời:
‘Tôi muốn Virginia sắp đặt lại công việc sở này, để Trà Mi nhận thêm những trách nhiệm mới về điện toán. Nhu cầu của phòng thí nghiệm nặng về phía này hơn là những chuyện lặt vặt như lau chùi quét dọn. Vả lại tôi cũng muốn Trà Mi chấm dứt dịch vụ tổng quát và vệ sinh chung. Mấy người sinh viên phải tập ngăn nắp. Họ lớn rồi, còn bé em gì nữa.’
Ngưng một giây ông nói tiếp:
‘Tất nhiên là lương bổng của Trà Mi sẽ được sắp xếp lại cho hợp với tầm quan trọng của trách nhiệm. Sáu tháng nữa tôi sẽ duyệt lại hồ sơ.’
Trà Mi khẽ chớp mắt, lễ phép cảm ơn ông rồi trở ra. Nhìn theo cô gái, giáo sư Kaiser chợt thấy mình không tự nhiên trong khi thăng thưởng người nhân viên này. Ông thấy ngôn ngữ mình hành chánh quá, như một cố gắng tỏ ra vô tư. Trà Mi đã làm với ông gần sáu tháng rồi, kể như một nhân viên cũ, tại sao không giản dị nói rằng ông thăng thưởng cho cô mà phải gần như diễn thuyết tường trình ngân sách trước ủy ban đại học.
oOo
Trà Mi càng ngày càng quen thuộc với đời sống ở Mỹ. Đến hôm Father’s Day thì ông không cần phải giảng cho cô về phong tục Mỹ nữa. Cô gọi điện thoại cho giáo sư Kaiser, hỏi đường rồi xin phép mang quà tới biếu ông.
Giáo sư Kaiser vui vẻ mở cửa đón cô vào. “Happy Father’s day, giáo sư. Em Anne hôm nay biếu giáo sư món quà gì?’ Trà Mi gợi chuyện. Ông nói, ‘Ô, nó đi học bên Boston. Nó vừa gọi điện thoại về thì Trà Mi tới.’
Trà Mi xin lỗi, hy vọng không làm trễ nãi bữa ăn tối của ông. Giáo sư Kaiser cho hay ông đã dùng bữa tại câu lạc bộ đại học. Trà Mi nhìn quanh phòng khách sang trọng. Cây vả trồng trong chậu gần lò sưởi có mấy cái lá chết mà chưa ai bẻ đi, và bình bông trên chiếc bàn con không hoa. Trà Mi ghi nhận ông sống một mình, và sự thiếu vắng của bàn tay phụ nữ quá rõ rệt. Tiết trời Ca Li gần bể về đêm vẫn gây gấy lạnh, và mặc dầu lửa lò sưởi đã cháy bập bùng, Trà Mi vẫn thấy căn phòng khách sang trọng của ông trống lạnh.
Trà Mi lấy quà ra biếu ông. Ngắm hai chiếc cà vạt, ông sung sướng nói, ‘Trà Mi chọn rất khéo, tôi đang cần cà vạt để mặc với bộ áo mới…’ Trà Mi nhìn trong mắt ông sự tán thưởng như khi ông uống tách cà phê nàng pha. Ông lại nói, ‘Lẽ ra Trà Mi không nên mất công vì tôi như vậy. Lại tốn kém nữa.’
Trà Mi định nói một câu xã giao chung chung rồi cáo từ ra về. Nhưng bất thần đổi ý, cô nghiêm trang nói:
‘Giáo sư đã lo bao nhiêu chuyện cho Trà Mi… Mà đi mua sắm đâu nào có mất công gì… Chiều thứ bảy trước, Trà Mi đi chợ có một buổi là kiếm được quà cho giáo sư…’
Cô dừng lại kịp thời để không nói tiếp là một năm dành có một buổi cho ông nào có nhiều nhặn gì, như câu ông nói đã lâu giảng cho cô phong tục Valentine. Cô cũng mơ hồ thấy hai chiếc cà-vạt nàng chọn có thể hợp với quà Valentine hơn là quà Father’s Day, và cô thẹn thùng thấy mình ấm lòng lại với liên tưởng vô lý đó. Nhìn quanh thấy chai rượu vang và chiếc ly nửa vơi trên bàn con cạnh cuốn sách đã dở trang, cô đổi đề tài cho bớt ngượng ngùng:
‘Giáo sư uống rượu một mình sao?’ Trà Mi biết mình lại lỡ lời, và câu nói vô tình của cô gái đã làm lộ liễu sự cô đơn của người đàn ông trung niên, vợ bỏ, con gái đi học xa, hôm Father’s Day ngồi nhà uống rượu một mình với cuốn sách.
Trà Mi thấy ân nhân của mình lúng túng. Vậy mà cô đã tưởng ông là siêu nhân, chuyện gì cũng làm được, kiểm soát được mọi tình thế, trong một cuộc đời có kế hoạch và tổ chức. Cô bỗng thấy cuộc đời bất công. Một người đàn ông tốt và thông minh như vậy, đã đóng góp cho đời như vậy, đã thành công trong nghề nghiệp như vậy, tại sao lại phải uống rượu một mình trong ngày Father’s Day. Và Trà Mi bỗng thấy rõ tại sao. Ông quen biết nhiều, nhưng bạn thân thì không có. Trà Mi nghĩ tại ông thông minh quá, và số phận của những người thông minh là phải đơn độc. Cô thấy ông cũng đơn độc như cô. Trà Mi được nhiều người theo, nhưng sự ngưỡng mộ dựa trên nhan sắc bề ngoài. Lửa lò sưởi bập bùng ấm cúng trong phòng khách sang trọng. Trà Mi bỗng nghe trong lòng niềm lãng mạn hồi sinh. Chỉ có ông hiểu Trà Mi và chỉ có Trà Mi hiểu ông. Hiện tại như một pho tình sử, trong đó có giai nhân có tài tử. Người đàn bà đẹp nghiêng nước nghiêng thành, người đàn ông tài năng xuất chúng, nhưng cả hai cô độc trong thế gian tầm thường hời hợt. Họ gặp nhau và thành bạn tri âm…
Khi ông nói, ‘Xin lỗi, xin lỗi không mời Trà Mi… Tôi không nghĩ Trà Mi uống được rượu,’ Trà Mi cảm thấy như sẵn sàng biếu ông một món quà đặc biệt. Cô nói không ngần ngại, ‘Trà Mi uống được chút chút. Giáo sư cho Trà Mi một ly nhỏ thôi…’
Từ ly xâm banh đầu đời cha cho uống đêm giao thừa năm mười sáu tuổi ở quê nhà, cô đã khám phá ra rượu có ảnh hưởng đặc biệt với cô. Cô biết chỉ một chút hơi men sẽ làm cho cô giải phóng khỏi e lệ thẹn thùng, sẽ làm cho cô vui và yêu đời một cách đặc biệt đam mê. Vì vậy cô rất ít uống rượu. Trà Mi sợ rơi vào những trạng thái cô không kiểm soát được, hay ghi nhận được sự việc cho đúng đắn. Và cô cũng biết chỉ cần uống thêm một chút nữa là cô sẽ hoàn toàn mất tự chủ, và điều này đã đem lại một kinh nghiệm cay đắng cho cô khi mới tới Mỹ. Nhưng hôm nay cô nhất định uống rượu với ông. Cô sẽ không uống nhiều đến quá độ, nhưng sẽ uống nhiều đủ cho vui, cho thấy bớt e thẹn rụt dè, cho thấy dào dạt yêu đời như hôm uống xăm banh đêm giao thừa năm mười sáu tuổi. Và cô sẽ chia sẽ với ông cái đam mê yêu đời yêu sống đó…
Ông lấy thêm một ly rượu nữa bước tới bên Trà Mi. Ông hỏi:
‘Chắc không, Trà Mi. Nếu uống không được thì đừng uống…’
Trà Mi ngước lên nhìn ông:
‘Nhất định là được. Tối nay Trà Mi nhất định uống rượu với giáo sư.’
Trà Mi nghe tiếng mình vang lên, tha thiết đam mê, nhưng cô không cưỡng lại cái đà của cảm quan đang thức giấc trong bầu không khí lãng mạn tình tứ. Lửa trong lò sưởi bừng bừng, những ngọn lửa màu cam màu hồng màu hoàng kim chói chang nhẩy múa, thiêu hủy những khúc củi lớn đã biến thành những tảng than hồng đỏ rực… Chưa uống mà cô đã say…
‘Trà Mi…’
Cô nghe tiếng ông khẽ gọi. Ngẩng lên, Trà Mi khựng lại khi thấy ánh mắt tỉnh táo lẫn ái ngại của ông. Cô ghi nhận cái táo bạo của mình đã quá trớn. Trà Mi cũng biết ông đã nhớ lại câu chuyện tâm sự của cô. Sau trận khóc hôm Valentine khá lâu, khi cô đã hoàn toàn tin cậy ông như một người cha nuôi, cô đã kể hết những gian truân quá khứ cho ông nghe, kể cả lần bị người ta phục rượu để quyến rũ. Hôm ấy cô đã say sưa kể, sung sướng kể, hả hê như người vừa được rạch dao cái ung độc bấy lâu mưng mủ…
‘Không được đâu, Trà Mi. Nghe nhạc đi, tôi lấy đĩa hát nhé…’
Cúi đầu, Trà Mi nghe tiếng ông đặt lại chai rượu xuống bàn, khô khốc trong im lặng. Lửa trong lò sưởi vẫn đẹp nhưng cái đẹp bây giờ là của tiện nghi ấm áp mà không còn ấm cúng tình tứ. Trà Mi như tỉnh giấc để nhận thấy ông cư xử hoàn toàn như một người cha nuôi, hay đúng hơn nữa như một người cha đẻ. Gượng gạo cô nói:
‘Cảm ơn giáo sư. Nhưng mà cũng trễ rồi… Bữa khác giáo sư cho Trà Mi trở lại nghe nhạc.’
‘Trà Mi nói đúng, quả thật là trễ rồi. Để tôi đưa Trà Mi về…’
Ngồi trên xe bên ông, Trà Mi thấy buồn trong lòng. Cô sợ thiện ý của cô bị ông hiểu lầm. Nhưng rồi cô yên tâm thấy ông vẫn ấm áp ân cần như thường lệ. Lúc chia tay, cô nói với ông:
‘Ước gì Trà Mi là con gái của giáo sư.’
Ông không nói gì, ôm cô vào lòng và khẽ hôn cô trên trán…
oOo
Suốt mấy tháng sau, ông không có dịp gặp riêng Trà Mi. Từ lâu, cô không còn pha cà phê cho ông mỗi sáng khi ông tới bàn giấy. Công việc thống kê điện toán chiếm hết thì giờ của cô, còn ông như hoàn toàn không nhớ câu chuyện tối hôm Father’s Day.
Tuy nhiên, ông biết cô vẫn thành công trong nhiệm vụ mới, qua những lời khen lao nồng nhiệt của Trung. Rồi một hôm đi công tác từ Pháp về, ông bỗng cảm thấy một sự thiếu thốn mơ hồ trong đời sống hàng ngày. Có lẽ ông nhớ tách cà phê ngon bên Pháp. Từ hồi Trà Mi được thăng thưởng, Virginia lại phụ trách ấm cà phê của sở, và ông lại có dịp nhăn mặt mỗi buổi sáng khi nếm ngụm cà phê vừa đắng vừa chua…
Ông tò mò về cuộc sống của Trà Mi mà gần một năm qua ông đã không trực tiếp theo rõi. Người đàn bà xinh đẹp và thông minh này lẽ ra phải được tất cả những gì tốt lành trên đời, vậy mà vẫn như còn đứng ngoài cuộc sống, khước từ những vui thú hồn nhiên của tuổi xuân. Tháng này qua tháng khác, cô quanh quẩn bận rộn với mấy cái máy điện tử, tính toán những bảng thống kê bất tận cho đám sinh viên. Và nếu không có gì đặc biệt xảy ra, năm này qua năm khác, cô sẽ tiếp tục công việc này, với thỉnh thoảng một vài thăng thưởng nhỏ nhoi. Tụi sinh viên cô giúp đỡ sẽ lần lượt ra trường, và Trà Mi vẫn ở lại một chỗ, lần hồi trở thành một người cán sự già…
Có thể cô sẽ lập gia đình với một bạn đồng sở, và sẽ sống như một cặp vợ chồng nhân viên khác của ông. Ông tặc lưỡi, thật ra tương lai như vậy không hẳn là hẩm hiu. Nhưng mà cái nhan sắc này, cái tính tình dễ thương này…
Ông lúng túng vì đã bận tâm đến nhan sắc của người nữ nhân viên mà ông đã xếp cùng ngăn kéo với con Anne con gái. Ông nghĩ sang chuyện khác để rồi lại để ý nghĩ quay về Trà Mi. Ông nghĩ cái thông minh của Trà Mi sẽ không bao giờ được phát triển cho hết khả năng của nó… Trừ phi… Trừ phi cô đi học trở lại…
Hôm nay 27 Tết, nhớ đến Trà Mi, ông nghĩ xa hơn thường lệ. Và ông đã tìm ra lời giải cho bài toán khó. Không có lý do gì cô không đi học trở lại được. Hôm nay, ông đã quyết định là sẽ giúp Trà Mi. Ông đã làm tất cả những sửa soạn cần thiết, kể cả ký sau lưng tấm ngân phiếu nhà sách vừa trả để chuyển cho Trà Mi, và bỏ nó sẵn vào phong bao… Ông nhìn đồng hồ. Mới mười một giờ, mà từ giờ đến chiều, sổ hẹn trống trơn. Ông với điện thoại gọi Virginia, tính nhờ cô thư ký đi kiếm Trà Mi. Virginia không có tại bàn giấy, ông đứng dậy đi thẳng sang bên phòng thí nghiệm.
Cô gái đang bận rộn bên máy điện toán. Nhưng cô không làm việc một mình. Trung ngồi bên cạnh, xích tới xích lui trên chiếc ghế đẩu có bánh xe. Tiếng máy in điện tử ào ào làm cả hai đều không biết ông bước vào. Trung đọc những con số từ một bản kết quả để Trà Mi cho vào máy. Cả hai vừa làm việc vừa cười đùa với nhau. Chưa bao giờ ông thấy Trà Mi vui như vậy. Ông hơi khó chịu vì lẽ ra giờ này Trung phải ở bên giảng đường. Trà Mi thấy ông trước, lễ phép đứng dậy chào. Cô ngưng máy in cho đỡ ồn và lễ phép nói:
‘Giáo sư cần gì?’
Trung cũng ngẩng lên, nói như cắt nghĩa:
‘Tôi giúp Trà Mi làm mấy bản thống kê. Hai người bao giờ cũng mau hơn một người. Lại ít lầm hơn…’
Sự hiện diện của Trung làm ông thấy không tiện bàn chuyện Trà Mi đi học lại. Ôn tồn ông nói:
‘Trà Mi đang dở tay thì hai người cứ làm tiếp đi. Chiều nay xong việc, Trà Mi vào bàn giấy tôi…’
Rồi ông đổi ý:
‘Hay là thế này, trưa nay tôi mời Trà Mi ăn trưa rồi ta bàn chuyện luôn. Mười hai rưỡi, tôi sẽ đợi tại văn phòng.’
‘Chuyện gì giáo sư có thể cho Trà Mi biết trước được không. Để soạn sẵn hồ sơ…’
‘Khỏi cần Trà Mi ạ…’
Trà Mi nhìn Trung rồi nhìn ông, tươi cười:
‘Trà Mi cũng có chuyện muốn thưa với giáo sư.’
Ông gật đầu quay gót bước trở về văn phòng, không ghi nhận nét mặt của Trung, tươi vui nhưng ngập ngừng như cũng có chuyện gì muốn chia sẻ với ông.
oOo
David đưa Trà Mi tới tiệm ăn trên đỉnh đồi gần đại học, nhìn xuống một cái vịnh nhỏ. Ông chọn chiếc bàn trong vườn hoa phía sau. Dọc theo một hàng rào sắt uốn sơn đen, mấy chậu Azeleas đặt trên dẫy trụ thấp vuông vức xây bằng đá ong, nở hoa trắng và đỏ. Vài bụi bông giấy hoa tím nhị vàng trồng dọc theo một bức tường gạch trắng bên hông nhà, đỉnh tường lợp một hàng ngói ống. Dưới xa là bãi cát hình vòng cung giữa hai mỏm đá chòi xa ra biển, tiếng sóng vỗ vào vách đá vang lại, xa vắng thanh bình. Ông kéo ghế cho Trà Mi, kín đáo dành cho cô chỗ ngồi có tầm mắt bao quát cảnh biển với bãi cát vàng. Trà Mi ngắm khung cảnh nên thơ. Tươi tắn, cô nói:
‘Chỗ này đẹp và sang quá, chắc hôm nay giáo sư có chuyện gì vui lắm mới đãi Trà Mi ăn trưa ở đây.’
Ông sung sướng là chưa đầy hai năm mà Trà Mi đã hoàn toàn bình thường trở lại so với ngày mới tới. Hôm nay cô gái cư xử in hệt một thiếu nữ đồng tuổi, sẵn sàng đón nhận những vui buồn hàng ngày của cuộc sống. Từ câu cười tiếng nói, cô tỏa ra hạnh phúc. Ông kiêu hãnh với những cố gắng của ông để cải thiện đời sống của cô gái trong thời gian qua.
‘Trà Mi có thích tiệm này không? Ông nói. ‘Lâu lắm tôi mới trở lại quán này. Cách trang hoàng làm tôi nhớ tới mấy quán ăn dọc theo bờ Địa Trung Hải miền Nam nước Pháp, khoảng gần Tây Ban Nha ấy. Ở Việt Nam có bông giấy không nhỉ?’
‘Dạ thưa có, giáo sư.’
Trà Mi kể cho ông những loại thảo mộc quê nhà. Tất nhiên là có bông giấy. Bông giấy tím thì giống như ở đây. Còn bông giấy trắng thì khi nở hoa lại giống như đàn bướm đậu trên mái hiên. Nhưng quê nhà còn có những bụi xương rồng Thanh Long cha cô đã cho trồng làm hàng dậu. Lá dài như lưỡi dao mỏng, và mùa hè quả Thanh Long chín đỏ, hái ăn với đường cát và nước đá bào mát rượi. Cô tả những rừng phi lao mọc ven biển, đêm đêm tiếng vi vút theo gió vào phòng cô qua khung cửa sổ mở rộng, kỷ niệm âm thanh gắn liền với giấc mơ của người con gái. Cô còn nhớ những buổi sáng mai ra biển ngắm mặt trời mọc, cô thường tháo giày đi đất để đôi bàn chân tìm được cái mát của đêm trước còn trốn dưới cát, mặc dầu không khí đã bắt đầu oi ả… Trà Mi mải mê kể chuyện Việt Nam, mắt lim dim nhìn chân trời, tựa hồ như đang thấy được quê nhà bên kia đại dương.
‘Quê Trà Mi đẹp quá, Trà Mi có nhớ nhà không?’
Trà Mi quay lại. Nắng làm cô nheo mắt. Qua làn mi dài, cô nhìn ông, dáng điệu hồn nhiên. Cô nói:
‘Trà Mi đang nghĩ đến biển đông ở nhà. Giáo sư ngày xưa có phục vụ tại Việt Nam phải không? Giáo sư có nhớ không, ở Việt Nam, mặt trời mọc từ dưới bể Đông lên. Biển lúc bình minh đẹp lắm… Trà Mi còn nhớ một bài luận được thưởng. Trà Mi tả mặt bể sáng như bạc ròng, và mặt trời nhô lên như một nữ thần vừa tắm lửa xong, ánh sáng nhễ nhại như thủy ngân từ thân hình chảy xuống biển…’
‘Trà Mi làm luận hay quá. Nhưng ai mà không biết, đọc bài luận này tưởng Trà Mi đam mê lắm’
Rồi nhũn nhặn, ông nói tiếp:
“Ở đây chỉ thấy được mặt trời lặn xuống biển thôi. Cảnh biển hoàng hôn cũng đẹp lắm. Chỉ có điều người ta nhiều khi quá bận để thưởng lãm những cái đẹp như vậy…’
Ông chưa muốn nói chuyện học hành với Trà Mi vội. Lâu lắm ông mới có dịp ăn trưa một cách rảnh rang như hôm nay. Khung cảnh đẹp và nhẹ nhàng quá làm ông chưa muốn bàn tới những kế hoạch ngăn nắp cần thiết đến việc giúp Trà Mi đi học trở lại.
Ông nhớ hôm ghé lại Campus bên miền Đông thăm con gái, có bao nhiêu công việc muốn bàn với con, vậy mà hai cha con buổi trưa hôm đó đã mải vui chuyện mà quên đi mất. Về lại Cali, ông mới nhớ lại để gọi điện thoại nói với con…
‘Trà Mi đã ngắm hoàng hôn trên biển ở đây chưa?’
ông hỏi. Không thấy cô gái trả lời, ông quay lại thấy Trà Mi đang nghiêng đầu như nghe ngóng. Có ngọn gió nhẹ từ ngoài khơi thổi vào làm cái phong linh treo trên giàn hoa rung động. Mấy miếng vỏ ốc chạm nhau phát ra những âm thanh trong trẻo, nhẹ như nắng xuân đang sưởi ấm bầu trời ôn đới. Ông nói:
‘Ở Việt Nam người ta có treo vỏ ốc lên cây để nghe tiếng gió như vậy không nhỉ?’
Trà Mi nhìn ông, kiêu hãnh trả lời:
‘Tất nhiên là có, giáo sư. Người ta còn dùng những chùm chuông nhỏ đề làm phong linh. Ngày xưa trong vườn thượng uyển của vua, nghe nói người ta còn dùng chuông vàng chuông bạc nữa… Trà Mi chưa được nghe tiếng phong linh bằng vàng hay bằng bạc bao giờ. ‘Phong Linh’ tiếng Anh gọi là gì nhỉ, giáo sư?’
Ông rán nghĩ mà không nhớ ra món đồ quen thuộc vẫn thấy bán nhan nhản trong các vườn ươm cây của Cali. Sau cùng ông nói:
‘Đành chịu thôi, bỗng dưng mà quên mất. Nhưng Trà Mi vừa gọi nó bằng tên gì?’
‘Phong linh.’
‘Nghĩa là gì?’
‘Nghĩa là… linh hồn của gió…’
Cô dừng lại, thoáng nhớ đã nghe ở đâu chữ linh là chuông thay vì là linh hồn. Toan sửa lại cho đúng, cô bỗng tinh nghịch đổi ý. Làm bộ nghiêm trang như kể chuyện ma, cô nói:
‘Linh hồn của gió cũng như linh hồn của người đều vô hình, hay đúng hơn đều yên lặng, chỉ khi nào gặp được cảnh được người đồng điệu mới phát ra nhạc. Mấy âm thanh trong sáng như pha lê mà giáo sư đang nghe đó chính là linh hồn của gió. Hôm nay gió vui lắm, tiếng phong linh trong mà rộn rã như tiếng cười. Gió có hồn, giáo sư có sợ không?’
Ông mải mê chiêm ngưỡng cái gương mặt sống động với lúm đồng tiền bên má trái. Nụ cười chứa chan yêu đời trong đôi mắt trong sáng, chan hòa hạnh phúc xuống dung nhan mỹ miều. Khuôn mặt Trà Mi hôm nay như cái phong linh đã bắt được niềm hoan lạc của tâm hồn cô gái.
Ông bỗng thấy yêu Trà Mi. Ông quên đi sự chênh lệch tuổi tác và hoàn cảnh khác biệt giữa hai người. Ông chỉ nghe tâm hồn nhẹ nhàng như nắng xuân sưởi ấm, như tiếng gió đang đùa giỡn mấy miếng vỏ ốc trên chiếc phong linh…
‘Sự tích Việt Nam về cái phong linh đẹp quá.’
Cao hứng ông nắm tay Trà Mi đang đặt trên mặt bàn. Trà Mi không rút tay lại mà xiết nhẹ lại tay ông. Không có không gian, không có thời gian, không câu nệ tính toán, mà cũng không cả đam mê dục vọng. Một cái hôn cũng lạc lõng ở đây. Trong bầu trời xuân ấm áp, ông chỉ cảm thấy thật gần gũi với người con gái, chia sẻ với cô những cái gì nhẹ nhàng và đẹp… cũng đẹp và nhẹ như nắng xuân đang nhuộm vàng bãi cát dưới vịnh, như gió xuân đang khẽ hát qua chiếc phong linh bằng vỏ ốc biển.
Yêu thương như tỏa ra từ hai người, để hợp lại thành một thế giới nhỏ riêng tư, vô hình nhưng rất thật rất hiển hiện… Người bồi mang cà phê ra. Họ trở về thực tại mà không nghe đột ngột sượng sùng, tựa hồ như không có gì trì trệ nặng nề trong sự luyến ái mới bộc lộ. Trà Mi mở hũ đường, nhẹ nhàng hỏi ông:
‘Vẫn một miếng thôi phải không giáo sư. Tháng rồi ai rót cà phê cho giáo sư?’
Ông mỉm cười hiền lành:
‘Virginia.’
Trà Mi lại hỏi:
‘Giáo sư có muốn Trà Mi phụ trách lại ấm cà phê như trước không? Không vất vả gì cho Trà Mi đâu, Trà Mi có thể vừa coi điện toán vừa pha cà phê cho giáo sư.’
Ấm cà phê và máy điện toán làm ông nhớ lại công việc chính của buổi ăn trưa hôm nay. Nhưng ông cũng không vội. Thực ra là ông chỉ muốn giúp đỡ Trà Mi, bây giờ trong việc giúp đỡ lại còn có thương yêu nữa.
‘Cà phê của Trà Mi ngon lắm, nhưng hôm nay tôi có chuyện quan trọng muốn bàn với Trà Mi. Hôm xin việc đã lâu lắm, Trà Mi có tỏ ý sẽ tìm cách đi học lại, dự tính ấy còn không?’
‘Trà Mi vẫn đi học lớp tối về thống kê và điện toán…’
Ông ngắt lời:
‘Tôi không nói chuyện học lớp tối. Tôi muốn nói học một cách bình thường, toàn thời gian. Học một nghề mà Trà Mi thích. Học một cách chăm chỉ để tốt nghiệp trong một thời gian hạn định kìa…’
Cô không hiểu ông muốn nói gì. Chuyện học như vậy ở hoàn cảnh cô đâu có dễ. Còn học phí, còn ăn ở, còn bao nhiêu khoản khác… Vả lại từ sáng nay cô đã có dự tính khác…
Ông nói tiếp:
‘Cuộc đời sinh viên cũng nhiều cái vui lắm. Dịp nghỉ tới khi con Anne nó về, tôi muốn Trà Mi nói chuyện với nó. Đi học không cực lắm đâu. Tất nhiên là mùa thi thì phải thức khuya dậy sớm, và phải theo kỷ luật của đời sinh viên. Tuy nhiên thời này khó mà biết được kỷ luật của đời sinh viên là gì… Chỉ có điều là ở Mỹ không có học khó thành công. Không bằng cấp, khó kiếm được việc tốt. Trà Mi quá thông minh để làm mãi công việc hiện giờ đang làm.’
Bây giờ thì Trà Mi hiểu. Ông chủ tâm là khuyến khích cô đi học lại để tiến thân. Vấn đề là ông không thực tế, cô không phải là con Anne, mọi việc đã có cha mẹ lo. Cô nhỏ nhẹ:
‘Cảm ơn giáo sư. Nhưng hoàn cảnh Trà Mi không cho phép. Không phải Trà Mi lười biếng, nhưng Trà Mi phải mưu sinh, phải tự lập trước đã rồi mới dám nghĩ đến chuyện tiến thân.’
Ông như đọc trước được ý nghĩ Trà Mi:
‘Tôi đã nghĩ đến những khó khăn liên hệ đến chuyện này. Tất nhiên là ba má Trà Mi không có ở đây để lo cho Trà Mi như tôi lo cho con Anne. Nhưng hôm nay tôi đề nghị giúp Trà Mi về tài chánh để Trà Mi đi học lại… Bao giờ thành công đỗ đạt, Trà Mi trả lại tôi. Tôi đã hỏi bên học vụ, không tốn kém lắm đâu. Nhất là Trà Mi là nhân viên của đại học, thế nào cũng được hưởng những ưu tiên hay giúp đỡ đặc biệt…’
Trà Mi ngắt lời:
‘Giáo sư, giáo sư tốt với Trà Mi quá. Nhưng…’
‘Nhưng?’
Trà Mi nhìn ông một giây:
‘Trà Mi đã có một dự tính khác…’
‘Trà Mi dự tính gì?’
‘Thật ra là một dự tính riêng tư. Nhưng hôm nay, Trà Mi không có quyền giấu giáo sư chuyện này. Trà Mi sắp lập gia đình. Trà Mi thế nào cũng sẽ đi học lại, nhưng chắc chắn là không thể thi hành cái mộng này ngay bây giờ được. Vì còn việc sở, việc nội trợ cho gia đình tương lai…’
Ông yên lặng giây lâu. Rồi ông hỏi:
‘Trà Mi quyết định lâu chưa?’
‘Quen biết thì cũng lâu rồi. Nhưng Trà Mi mới quyết định sáng nay… Tuy nhiên nếu giáo sư cho phép, Trà Mi sẽ không nghỉ việc liền. Anh ấy còn sáu tháng nữa mới ra trường, cho đến khi đó lương của Trà Mi vẫn là một lợi tức quan trọng cho hai đứa…’
‘Ai vậy, Trà Mi?’
‘Anh Trung. Giáo sư mừng cho Trà Mi đi.’
Không biết ông như lặng đi, Trà Mi nói tiếp:
‘Anh ấy chưa nói với giáo sư sao?’
‘Chưa, nhưng chắc rồi nay mai anh ấy sẽ nói.’
‘Vậy giáo sư làm bộ như không hay trước nhé. Anh ấy biết giáo sư vẫn ái ngại cho tương lai của Trà Mi nên định làm giáo sư ngạc nhiên, để dành tin vui này như một món quà đặc biệt cho giáo sư.’
Thế cũng xong, sau cùng ông thở dài nhẹ nhõm. Ông tự cười thầm là một chuyện rõ ràng như thế mà cũng không để ý. Đã từ lâu ông đã thấy những triệu chứng hiển nhiên là Trung săn sóc Trà Mi, mê say Trà Mi. Thấy mà không ghi nhận. Nghĩ cho cùng, sự việc cũng không có gì bất ngờ. Hai người cùng văn hóa, cùng chủng tộc, và nhất là cùng lứa tuổi…
Chiếc phong bì cồm cộm trong túi áo nhắc đến món tiền ông định cho Trà Mi để đi học trong lục cá nguyệt tới. Tấm ngân phiếu ông đã ký tên phía sau để nhượng cho Trà Mi, bây giờ thì không cần thiết nữa. Tuy nhiên ông vẫn muốn tặng Trà Mi món tiền đó. Rút túi ra chiếc phong bì trao Trà Mi, ông nói:
‘Quà mừng tuổi của Trà Mi, bây giờ kể như là món quà cưới.’
Trà Mi nhận chiếc phong bì thản nhiên mở ví bỏ vào. Ông biết phép lịch sự của người Á Đông không mở quà trước mặt khách, dù là một tấm thiệp đầu xuân. Ông gọi bồi trả tiền rồi cùng Trà Mi về lại đại học.
Trên xe, ông nghĩ đến đám cưới sắp tới của Trà Mi. Chắc chắn món tiền sẽ giúp đỡ khá nhiều cho cặp vợ chồng trẻ. Ông nhớ lại thủa mới lấy vợ ngày xưa. Hồi đó ai cũng khen Tiffany và ông là xứng đôi. Bây giờ thì đến lượt đứa học trò cưng và đứa con nuôi của ông bắt đầu cuộc sống lứa đôi.. Ông nghĩ Trà Mi khác tính Tiffany, và tương lai cặp vợ chồng trẻ sẽ không gặp những chông gai ông đã gặp trong đời sống vợ chồng… Rồi nghĩ đến những vui thú mà món tiền mừng sẽ mua cho cặp uyên ương trẻ trong tuần trăng mật, ông thấy ấm áp trong lòng…
Vậy mà ông vẫn không thoải mái. Có lẽ ông bực mình là đã lầm tưởng sự khuyến khích nâng đỡ của mình là nguyên do phục hồi tinh thần cho người con gái di tản. Những ân cần, những khen lao những giúp đỡ ông bấy lâu dành cho Trà Mi hóa ra không ăn nhằm gì đến sự vui tươi yêu đời hiện tại của cô.
Rồi ông lại thấy mến Trung, người học trò lớn của mình. Trà Mi không phải như một người con gái bình thường khác. Phải có tâm hồn khoáng đạt mới thấy hết cái đẹp nơi cô. Ôâng biết phần lớn bí ẩn cuộc đời Trà Mi không còn là bí mật với đồng hương của cô. Nguyên do của sự lạnh lùng băng giá ban đầu của Trà Mi, về sau chính ông cũng còn biết nữa. Những bạo tàn gặp trên bể Nam Hải cũng như những lường gạt mắc phải những năm đầu tại Mỹ, cả ông cũng được người ta kể cho nghe, huống gì Trung.
Hơn nữa, ông biết Trà Mi rất tự trọng. Khi chuyện hôn nhân được đề cập tới, tất nhiên cô đã cho Trung hay biết tất cả sự thật. Một người chồng hay một vị hôn phu trung bình chắc không chịu nổi sự ám ảnh của một quá khứ như vậy.
Chính tình yêu của Trung là cội nguồn mọi chuyện. Chính tình yêu này đã đánh thức cái phong linh tâm hồn của Trà Mi. Phải chăng chia sẻ với Trung những gian khổ cũ đã giúp cho Trà Mi cởi mở hơn chăng. Sự ân cần độ lượng của Trung đã phục hồi cho Trà Mi niềm yêu đời trong sự tin cậy rằng, với Trung, những tàn bạo hay lừa gạt của quá khứ sẽ không bao giờ tái diễn…
Ông nhận thấy cái khả năng mãnh liệt của tình yêu vừa đôi phải lứa và sức mạnh của tuổi trẻ. Với một chút ganh tị, ông mơ hồ nuối tiếc cái tuổi trẻ không còn nữa của chính mình… Nhưng rồi ông tìm lại được thoải mái, ghi nhận mình đã ra khỏi cái thắc mắc gần đây đã trở nên gần như quá đáng với người nữ nhân viên trẻ của mình. Sự thắc mắc này nhiều lần đã làm cho ông thấy không ổn vì nó không nằm trong một dạng liên hệ nhân sự ngăn nắp nào. Ông đã luôn luôn phải rán nghĩ đến tình cha con với con Anne, mỗi lần thấy tình thương cho Trà Mi nhen nhúm trong lòng. Lúc nào cũng phải gọi lên hình ảnh con Anne như một cái nạng để chống đỡ. Mà chống đỡ cái gì. Phải chăng trong tiềm thức ông đã lo lắng là mình đã yêu Trà Mi theo chiều hướng nam nữ, tuy rằng ngoại trừ chuyện tuổi tác và những quy ước thông thường khác, thật ra không có gì tuyệt đối cấm đoán một tình yêu như vậy.
Bây giờ thì mọi chuyện đã được an bài chu đáo. ít nhất là cuộc đời Trà Mi đã yên ổn. Trung sẽ là một người chồng tốt, có trách nhiệm, có địa vị, có ăn học… Đời Trà Mi đã bình thường trở lại, ông không có lý do để bận tâm một cách không bình thường và làm những cố gắng không bình thường để giúp cô. Lý do để bận tâm không còn nữa, khúc mắc tâm hồn của ông chẳng đã nhẹ đi sao.
Vậy mà ông vẫn thấy buồn man mác. Mơ hồ ông nghĩ có thể ông đã yêu Trà Mi từ hôm mới gặp. Trong tiềm thức ông đã mơ ước một liên hệ yêu thương với Trà Mi, trong đó có tình yêu cũ với vợ lẫn với tình thương con Anne con gái ông. Ông vội gạt bỏ những ý nghĩ vô lý đó, thấy mình đang suy nghĩ một cách vô trật tự và bất thường.
Ông vẫn không dứt khoát được. Lúc chia tay ở cửa phòng thí nghiệm, ông buột miệng nói:
‘Tôi sẽ nhớ mãi sự tích cái phong linh Trà Mi kể hôm nay…’
Rồi nhận thấy mình nhắc lại một chuyện đã ‘cũ’ không còn hợp cảnh nữa, ông chững chạc nói tiếp:
‘Tôi chúc Trà Mi hạnh phúc với Trung. Và tôi tin chắc rằng hai người sẽ thành công.’
Ông dứt câu một cách gọn gàng, rành mạch báo hiệu là không còn gì để nói nữa. Nhưng trái với thường lệ, Trà Mi như nhất định nắm thế chủ động. Cô nói lời cuối cùng:
‘Cảm ơn giáo sư. Cảm ơn giáo sư tất cả mọi chuyện. Trà Mi biết Trà Mi sẽ hạnh phúc. Anh Trung tốt với Trà Mi lắm. Vả lại…’
‘Vả lại?’
Trà Mi nhìn ông. Như thu hết cố gắng để chận xúc cảm xuống, cô nói thật nhanh:
‘Vả lại, cả tính tốt lẫn tính xấu, anh ấy giống giáo sư nhiều lắm.’
oOo
David trở lại bàn giấy, thấy văn thơ ‘Gấp’ Virginia đã để dựa trên điện thoại của ông tự bao giờ. Uể oải, ông mở ra đọc, thấy chỉ thị của văn phòng khoa trưởng về soạn thảo chương trình giảng huấn cho lục cá nguyệt tới. Một học kỳ mới sắp sửa bắt đầu. Hai mươi học kỳ như vậy nữa là ông đến tuổi về hưu.
Ông cảm thấy cô đơn với tuổi già không còn xa lắm. Ông nghĩ tới người vợ cũ bên New York, đang thành công trong nghề vẽ kiểu áo. Ông và Tiffany vẫn là bạn, và cả hai vẫn chưa lập gia đình trở lại. Ly dị xảy ra năm năm trước, khi đam mê nghề nghiệp và thành công cá nhân đã chia rẽ hai người. Thành công bây giờ cả Tiffany và ông đã nắm được trong tay, và có lẽ cả hai cũng có lúc tự hỏi rằng chừng đó thành công có xứng đáng với chừng ấy hy sinh không? Có lẽ ông sẽ bay sang New York thăm vợ cũ ít ngày, luôn tiện bàn về việc học của con Anne. Nhưng ông lại đổi ý kiến, khi nhận thấy cuộc viếng thăm này vị kỷ. Vả lại tự ái ngăn cấm ông chạy tới Tiffany trong một tình trạng tâm hồn như bây giờ…
Rồi ông rán làm việc để được bận rộn. Ông lấy giấy bút ra thảo chương trình cho lục cá nguyệt tới như văn phòng khoa trưởng chỉ thị. Nhưng đầu óc không trụ nổi, cho đến năm giờ chiều ông cũng chưa viết được bao nhiêu. Lúc sắp ra về, Virginia gõ cửa đưa cho ông một phong thơ Trà Mi nhờ đưa lại.
‘Giáo sư,
‘Cảm ơn giáo sư bữa ăn trưa hôm nay. Lâu lắm Trà Mi mới được sống những giờ khắc dễ thương như vậy. Mà Trà Mi cũng ngạc nhiên một cách sung sướng vì những khám phá mới về giáo sư. Trà Mi đã tưởng giáo sư thuần túy là một nhà khoa học, một thày giáo, một người lớn đầy lòng nhân…
‘Còn thì giáo sư đãng trí lắm giáo sư biết không? Mà giáo sư cũng vô tâm nữa… Lắm khi Trà Mi không biết làm sao cho giáo sư để ý chuyện gì. Giáo sư tinh tường như vậy khi dậy anh Trung khảo cứu. Những nguyên lý khoa học, thoáng một chút là giáo sư tìm ra… Sao mà chuyện nhân sự, nhiều khi ngay trước mắt mà giáo sư như không nhìn thấy, mãi cho đến trưa nay…
Còn tấm ngân phiếu, Trà Mi không dám nhận. Trà Mi biết ơn, nhưng không thể nào nhận được, Giáo sư sẽ hỏi tại sao những lần giáo sư sai Trà Mi đi mua cà phê hay văn phòng phẩm, Trà Mi đã nhận vài chục tiền lẻ còn thừa… ‘Để mua kẹo’, nếu mượn lời giáo sư. Tại sao Trà Mi sung sướng và biết ơn mà nhận những lần thăng thưởng quá mức. Chắc chỉ nhĩn một chút, giáo sư sẽ hiểu tại sao.
Trà Mi trả lại giáo sư tấm ngân phiếu. Trà Mi hiểu được ý tốt của giáo sư. Nhưng nếu giáo sư cho Trà Mi món tiền ấy hôm qua, Trà Mi đã nhận tức khắc…
Nhưng buổi trưa hôm nay đẹp quá đã thay đổi liên hệ giữa giáo sư và Trà Mi. Và liên hệ mới ấy đòi hỏi nơi Trà Mi những thay đổi mới…
Nhưng giáo sư đừng sợ. Trà Mi không đam mê lắm đâu. Bài luận về mọc trời mọc Trà Mi viết đã lâu. Trà Mi bây giờ khôn lớn rồi, biết những giới hạn của mơ ước, và có nhiều chuyện ngoài tầm tay của giáo sư cũng như của Trà Mi. Đời sống giáo sư trong sạch và thứ tự quá, ai thật tình yêu giáo sư chắc không nỡ phá rầy.
Trà Mi biết giáo sư buồn lòng vì Trà Mi đã không nhận món quà cưới này. Nhưng giáo sư ơi, mặc dầu những gian truân trên đời từ khi bỏ nước ra đi, Trà Mi muốn giữ liên hệ giữa chúng mình hoàn toàn đẹp đẽ, đẹp một cách lý tưởng, một cách không thực tế nữa. Như một mảng đời riêng tư cho giáo sư và cho Trà Mi. Như giáo sư biết trong cuộc sống hàng ngày, nhiều khi ngay giữa vợ chồng, anh em, người ta lợi dụng nhau vì tiền, người ta lợi dụng nhau vì sắc…
Nhưng những eo sèo này không xâm lấn được vào trong mảnh đời riêng tư của chúng mình. Giáo sư đã che chở không cho Trà Mi uống rượu đêm Father’s Day hôm trước, Trà Mi cũng đủ ‘tốt lành’ để trả lại giáo sư món tiền hôm nay.
Chắc giáo sư cho là Trà Mi lãng mạn. Nhưng Trà Mi rất thực tế. Mảnh đời riêng tư này mà mọi người có thể cho là vô lý, nhưng thật ra vô cùng hiện hữu và vô cùng quý báu cho Trà Mi. Những lần thất bại, những lần tủi nhục, tâm hồn Trà Mi có thể trốn vào mảnh đời ấy như con tàu tránh bão tìm được cái vịnh an lành… Như cái vịnh nhỏ chân đồi dưới tiệm ăn hôm nay… ở đấy không có phong ba gào thét, mà chỉ có gió xuân ca những lời ca trong sáng trên những mảnh vỏ ốc của chiếc phong linh…
Trà Mi xin giáo sư cho Trà Mi nghỉ Tết sớm từ hôm nay. Ra giêng, Trà Mi sẽ ở luôn nhà để lo nội trợ cho anh Trung… Mong rằng giáo sư đừng quên bữa ăn trưa hôm nay của chúng mình. Trên đời chỉ có hai người lo cho Trà Mi, là giáo sư và anh Trung…’
Ông gấp lá thư lại. Ông nghe vô cùng thương yêu người con gái mới hơn năm trước còn xa lạ như từ một tinh cầu khác tới. Mặc dầu quá khứ cô gian truân chừng ấy, ông chưa gặp ai trong sáng như cô.
Ông biết sẽ không bao giờ gặp lại Trà Mi và cảm thấy hối tiếc. Tính vô tâm và thói say mê công việc đã làm ông lỡ làng mất hạnh phúc lớn nhất trên đời. Ông cầu mong Trà Mi được hạnh phúc với Trung. Nếu hôn nhân này đổ vỡ vì lý do nào, ông sẽ không bao giờ tự tha thứ cho cái lỗi đã không tích cực hơn để đáp ứng tình yêu của cô.
Ông nghĩ đến cuộc đời trước mặt. Có lẽ ông sẽ lấy mấy tuần để lên căn nhà gỗ trên núi của ông. Ông sẽ tìm cách tĩnh tâm vài bữa trong cảnh thiên nhiên. Rồi ông sẽ ngồi viết chương trình lục cá nguyệt tới cho trường… Có lẽ ông cũng sẽ gắng viết một bài khảo luận nhỏ trước khi về trường làm việc lại như thường lệ.
Ý niệm ‘như thường lệ’ làm ông mỉm cười. Ông biết đời mình từ đây sẽ không như thường lệ. Mọi chuyện đã thay đổi.
Tất nhiên là không thay đổi nhiều lắm. Chỉ mỗi khi tiết xuân về, khi gió biển đùa giỡn với mấy mảnh vỏ ốc trên chiếc phong linh trong vườn nhà ai, những âm thanh trong sáng đó sẽ gợi cho ông, và biết đâu cho cả Trà Mi ở một nơi nào khác, một chút kỷ niệm riêng tư mà chỉ hai người biết.
Mai Kim Ngọc
Nguồn: vantuyen.net



















