Đồi tình yêu

Posted: 28/02/2012 in Hồng Tâm, Truyện Ngắn

Hồng Tâm

Chiều chiều,Tuyết và Minh thường rủ nhau đạp xe xuống đồi Kỳ Phú chơi. Tuổi mười bốn đẹp như mơ. Tuyết và Minh còn ngây thơ, chưa biết yêu, chỉ đùa nghịch như con trai. Hai đứa tìm những viên đá và chơi trò làm nhà. Tuyết khuân những viên đá lớn, xếp chồng lên nhau, xây một ngôi nhà giống như trong truyện cổ tích. Hai đứa bẻ cây, hái hoa trang trí cho ngôi nhà. Xây nhà chán, Tuyết và Minh chơi trò cút bắt và đi hái sim. Ngọn đồi Kỳ Phú không phải là một đồi sim như trong bài thơ của nhà thơ Hữu Loan : « Những đồi hoa sim, những đồi hoa sim tím chiều hoang biền biệt. ». Sim chỉ mọc rải rác vài bụi. Nhưng những cây hoa mua nở hoa tím ngát một vùng. Ánh nắng chiều vương vãi trên các lùm cây, trải một màu vàng mỏng như tơ.Tuyết và Minh rủ nhau đi tìm hoa dủ dẻ. Hoa dủ dẻ dễ tìm vì mùi hương ngọt ngào, nồng nàn lan tỏa trong không gian của buổi chiều tà. Hoa dủ dẻ còn được gọi là hoa tịch dương vì khi trời sắp tối, chạng vạng, ánh mặt trời sắp tắt ở phương tây, hoàng hôn bắt đầu dâng lên thì hoa mới tỏa mùi thơm nồng nàn.Hai đứa hái được những chùm hoa mua tím, những chùm trái dủ dẻ chín vàng và hoa dủ dẻ thơm lừng. Tuyết và Minh vui sướng, cười đùa và ra về khi bóng hoàng hôn bao trùm ngọn đồi.

Đến năm mười bảy tuổi thì Minh đã biết yêu. Minh không còn đi chơi đồi với Tuyết mà đi với chàng trai trong mộng. Ngọn đồi Kỳ Phú đã chứng kiến mối tình tuyệt đẹp của Lân và Minh. Lân đã yêu Minh ngay từ cái nhìn đầu tiên. Mỗi lần đi chơi cùng các bạn, Lân luôn chìu chuộng Minh. Các bạn bè ủng hộ, tán đồng nhưng có một trở ngại lớn mà hai người phải vượt qua. Đó là sự phân biệt chủng tộc. Gia đình Minh là người Hoa nên không muốn con gái lấy chồng người Việt. Lân thường thì thầm bên tai Minh:

– Anh yêu em nhiều lắm ! Nhưng…

Minh thường lấy hai ngón tay bịt miệng chàng:

– Không có “nhưng” gì cả.

Lân thở dài:

– Nhưng mẹ em đâu có đồng ý cho hai đứa mình…

Minh nhớ lại một lần bị cảm cúm nặng. Lân đã tìm đến thăm Minh..Mẹ của Minh không hề đáp lại lời chào của Lân.. Bà tỏ thái độ lạnh lùng, khó chịu. Từ đó, Lân ít đến thăm Minh. Hai người thường hẹn gặp nhau ở đồi Kỳ Phú. Ngọn đồi trông trơ trọi, ít cây cối nhưng đứng từ trên cao nhìn xuống chung quanh rất đẹp. Những cánh đồng lúa chin vàng, trông xa xa như một tấm thảm. Dòng sông như một dãi lụa mềm mại uốn quanh. Lân thường chọn một nơi bằng phẳng, hai người ngồi sát bên nhau. Lân ôm Minh trong vòng tay nóng bỏng của mình, hôn Minh say đắm. Có lúc say sưa quá, Lân nằm đè lên người Minh. Khi Lân không kìm giữ được, kéo quần Minh xuống thì Minh đã vùng ngồi dậy. Bản năng tự vệ của người con gái đã làm cho Minh không chìu theo ý muốn của người mình yêu. Lân quàng tay ôm Minh vào lòng:

– Anh yêu em và sợ mất em. Nếu gia đình không đồng ý, hai đứa mình đưa nhau đi thật xa…

Minh nắm chặt tay Lân :

– Người Hoa phong kiến lắm. Mẹ em làm sao chịu đựng nỗi khi em bỏ nhà ra đi.

Những buổi đi chơi của Lân và Minh thường kết thúc trong bế tắt. Chính vì thế, những giây phút gần gũi bên nhau của hai người vừa nồng nàn vừa xen lẫn sự đau xót vì sợ mất nhau. Ngọn đồi Kì Phú trở thành tổ ấm của hai người. Lân chăm sóc Minh từng li từng tí, Minh hay mua đồ ăn mang theo trong những cuộc đi chơi. Lân đút từng miếng cho Minh, vuốt ve Minh thật dịu dàng. Họ sống bên nhau những năm tháng thật hạnh phúc. Mối tình của họ được bạn bè khen là đẹp vì Minh đẹp gái, có nhiều chàng trai khác theo đuổi nhưng Minh vẫn luôn chung thủy với Lân. Trong thời gian này, có một anh chàng người Hoa rất giàu có thường đến nhà Minh chơi. Anh ta quen với gia đình Minh, bà mẹ của Minh rất quí mến chàng trai ấy, luôn tiếp đãi chàng một cách nồng hậu.

Thế rồi, Minh nghe bạn bè nói Lân có một cô gái rất thích Lân. Cô gái này được gia đinh Lân đồng ý chọn làm con dâu tương lai do một quan hệ thân thiết với bà cô ruột của Lân. Một hôm, tình cờ Minh bắt gặp cô gái đó và Lân đang ngồi trong quán ăn chè. Minh vội vàng bỏ đi.. Minh đau đớn, hụt hẩng vô cùng. Có một nỗi nghẹn nghào dâng lên chặn ở cổ, Minh nuốt cơm không vô, những món ăn ngon nhất cũng trở thành vô vị. Minh sụt kí, gầy đi trông thấy. Càng gầy, Minh càng đẹp hơn. Minh làm xôn xao bao chàng trai và họ thách đấu nhau ai sẽ chiếm được trái tim của Minh.

Trong thời gian này, Lân tìm nhiều cách để gặp Minh. Lân hay đến trước nhà Minh, chờ Minh đi qua để gặp nhưng Minh tránh mặt Lân. Nhiều lúc Minh đi công việc, thấy Lân đứng chờ là Minh trốn biệt trong nhà. Minh tìm hiểu sự việc qua mấy người bạn thì họ cho biết là Lân và cô gái đó sắp làm lễ hỏi. Sau đó, Minh được biết là họ đã làm đám hỏi do sự sắp đặt của gia đình hai bên. Không còn nghi ngờ gì nữa, Minh tuyệt vọng hoàn toàn. Trong khi đó, chàng trai người Hoa quen biết càng gần gũi thân mật hơn trong mối quan hệ với gia đình Minh. Mẹ của Minh càng ngày càng quí chàng trai này. Khi chàng xin hỏi cưới Minh làm vợ, Minh đồng ý ngay dù xem chàng như một người anh trai. Lân đến tìm Minh nhiều lần nữa nhưng Minh càng không muốn gặp. Đã đi hỏi vợ rồì thì còn gặp nhau làm gì? Minh lên xe hoa về nhà chồng trong tâm trạng hỗn mang nhưng Minh thấy quyết định này là đúng đắn và cần thiết. Đám cưới diễn ra thật lớn vì chàng rễ người Hoa là người giàu sang. Minh đi lấy chồng mang theo một vết thương lòng. Từ Tam Kì, Minh theo chồng về Đà Nẵng sinh sống. Điều này làm Minh rất sung sướng vì tránh cho Minh gặp cái cảnh người mình yêu đi bên cạnh một cô gái khác. Vào một buổi chiều chủ nhật, Minh cùng người bạn vào quán ăn chè, Minh thấy Lân ngồi bên cạnh cô gái đó cùng mấy người bạn trong nhóm. Đây là lần chạm trán thứ hai, Minh cùng người bạn gái vội ra khỏi quán. Minh biết cô gái này và cô chẳng có điểm nào đặc biệt hơn Minh. Điều này càng làm cho Minh tức tối :”tưởng bỏ mình để yêu một người nào ngon lành hơn, không ngờ cô ta cũng tầm thường, có gì hơn mình?”. Chứng kiến cảnh họ ở bên nhau và được những người trong nhóm bạn cho biết là họ đã làm lễ hỏi, Minh vâng lời mẹ đi lấy chồng, không một chút băn khoăn, vương vấn.

oOo

Sau ba mươi mốt năm trời Minh định cư cùng với gia đình ở Mỹ. Minh cùng chồng trở về Việt Nam. Sỡ dĩ lâu quá Minh mới về thăm quê hương vì ba má, anh chị em của Minh cũng như của bên chồng, tất cả đều đã sang Mỹ. Trong cuộc gặp gỡ với bạn bè ở Việt Nam, Minh được biết Lân đã mất tích trong một trận càn ác liệt vào năm 1972. Lân cũng chưa cưới vợ. Lân mất tích cho đến bây giờ gia đình cũng chưa tìm đưọc xác. Chiến tranh ! Ôi ! Chiến tranh đã cướp đi hàng ngàn hàng vạn sinh mạng của những chàng trai trẻ tràn đầy sức sống. Chiến tranh đã làm cho biết bao nhiêu trái tim tan nát, đổ nước mắt thương tiếc những người đã ngã xuống. Cô gái tiễn chàng trai ra chiến trường, khi trở về là “hòm gỗ cài hoa”:

Anh trở về trên đôi nạng gỗ.
Anh trở về hòm gỗ cài hoa.

(Phạm Duy, Ngày trở về)

Vợ chưa cưới của Lân đã đi lấy chồng. Minh không hiểu sao Lân đi hỏi vợ đã mấy năm rồi mà không cưới. Chính điều này làm Minh ray rức, dằn vặt. Nếu như Lân cưới vợ, sinh con, có một gia đình hạnh phúc trước khi mất thì Minh không bị khắc khoải đến thế. Mối tình chôn vùi ba mươi mấy năm tưởng đã quên nhưng lại bừng dậy một cách mãnh liệt. Minh ân hận và hối tiếc tại sao mình không gặp gỡ chàng một lần để nghe chàng giải thích. Tại sao chàng không cưới vợ? Hay chàng vẫn còn yêu Minh? Chàng mất tích làm tim Minh đau buốt. Những năm ở Mỹ, Minh vùi đầu trong công việc làm ăn nên dường như không nghĩ đến chàng. Minh đã sinh được hai người con gái và một người con trai. Chồng của Minh là người cực kì yêu quí vợ con. Gia đình Minh rất hạnh phúc. Hai người thỉnh thoảng đi thăm ba má, anh em của Minh cũng như bên chồng. Đại gia đình của Minh thường gặp gỡ nhau trong các ngày lễ. Hai vợ chồng đều về hưu nên thường đi du lịch qua các nước. Cuộc đời của Minh trôi êm như dòng sông phẳng lặng. Thế mà bây giờ, về Việt Nam được biết hoàn cảnh bất hạnh của Lân, Minh xót xa, khổ đau như chưa từng khổ đau đến thế. Một người bạn thân của Lân đem cho Minh xem mấy bài thơ Lân làm cho Minh. Đọc những dòng chữ trên màu giấy đã úa vàng, tim Minh đau thắt từng cơn. Từ nay, Minh không còn cảm thấy hạnh phúc trong cái nôi êm ái của gia đình. Minh ăn không ngon ngủ không yên khi nghĩ về Lân. Những câu hỏi cứ xoay vần trong đầu óc Minh. Tại sao Lân không cưới vợ? Lân vẫn còn yêu Minh cho đến lúc chết? Những câu hỏi băn khoăn thắc mắc như dằn vặt tâm hồn Minh, làm cho Minh không còn cảm thấy hạnh phúc, yên vui như trước đây. Minh thường gọi điện, tâm sự nỗi khổ tâm của mình cho Tuyết đang ở Việt Nam. Làm sao Minh có thể thoát khỏi sự ân hận này? Nếu ngày đó Minh liều lĩnh bỏ nhà ra đi chung sống với Lân thì sự việc đã khác. Nếu ngày đó Minh chịu gặp gỡ Lân, chịu để cho Lân giải thích thì biết đâu Lân đã không tình nguyện đi lính, Lân đã không bị chết mất xác . Thời gian Lân đã đi hỏi vợ, Minh bực tức, giận dỗi Lân nên vội vã đi lấy chồng. Lúc đó, Minh còn thầm cảm ơn người chồng của Minh đã vô tình giải thoát Minh khỏi sự buồn tủi, uất hận khi Lân đi hỏi vợ, bạn bè Minh sẽ không còn tỏ ra thương hại Minh nữa. Nếu ngày đó…Nếu ngày đó…Chữ “nếu” quẩn quanh trong đầu Minh không có lời giải đáp ổn thỏa lại càng làm Minh rối bời. Minh nhớ lại thời kì hai đứa nồng nàn yêu nhau, những buổi chiều đằm thắm ngọt ngào trên đồi Ki Phú. Lân rất thích nụ cười tươi tắn như hoa của Minh. Lân nói: “Thấy em là thấy nụ cười”. Minh sống lại quãng đời ngày xưa với tất cả xót xa, nuối tiếc. Ước gì có Lân ở đây, ước gì Lân còn sống. Lân ơi ! Lân ơi ! Minh gọi thầm Lân trong đêm, nước mắt chảy ướt cả gối.

Minh nhớ lại thời gian bị thất tình. Nếu ai đã từng yêu thì không thoát khỏi tâm trạng thất tình. Chỉ với những người có cuộc sống may mắn, đời êm đềm trôi, yêu nhau, cưới nhau ngay trong mối tình đầu thì mới không bị thất tình. Ngay cả thi sĩ Vũ Hoàng Chương, một người đẹp trai, thanh lịch, trí thức, yêu và được yêu mà cũng bị thất tình. Ta hãy nghe tiếng kêu đau đớn, tuyệt vọng của nhà thơ:

Đêm nay lửa tắt bình khô rượu
Đời vắng em rồi say với ai?

Vì nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, giữ được người mình yêu là khó vô vàn. Người con trai mang nhiều hoài bão, ước vọng. Yêu và cưới người mình yêu là hai vấn đề khác nhau. Đứng trước ngưỡng cửa hôn nhân, họ thấy trách nhiệm nặng nề vì bản thân họ chưa trang bị được hành trang để bước vững vàng trên con đường làm chồng, làm cha. Họ sống trong một hoàn cảnh xã hội nhiễu nhương, làm người dân nô lệ, sống mất phương hướng thì làm sao có thể đem lại hạnh phúc cho người mình yêu như tâm tư của thi sĩ Vũ Hoàng Chương :

Lũ chúng ta đầu thai lầm thế kỷ
Một đôi người u uất nỗi chơ vơ
Đời kiêu bạc không dung hồn giản dị
Thuyền ơi thuyền xin ghé bến hoang sơ

Tâm hồn người con trai khác với con gái vì đa số các cô gái rất ngại vất vả, lăn lộn gió sương, nhất là những cô gái đẹp, khuê các. Họ sống trong nhung lụa, giàu sang, có kẻ hầu người hạ, làm sao chàng trai yêu những cô gái thượng lưu, ngọc ngà lại không ngại ngần khi mình chưa đủ tầm vóc, sự nghiệp để mang lại hạnh phúc cho người mình yêu. Có lẽ Lân cũng vậy. Lân không vượt được những trở ngại để đến với Minh nên đã bị “cuốn theo chiều gió“ để rồi đính hôn với một cô gái khác không có đòi hỏi một điều kiện nào và được sự hổ trợ của cả hai gia đình. Làm lễ hỏi xong nhưng mấy năm sau Lân vẫn không cưới cô gái đó cho đến khi bị mất tích.. Điều này làm Minh khắc khoải, không yên lòng. Minh sống bên cạnh ông chồng rất yêu thương vợ, chìu chuộng vợ tất cả mọi điều. Đôi khi, ông chăm sóc vợ như mẹ chăm sóc con. Ông xay sinh tố để Minh uống mỗi ngày một ly cho đẹp da, tối pha sữa cho vợ uống trước khi đi ngủ, pha nước nóng cho vợ ngâm chân. Minh muốn đi du lịch nước nào ông cũng đưa đi. Khi đi du lịch, ông xếp áo quần và mọi thứ cần dùng vào va ly cho Minh, chu đáo không bỏ sót một món nào của người phụ nữ. Sống êm đềm bên cạnh người chồng lý tưởng như vậy nhưng Minh vẫn luôn nhớ về mối tình đầu tiên để lại trong lòng Minh nhiều niềm u hoài. Minh hay gọi điện về cho Tuyết như để trút bầu tâm sự canh cánh bên lòng:

– Ê! Tuyết. Tại sao Lân đi hỏi vợ hai năm rồi lại không cưới vợ hả mi?

– Có lẽ vì chiến tranh. Lân sợ vợ mình sẽ bị góa bụa vì Lân đang ở ngoài chiến trường, biết sống chết ngày nào !

Minh vẫn không chịu:

– Biết như vậy thì đi hỏi làm gì? Để cho người ta tự do có hơn không ?

Có lẽ điều ẩn dấu sâu kín trong tâm tư Minh là Minh nghĩ Lân còn yêu Minh nên Lân không cưới vợ. Cũng chính điều này làm Minh khắc khoải, nhiều đêm thao thức đến sáng.

Minh nhớ khi Lân quen biết với cô gái đó, Lân đã đến tìm Minh nhiều lần nhưng Minh đều tránh mặt. Lân đã đứng trước nhà Minh hàng giờ, chờ Minh đi qua nhưng Minh “cố thủ” trong nhà, Lân không thể nào gặp được Minh để phân giải. Bây giờ, Minh cứ ân hận. Tại sao lúc đó Mình không cho Lân gặp để Lân giải thích. Tâm trạng Minh lúc bấy giờ rối như tơ vò, ai có thể gỡ nổi?

Minh có niềm tự kiêu của một cô gái đẹp, có nhiều chàng trai theo đuổi. Anh Đến, môt sinh viên y khoa đang học năm thứ sáu, còn một năm nữa là anh ra trường. Anh yêu Minh vì sự hồn nhiên tươi tắn. Anh nói với Tuyết:

– Nhìn Minh cười là Đến muốn hôn ngay nụ cười tươi tắn đó. Ước gì Đến được cùng Minh làm bạn đời bên nhau. Còn một năm nữa là Đến ra trường. Nếu Minh bằng lòng là Đến đi hỏi cưới ngay.

Tuyết đập vào vai Đến:

– Thôi ông ơi ! Ông đừng tưởng ông là bác sĩ là Minh đồng ý đâu nghe. Minh là người Tàu nên má Minh không cho lấy người Việt. Lân là người yêu của Minh, yêu nhau da diết mấy năm trời mà họ vẫn phải chia tay đó.

Minh rất tự ái là Lân đã vội bỏ Minh để đến với cô gái khác. Hai người vẩn còn yêu nhau nồng thắm. Thế mà, Lân ơi ! Lân có biết Lân đã làm khổ Minh như thế nào không? Nổi đau mất Lân âm ỉ nhưng Minh cảm thấy hả dạ vì đã bỏ đi lấy chồng một cách nhanh chóng, vùi chôn hình ảnh Lân tận đáy lòng, Minh đã vui với hạnh phúc gia đình mà không một lần nhớ về người tình xưa. Minh đã có ba người con và sống hạnh phúc bên người chồng mẫu mực, luôn luôn yêu quí vợ con hết lòng.

Điều kỳ lạ là bây giờ, trở về Việt Nam lần này, gặp lại bạn bè cũ, gặp lại những người đã chứng kiến mối tình của hai người, Minh cảm thấy tình yêu dành cho Lân ngày trước sống dậy mạnh mẽ. Những ngày về Tam kỳ chơi, một người bạn thân của Lân đã đưa cho Minh mấy bài thơ, giấy đã úa vàng:

TÌNH TUYỆT VỌNG.

Anh yêu Minh như chưa bao giờ yêu thế
Đã nhiều đêm anh khóc ngàn giọt lệ
Minh ở đâu rồi? Minh của ai?
Anh sống như người không có ngày mai !

ĐỒI TÌNH YÊU

Kỳ Phú sông xanh đồi cỏ xanh
Em nhìn anh đôi mắt long lanh
Tình anh gởi trọn trong đôi mắt
Mắt em chìm trong đôi mắt anh
Gió chiều thổi nhẹ hôn đôi má
Anh vội dành với gió hôn em
Nũng nịu em hờn …sao hôn má?
Môi anh cuống quit tìm môi em
Rồi cứ gặp nhau mải miết hôn
Anh quên trời đất đã vào chiều
Em quên về trễ …me la mắng
Hai đứa ôm nhau suốt buổi chiều.

EM ĐI LẤY CHỒNG

Pháo nổ nhà ai vang khắp sân
Anh đi quanh quẩn, đứng tần ngần
Anh vào quán uống cà phê đắng
Giọt đắng như là giọt thủy ngân ?!

Anh muốn lìa đời…khi mất em !
Còn đâu những ngày tháng êm đềm ?
Anh đi thơ thẩn như một kẻ
Thất tình, chân thất thểu trong đêm

Em ở đâu rồi ? Em của anh.
Còn đâu những ngày tháng trong lành ?
Còn đâu một mối tình say đắm ?
Mối tình đẹp nhất tuổi xuân xanh

Đã hết rồi ! Em đi lấy chồng !
Anh trở thành một kẻ lông bông
Nhà ai sáng quá ? Ai hạnh phúc ?
Anh như chàng tìm lá diêu bông !

Lá diêu bông tìm suốt cuộc đời
Anh chỉ còn khoảng trống chơi vơi !
Anh biển Nam tìm chim biển Bắc
Như người lạc lõng gữa ngàn khơi…

Đọc những bài thơ của Lân, Minh càng đau khổ, nhớ tiếc. Minh tự trách mình tại sao không cho Lân gặp một lần cuối trước khi Minh đi lấy chồng. Minh nhớ lại lần đi chơi trước khi nghe tin Lân có người khác, Lân hay ngồi trầm tư, có trạng thái tâm hồn rất lạ, không vui vẻ nồng nàn mà có cái nhìn thật xa vắng. Lân hôn Minh khắp cả người, từ bàn chân cho đến đầu ngọn tóc. Lân hôn một cách trân trọng chứ không say mê, cháy bỏng như những lần trước. Lân còn rủ Minh tắm sông. Xa xa, đi khỏi ngọn đồi, có một khoảng sông vắng, Lân cởi áo sơ mi của mình đưa cho Minh mặc làm áo tắm. Minh chỉ mặc một chiếc quần đùi. Lân bơi giỏi, dìu Minh nhẹ nhàng trên làn sóng nước trong veo. Hai đứa đùa vui, cười khanh khách làm vang động cả khúc sông vắng lặng. Nơi đây, cỏ cây xanh mướt như chốn thiên thai. Trên bầu trời, mây trắng như những cuộn bông nõn nà nổi bật trên bầu trời xanh biếc. Lân xuất khẩu thành thơ :

Trời xanh lẫn với sông xanh
Nàng tiên tuyệt mỹ của anh xuống trần
Ôm em không biết bao lần
Lòng anh vời vợi trong ngần tình em.

Lân và Minh không muốn rời nhau. Họ tắm mãi suốt cả buổi chiều. Thân hình tuyệt mỹ của Minh lồ lộ qua chiếc áo trắng ướt dán sát vào người, để lộ đôi gò bồng đảo tuyệt đẹp như một kỳ công của tạo hóa. Lân nẩy sinh ý muốn vẽ Minh. Khi ánh nắng vàng sắp tắt trên các ngọn cây, hai người mới ra về.

Lần đi chơi cuối cùng là lần Lân đem theo giấy bút để vẽ Minh. Lân đưa Minh đến khúc sông vắng hai đứa đã tắm. Lân trải tấm giấy croqui, dìu Minh nằm trên thảm cỏ xanh. Lân cởi nút áo để lộ bộ ngực tuyệt đẹp của Minh và dùng màu nước vẽ bán khỏa thân. Minh nằm nghiêng, chống tay trên bãi cỏ, khoát chiếc áo trễ tràng thật gợi cảm, gợi tình. Cảnh vật xung quanh tràn ngập một màu xanh của cỏ cây, mây trời. Minh không cười mà ngậm hờ hững trên đôi môi đa tình một cọng cỏ xanh lá bóng mượt có hoa trắng. Mấy tiếng đồng hồ trôi qua, bức tranh thiếu nữ nằm trên thảm cỏ màu xanh tràn trề sức sống đã hoàn thành. Lân không tặng Minh bức tranh mà nói:

– Anh xin giữ lại bức tranh như luôn giữ em bên mình.

Minh đồng ý vì bức tranh không hoàn toàn giống Minh, không sợ ai biết Minh đã nằm làm mẫu cho Lân vẽ. Cô gái trong bức tranh có mái tóc dài tung bay trong gió, đẹp lãng mạn còn Minh có mái tóc cắt ngắn, đẹp nhí nhảnh. Lân vừa thông minh vừa tế nhị, chỉ cần đổi một chi tiết là làm cho Minh yên tâm, không sợ ai dèm pha nói xấu. Minh đẹp nên cũng có nhiều cô gái ghen tị với Minh.

Minh không ngờ lần đi chơi đó là lần cuối cùng hai người ở bên nhau. Ngọn đồi Kỳ Phú trở thành chốn thiên đường trong hoài niệm của Minh. Khi về thăm lại nơi chốn đã ghi biết bao kỷ niệm của mối tình đầu, Minh đã ngồi khóc suốt cả buổi chiều. Hình ảnh của quá khứ sống lại trong Minh như một cuốn phim sống động.

oOo

Tuyết đã vào Sài gòn sinh sống và trở về Tam Kỳ vào mỗi dịp nghỉ hè, lần này Tuyết đi một mình. Tuyết ở nhà cô bạn dạy cùng trường cách đây mười mấy năm. Xuân Thu, cô bạn gái nhỏ tuổi hơn Tuyết, có tâm hồn đẹp như thơ. Cô dạy Toán nhưng yêu nghệ thuật, thơ văn và nhạc. Ngôi nhà cô ở An Thổ, một vùng cây xanh đầy cây trái. Khi còn dạy chung trường với cô, Tuyết thường rủ cô đến những ngôi nhà có trồng vú sữa. Hai đứa ngồi dưới gốc cây, tha hồ ăn những trái vú sũa căng mọng, ngọt lịm. Chủ nhà chọn hái những trái chín mùi, ăn ngọt hơn những trái vừa chín tới. Xuân Thu đưa Tuyết đi ăn cháo lòng. Ở An Thổ, ngoài vú sữa ngon ngọt còn có cháo lòng nổi tiếng thơm ngon. Tuyết trở về ngôi nhà của Xuân Thu như người xưa về lại làng cũ. Chung quanh nhà xuân Thu phủ một màu tím ngát của hoa leo. Loại hoa gì Tuyết không biết tên nhưng nở hoa quanh năm. Xuân Thu rất thích thú với loại hoa này. Thu nói:

– Chị xem này, buổi sáng sớm hoa có màu tím ngát, trưa sẽ có màu tím hồng và tối màu tím sẩm.

Tuyết rất thích dáng đóa hoa tròn như một nụ hôn. Các đóa hoa xúm xít tạo nên một màu tím ửng nhụy hồng tuyệt đẹp. Nằm ở căn phòng nhà Xuân Thu, có cửa sổ nhìn ra một khu vườn bát ngát cây xanh, xa xa là những vồng sắn xanh và các cây dừa tỏa những chiếc lá xanh in hình lên bầu trời xanh.

Xuân Thu có tâm hồn phong phú, sâu sắc, tinh tế và làm kinh tế rất giỏi. Nga, chồng của Xuân Thu rất hiền hậu. Tùng là con trai trưởng của xuân Thu rất giống cha, tính tình đôn hậu. Thu có một nỗi đau rất lớn là con trai út đã ra đi vĩnh viễn một cách bất ngờ, nằm chết như mơ. Cậu con trai đi chơi cùng các bạn, khi đi ven theo bờ sông, cậu đã sẩy chân chết đuối. Dòng nước đã cuốn đi cậu bé thông minh, ngoan hiền, học giỏi của Xuân Thu. Nỗi đau mất mát lớn quá, bây giờ nhắc lại xuân Thu vẫn còn ứa nước mắt.

Những ngày Tuyết sống ở Tam Kỳ trôi qua rất nhanh. Xuân Thu chở Tuyết đi dạo quanh thành phố Tam Kỳ. Tuyết đi trên những con đường kỉ niệm, lòng man mác buồn. Tuyết nhìn từng ngôi nhà quen biết như muốn sống lại một thời xa xưa đã qua đầy ắp kỉ niệm yêu thương. Tuyết trở về thăm lại ngôi nhà cũ, sát bên nhà chị Mười Hường. Con trai của chị tên là Thanh Bình, học trò cũ của Tuyết. Thanh Bình cùng gia đình mời Tuyết trưa hôm sau đến dùng cơm trưa. Các con của chị có Vân lấy chồng, nhà ở bên kia đường, thấy Tuyết về chạy qua mừng rỡ. Hồng Cẩm, cô bạn dạy cùng trường với Tuyết, hát hay và rất vui tính, là chị dâu của Vân cũng chạy qua tíu tít hỏi han. Sát bên trái là nhà của Chương, tiếp đến là nhà của Kim Hoàng, bạn rất thân của Tuyết. Kim Hoàng sang Mỹ đã lâu, mỗi lần về đều tìm gặp Tuyết. Hai người cùng sinh hoạt Hướng đạo nên rất thân thiết. Kim Hoàng đẹp thanh khiết như đóa hoa ngọc lan. Vừa đẹp vừa thông minh :”công dung ngôn hạnh” nên Tuyết làm mai cho anh trai mình nhưng hai người không có duyên nên chẳng thành chồng vợ. Tuyết ngưỡng mộ Kim Hoàng về sắc đẹp cũng như về tấm lòng bao dung nhân ái. Tuyết ghé vào trong hẻm thăm vợ chồng anh Xoa chị Nghĩa và Hòa. Chiều hôm đó Hòa mời Tuyết và Xuân Thu ăn nem nướng. Ở Sài gòn không có món nem nướng ngon như ở Tam Kỳ. Tuyết cầm cây nem nướng chín vàng, cuốn với ram chiên dòn và dưa leo, xoài xanh, khế cùng với xà lách, rau thơm, chấm với tương mè trộn đậu phụng. Cuốn nem thơm ngọt ngào, đậm đà làm Tuyết ăn liên tiếp ba buổi chiều nhưng vẫn không ngán. Tuyết ghé vào thăm Kim Hoàn vợ thầy Tứ, qua thăm bác gái Thanh Châu mẹ của Thanh Khương là bạn thân của Tuyết. Cách mấy ngôi nhà bác Thanh Châu là tiệm sửa đồng hồ của anh Bá Lộc.

Anh vui mừng:

– Trời ơi ! Lâu quá !

Anh kéo ghế mời Tuyết và Xuân Thu ngồi. Anh hỏi thăm những người thân quen:

– Vợ chồng Khiêm Hoa sang Mỹ lâu rồi mà tau chẳng gặp. Khi nào gặp nó nói tau gởi lời thăm nhé.

– Hoa nói lần sau về sẽ ghé thăm anh. Hồi còn đi học, tụi em học bài khuya đói bụng, anh thường mua cho mấy cái bánh bao của ông Đồng Lạc. Ngon tuyệt !

Khi đi ngang qua tiệm trà Mai Hạc, tôi nhìn vào cánh cửa vắng lặng. Cảnh cũ còn đây nhưng người xưa ở đâu rồi?

Cảnh cũ còn đây người xưa đâu?
Những ngày vui cũ đã qua lâu
Tôi bơ vơ trước hiên nhà cũ
Hoài niệm người xưa ngun ngút sầu…

Người xưa mà tôi nhớ nhung chính là anh Trương Phước Hòa, người tình đầu tiên của tôi, bạn thân của anh Hiệp. Tôi chơi thân với Xuân Thu – cũng tên Xuân Thu – là con gái cưng của ông bà chủ tiệm trà Mai Hạc. Anh Hiệp, anh Thân là anh trai của Xuân Thu đều xem tôi như em gái. Phú, em trai Xuân Thu vừa đẹp trai vừa vui tính, hay đùa nghịch với tôi như một người bạn. Đi ngang qua ngôi nhà, lòng tôi đâng lên một nỗi buồn sâu lắng. Ngôi nhà này chứa đựng nhiều kỷ niệm của tuổi thanh xuân.Tôi bảo Xuân Thu ngừng xe, tôi bước vào chào bác Mai Hạc gái. Bác trai Mai Hạc đã qua đời lâu lắm rồi, đám tang rất lớn làm xao động cả một góc phố. Hoa là học trò cũ của tôi làm vợ Minh, dâu của bác Mai Hạc. Câu chuyện mừng vui ngày gặp lại trôi qua, tôi chào tạm biệt và bác gái Mai Hạc, Hoa gởi tặng tôi mấy gói trà đặc biệt.

Xuân Thu cùng Tuyết ngang qua tiệm sửa đồng hồ của bác Trần Cần. Tuyết ghé vào thăm chị Quí nhưng chị đã ra ở hẳn Đà Nẵng. Ngã tư đường Trần Cao Vân và đường Phan Chu Trinh là tiệm sách Nam Ngãi, nơi tôi luôn dành tiền ăn sáng để mua sách. Tiếp đến là nhà thuốc Ngọc Lan có hai cô con gái dễ thương là Ngọc và Lan. Đi đến cống nước là nhà thuốc tây Huỳnh Châu, có hai cô con gái đẹp là chị Bích Ngọc và Cẩm Thạch. Nhà thơ Tinh Huyền đã làm thơ cho Cẩm Thạch:

Phố Tam Kỳ in dấu bước chân em
Anh gọi tên em bằng Cẩm Thạch

Tuyết ghé vào thăm bác sĩ Thọ bên cạnh chợ chiều. Đây là ngôi nhà của gia đình bác Kỉnh, vợ chồng Khiêm Hoa sinh sống trước khi vào Sài gòn và định cư sang Mỹ. Gia đình bác Kỉnh đã tặng ngôi nhà này cho bác sĩ Thọ. Ngôi nhà bây giờ đã thành tiệm trà Kim Loan. Tuyết đứng lặng sau sân nhà, nơi trồng mấy cây ổi, cây mận. Các cây này chẳng bao giờ có trái vì cả nhà lo buôn bán, đâu có thời giờ chăm sóc cây. Hoa, em họ của Tuyết về làm dâu nhà bác Kỉnh. Tuyết xuống Hoa chơi thường thích ra phía sân sau vì có gió mát và được gần gũi với thiên nhiên. Tuyết và Hoa sống gắn bó với nhau cả thời thơ ấu. Thời ở Cẩm Khê,Tuyết và Thảo, Hoa cùng anh Nghị vào rừng rang để tránh máy bay. Mỗi buổi sáng, nhóm bạn trẻ đi hái hoa khoai lang, đem về ngồi ngoài rừng, trên triền đất cao, phồng má thổi hoa và lấy tay đánh cho hoa kêu cái bụp. Đó là trò chơi mà bọn trẻ lấy làm thích thú nhất. Sau đó nhảy dây, hái cỏ đá gà… Một buổi sáng đi hái hoa về, Hoa nói:

– Sáng nay đi hái hoa, tau thấy ai như má tau đi ngang qua vồng khoai, má nhìn tau rồi đi mất.

Thảo quay qua, nạt:

– Thấy má sao không gọi. Lần sau thấy má là phải chạy theo níu lại nghe chưa.

Hoa vừa mất mẹ nên nhìn ai cũng tưởng là má. Anh em Thảo, Hoa mồ côi mẹ nên bà con ai cũng thương và cưng tụi nó hơn Tuyết nhưng Tuyết không hề ganh tị mà dành trọn tình thương tuổi thơ cho anh em nó. Thời học sinh, nó học trường Trần Cao Vân còn Tuyết từ Huế chuyển về nên học ở trường Đức Trí..Tuyết và Hoa ở chung nhà nên chơi với nhau rất thân, hợp tính nhau như đôi bạn tri kỷ. Thời gian trôi qua với nhiều biến cố, ba của Hoa là cậu Tám Thông làm thầy thuốc Bắc, là cậu ruột của Tuyết. Bạn bè của Thảo, Hoa thường hát câu:

89, Phan Chu Trinh, Tam Kỳ
Gần chợ mới có cái nhà Văn Thông
Bước đến đó hỏi con Hoa thầy Tám
Học lớp đệ tứ trường Trần Cao Vân

Cậu rất yêu quí mẹ Tuyết, hai chị em chung tiền làm nhà. Cậu làm tiệm thuốc Bắc trong 1/4 ngôi nhà vì có nhà riêng trên khu Nam. Ngôi nhà vườn trên đó có cây ăn trái như ổi, nhãn, mít, dừa. Cậu treo một chiếc võng từ cây dừa qua cây mít. Mỗi lần lên nhà Hoa chơi là Tuyết nằm trên võng đu đưa. Bên trái ngôi nhà cậu trồng cà chua, rau cải, rau thơm xanh một góc vườn. Giếng nước mát rượi mà Tuyết và Hoa thường ra tắm ban đêm. Cậu hay đãi tiệc, bạn bè rất đông. Ông Nguyên là người chuyên làm các món ăn hấp dẫn trong các bữa tiệc như thịt gà nướng lá nghệ, chả đùm lá chuối, thịt heo nướng sả mè v.v… Tính cậu hào phóng, cậu cưu mang con cháu và hay giúp đỡ người nghèo. Khi nào có món ăn ngon là cậu sai Hoa đem xuống cho mẹ Tuyết. Những lần trời lụt, nước ngập đường cái, lội nước tới ống chân. Tuyết và Hoa lội lên lội xuống giữa hai nhà cả ngày mà không thấy mỏi chân dù Hoa có bệnh nhức chân. Ba của Hoa cũng qua đời sớm nên anh em Thảo, Hoa có một thời kỳ sống thiếu thốn sự chăm sóc của ba má. Hoa lấy chồng sớm nhất trong nhóm bạn. Hoa đi dạy ở trường An Thổ nhưng công việc buôn bán bên nhà chồng phồn thịnh quá nên Hoa nghỉ dạy để ở nhà phụ bán với mẹ chồng.

Tâm hồn của Hoa mơ mộng, vẽ đẹp, làm thơ và thổi sáo hay. Hoa có nhiều tài như hát hay, ngâm thơ hay. Một lần nó ngâm bài thơ về mẹ. Dì Mười ở Sài Gòn về chơi. Nghe nó ngâm xong, dì khen:

– Hoa ngâm thơ hay quá ! Giọng truyền cảm làm dì nghe mà muốn khóc.

Hoa có tài nhưng ít người biết, chỉ có Tuyết sống gần Hoa, xem tranh Hoa vẽ. Tuyết nhớ có lần làm báo cho lớp trong một đợt cắm trại, Tuyết phụ trách tờ báo nhưng các bạn trong lớp không chịu gởi bài mà tờ báo phải có gấp. Hoa giúp Tuyết làm mấy bài thơ và trang trí tờ báo, nhờ Hoa mà tờ báo mới hoàn thành. Khiêm là bạn của Trần Phấn Thảo, anh trai Hoa. Khi yêu Hoa, Khiêm là một chàng trai hào hoa. Các bạn trong trường đặt cho biệt danh”đẹp trai, con nhà giàu, học giỏi”. Ngôi nhà của Hoa trên khu Nam, Khiêm thường lên chơi và ở lại. Những đêm trăng, Khiêm thức rất khuya, đàn hát và thổi sáo rất tài hoa. Hoa yêu Khiêm và tự hào về chàng trai gỏi giang, hào hoa, đánh bóng bàn đoạt giải nhất được bạn bè công kênh như thần tượng. Khi về làm vợ Khiêm, một đêm trăng sáng, Hoa thao thức không ngủ được, nói với Khiêm :

– Anh ơi ! Trăng đẹp quá ! Ra ngắm trăng đi anh.

Khiêm kéo Hoa nằm xuống :

– Thôi đừng có lãng mạn nữa. Ngủ đi em!

Hoa ở nhà buôn bán xe đạp, xe Honda. Những đứa con lần lượt ra đời. Tuyết thỉnh thoảng ghé thăm Hoa. Các bé Diễm, Hiếu, Thủy, Thùy được lùa ra sau nhà, kéo cửa sắt lại. Mỗi khi Tuyết đến chơi, Hoa nghỉ bán, mở cửa sắt sau nhà, các bé chạy ùa vào vui sướng, líu lo nói chuyện với Tuyết và chạy ra ôm bà ngoại. Hoa nói:

– Bị nhốt ở ngoài nên có ai đến chơi là mấy đứa mừng lắm.

Nơi đây ghi dấu một thời hạnh phúc của gia đình bác Kỉnh với vợ chồng Khiêm Hoa, hai em trai là Thông và Tuấn. Nhường là cô con gái độc nhất trong gia đình lấy chồng ở Đà Nẵng.Thông du học ở Ý nên Tuyết ít có dịp gần gũi, chỉ có Tuấn là học sinh trường Bồ Đề, đi học ngang qua nhà Tuyết nên khi về thường ghé nhà Tuyết chơi. Sau 1975, Tuyết nhờ Tuấn vẽ trang trí cho tờ báo tường của lớp, đạt giải nhất. Không ngờ Tuấn lại vẽ đẹp đến thế. Để đền ơn Tuấn, Tuyết giới thiệu cho Tuấn một cô gái trẻ trung, xinh đẹp, cô là hoa khôi, hát rất hay nhưng Tuấn còn đi học, chưa có sự nghiệp nên chẳng hứa hẹn gì.. Ngược lại, cô yêu Tuấn với một mối tình thầm lặng, đến bây giờ vẫn chưa lấy chồng. Vợ chồng Khiêm Hoa đối với Tuyết rất tốt, luôn giúp đỡ gia đình Tuyết những lúc ngặt nghèo. Đặc biệt nhất là Khiêm, một chàng rễ quí. Khiêm chu toàn tất cả mọi việc của gia đình, giúp đỡ những việc quan trọng của bà con bên vợ và trở thành ân nhân của những người thân cũng như vài người bạn nghèo từ Tam Kỳ vào Sài gòn lập nghiệp.

Tuyết bảo Xuân Thu dừng xe ở ngã ba đường xuống cầu Kỳ Phú, ngó vào nhà Minh nhưng không dám vào vì không quen chủ nhà. Cả gia đình Minh sang Mỹ đã lâu, nơi đây chỉ còn:

“Dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo
Lầu cũ lâu đài bóng tịch dương”

(Cung oán ngâm khúc – Nguyễn Gia Thiều)

Tuyết nhìn vào tiệm bán bánh kẹo Lâm Đào Ký là nhà của anh Lâm Châu. Anh là bạn thân của vợ chồng Khiêm Hoa. Anh Lâm Châu có tâm hồn giàu xúc cảm, làm thơ hay. Hai vợ chồng đã vào Sài Gòn lập nghiêp. Ngang qua nhà anh Võ Văn Sơn, thầy giáo dạy Toán rất giỏi. Khi anh còn học trường Trần Cao Vân, cô bạn gái là Hảo của Tuyết thầm yêu anh mấy năm trời. Hảo tâm sự:

– Tối tối anh hay đi bộ ngang qua trước nhà tau với anh Lâm Châu, thỉnh thoảng thấy tau ngồi học bài, hai người ghé lại một lát rồi đi.

Tuyết nói:

– Dáng dấp ảnh nho nhã thư sinh nhưng vẻ mặt ảnh lạnh lùng qúa !

Hảo cười:

– Mi biết tau thích anh nhất cái gì không? Khi anh mặc chiếc áo sơ mi màu xám, xắn vài nếp áo gần khủy tay, tau thấy yêu anh quá !

Tình yêu thuở học sinh thật lãng mạn, trong trắng. Tuyết thích cách yêu dễ thương của Hảo và trở thành bạn thân của nó.

Ngôi nhà Tuyết vào thăm là nhà của Lê Thị Hồng, cô giáo dạy Văn rất hay của trường Trần Cao Vân. Hồng là bạn thân của Tuyết và em gái của anh Lê Văn Tình, bạn của anh trai Tuyết. Anh Tình đã mất tại Đà Nẵng còn Hồng có chồng sang Mỹ. Tuyết gặp lại Tự, Lực em trai của Hồng rồi xin ra nhà sau, nhìn lại khu vườn tỏa bóng sum sê của mấy cây nhãn. Dưới bóng cây nhãn là nơi Tuyết và Hồng ngồi tâm sự. Xuân Thu chở Tuyết đến gần trường Đức Trí ngày xưa Tuyết đã từng học (bây giờ trường đã đổi tên lại là Phan Bội Châu). Ngôi trường một thời Tuyết cùng học với Lâm Tuyết Mai, Khánh Vân, Giản, Ngữ, Hiệp…Bạn Hiệp có tặng cho Tuyết một tấm ảnh mà bây giờ Tuyết cũng còn giữ như giữ những kỉ niệm đẹp xa xôi thời đi học. Có nhiều người bạn mà Tuyết chưa từng gặp lại một lần như Phú, Du …Gần trường có nhà chị Thanh Loan, một người đẹp vừa lộng lẫy vừa duyên dáng. Anh ruột Tuyết là Lê Văn Kiềm đã làm tặng chị một bài thơ với tên của hai người ở đầu mỗi câu thơ:

THANH thanh duyên dáng như bài thơ
LOAN phụng sao em quá hững hờ
VĂN hoa không nói lên tâm huyết
KIÊM huyền son sắt vẫn đợi chờ

Mối tình của anh trai Tuyết và chị Thanh Loan thật đẹp và trong sáng. Họ chưa từng hẹn hò và hôn nhau. Ngày chị đi lấy chồng, anh vào nhà chị dựng rạp, trang trí đám cưới, sắp xếp công việc cho chị về nhà chồng như một người anh trai chu đáo.

Gần nhà chị là nhà bà Hậu nấu cơm tháng cho các học sinh ở trọ học. Ngôi nhà chứa đầy kỉ niệm thời học sinh của anh trai Tuyết. Chính anh Lê Văn Tình đã chạy qua nhà chị Thanh Loan mượn quyển vở của chị cho anh Kiềm chép bài thơ tình như đã viết ở trên. Nơi đây có anh Nguyễn Quang Tuyến ở trọ cùng với anh Kiềm vì nhà anh ở Cây Trâm còn nhà anh Kiềm ở Đại Lộc. Sau này gia đình Tuyết ra Huế rồi vào Tam Kỳ, chọn Tam Kỳ làm quê hương thứ hai vì có cậu Tám là cậu ruột Tuyết. Cậu có hai người con lớn là Thảo và Hoa cùng mấy con nhỏ là Bích Lài, Nhung, Lựu, Hồng,Tiên, Châu là con bà vợ sau vì Thảo, Hoa mất mẹ sớm. Khi mợ Chín đau nặng, biết mình không qua khỏi nên nhắn mẹ Tuyết qua để gởi gắm hai đứa con thơ và qua đời. Mẹ Tuyết thương hai đứa như con ruột. Đây là thời gian tản cư nên mẹ của Tuyết ở Cẩm Khê nhưng qua Khánh Thọ ở lại cả mấy tháng sau khi má của Thảo, Hoa mất. Thời gian này để lại trong Tuyết những ký ức đẹp. Cậu của Tuyết vừa làm thầy thuốc Bắc vừa nuôi dê. Tuyết và Thảo, Hoa sáng nào cũng được uống sửa dê. Cả bọn trẻ đều nghỉ hè nên vui chơi thỏa thích trên cánh rừng có nhiều khoảng đất trống cùng đàn dê xinh đẹp, ngộ nghĩnh.

Anh trai của Tuyết học bốn năm ở trường Trần Cao Vân khi nhà Tuyết còn ở Đại Lộc. Hai năm đầu anh ở nhà cậu Tám,Thảo và Hoa còn nhỏ nên tính tò mò, nghịch ngợm gây cho anh nhiều chuyện buồn cười. Anh viết thư cho bạn, hai đứa nó rình xem, biết có hai đứa đang đứng rình đọc lén thư sau lưng, anh viết cho bạn:” không viết thư được nữa vì có thằng Thảo và con Hoa đang rình đọc thư…”. Hai đứa đọc đến dòng chữ đó mới bỏ chạy. Nhà bà Hậu có người con trai làm nghể sửa xe đạp là anh Luận mà các học sinh ở trọ xem anh như anh ruột, xem bà Hậu như mẹ. Nơi đây thường tụ họp các anh Thưởng, anh Nai, anh Tình, anh Tú v.v…Các anh học trường Trần Cao Vân là trường công lập tuyển chọn những học sinh khá giỏi vào học. Các anh đều học giỏi, năm nào cũng lãnh phần thưởng thật nhiều. Cách đó mấy ngôi nhà là gia đình bác sáu Tứ. Bác trai rất thân với cậu ruột Tuyết, bác gái là bạn thân của mẹ Tuyết. Thỉnh thoảng bác gái lên thăm mẹ của Tuyết, đưa tiền cho Tuyết đi mua trứng lộn, bác bóc trứng cho mẹ Tuyết ăn vì mẹ Tuyết sức khỏe yếu lắm rồi.

Gần đến cầu Tam Kỳ là nhà chị Nguyệt. Ngày còn đi học, Hoa và Tuyết đi chơi thỉnh thoảng ghé nhà chi, lúc nào chị cũng cho ăn bánh tráng chấm mắm nêm. Tuổi học sinh ăn món gì cũng ngon, bánh chấm mắm có tỏi ớt là thấy khoái khẩu rồi. Nhà chị có lò tráng bánh nên lúc nào bạn bè chị cũng được chiêu đãi món ăn dân giã này.

Từ nhà chị Nguyệt đi thẳng tới cầu Tam Kỳ. Bên cạnh cầu là đường vào phường Một. Con đường tình yêu phủ đầy bóng mát của cây sưa. Đứng trên con đường có thể phóng tầm mắt nhìn khắp sông Tam Kỳ. Con sông chạy dài tới Kỳ Hưng, hai bên bờ cây xanh nghiêng bóng. Giữa đoạn sông ở phường Một nổi lên một đảo nhỏ với những hàng dương liễu xanh tươi tạo một vẻ đẹp thơ mộng, huyền bí. Bờ sông Tam Kỳ ngày nay có nhiều thay đổi. Các quán cà phê nghiêng mình bên dòng sông, khách ngồi uống nước tha hồ nhìn ngắm cảnh sông nước thơ mộng, đón làn gió mát từ sông thổi lên.

Xuân Thu chạy xe thẳng vào Kỳ Hưng, hai bên đường là những cánh đồng lúa xanh rờn. Vào mùa lúa chín vàng, trông xa như những tấm thảm vàng rực rỡ. Chiều chiều, dân Tam Kỳ thường chạy xe vào đây hóng mát. Gió thổi lồng lộng hai bên đường mang theo hương lúa thơm ngọt ngào mùi hương của đồng nội. Tuyết luôn ngửi được mùi thơm của lúa khi lúa còn xanh cũng như khi chín vàng. Đứng trước thảm ruộng lúa xanh rờn, mùi thơm của lúa hòa lẫn với mùi nước ruộng man mác hương vị đồng quê. Mùa lúa chín, lúa có vị thơm vừa nồng nàn mùi nắng gió vừa ngọt ngào mùi thơm đặc trưng của đồng nội. Tuyết hít vào lồng ngực không khí mát lành mà cảm thấy thật thú vị và một tình yêu quê hương bất tận dâng lên trong lòng gắn liền với tuổi ấu thơ nơi chốn đồng quê.Tuyết nhớ khi còn ở Đại Lộc, Tuyết đang học lớp bốn, ngồi viết thư cho Hoa đang ở Tam Kỳ. Tuyết tả mùi lúa thơm bay vào nhà, lướt qua tờ thư, Hoa đọc thư Tuyết, sau này gặp Tuyết cứ cười Tuyết mãi:

– Mi xạo quá ! Lúa làm sao có mùi thơm được.

Hoa còn kể cho Lệ Ngọc và Khánh Vân nghe Tuyết viết xạo nhưng Tuyết chỉ cười. Ba đứa bạn rất thương Tuyết nhưng thường cho Tuyết “khùng”. Có một lần nhóm bạn Tuyết bàn kế hoạch sống chung vì ngày nào nhóm bạn cũng tụ tập tại nhà Hoa ở khu Nam. Hoa nói:

– Để cho Lệ Ngọc làm thủ quỹ thì đầu tháng tụi mình đói meo nhưng đến cuối tháng thì mập ú.

Khánh Vân nói tiếp:

– Để cho Tuyết làm thủ quỹ, đầu tháng tụi mình mập ú còn cuối tháng thì đói meo.

Hoa bàn:

– Cho Tuyết mua sách báo thôi, còn Lệ Ngọc thì may quần áo cho tụi mình vì nó siêng may áo quần.

Đi đến chợ Bà Bầu, Tuyết và Xuân Thu ghé vào mua tôm, cua. Chợ nhỏ nhưng cá, tôm, cua rất ngon vì tươi rói và giá rẻ hơn những chợ lớn đông người mua. Đến Cây Trâm, tô mì Quảng có con cua lột ngọt ngào, thơm phức hấp dẫn hơn những tiệm mì khác rất nhiều.

Trên con đường về nhà, nơi cuối cùng Tuyết muốn đến chính là ngọn đồi Kỳ Phú. Ngồi trên triền đồi, thời thanh xuân bừng dậy với những kỷ niệm đẹp dịu dàng. Tuyết đứng trên cầu, nhìn bao quát khắp nơi. Mọi vật quá nhiều thay đổi. Bây giờ, đồi Kỳ Phú có khách sạn Bạch Vân đẹp thơ mộng, hữu tình. Ngọn đồi Kỳ Phú chứng kiến nhiều mối tình của các thanh niên nam nữ của thị xã Tam Kỳ. Cách đây hai năm, Minh ở Mỹ về, kể cho Tuyết nghe mối tình đầu của Minh, ngọn đồi Kỳ Phú được Minh nhắc đến như một chứng nhân của tình yêu. Tuyết đang tìm nơi Lân ngồi vẽ Minh bên cạnh bờ sông, Xuân Thu nói:

– Bờ sông vắng người qua lại để Lân vẽ Minh khỏa thân là nơi nào? Khó tìm quá !

Xuân Thu vừa nói xong thì chuông điện thoại reo vang:

– Alô ! Tuyết hả? Minh đây.

Nhìn số phone Tuyết biết là Minh gọi về từ Mỹ. Tuyết nói:

– Tau đang ở Tam Kỳ, ngay tại cầu Kỳ Phú, bất ngờ quá phải không mi?

– Ủa ! Tau cứ tưởng mi ở Sài gòn. Mi về bao giờ thế?

– Tau về chơi được một tuần rồi. Tau về Đại Lộc, mới vào Tam Kỳ được hai ngày nay.

– Có gì vui không mi?

– Buồn nhiều hơn vui vì mình muốn tìm lại cảnh cũ người xưa nhưng cảnh thay đổi còn người xưa vắng bóng.

– Mi có vào nhà cũ của tau không?

– Không ! Vì tau không biết chủ nhà là ai?

– Mi có gặp được nhóm bạn của Lân không?

– Không ! Vì tau không thân với nhóm đó nên mất liên lạc lâu rồi. Trở về quê, tất cả đều thay đổi, buồn quá mi à.

– Tau không muốn về thăm quê là vì sự thay đổi của quê hương. Cứ tưởng về quê sẽ ôn lại những cảnh cũ, tìm lại những kỉ niệm xưa nhưng tất cả đều đổi thay.

Tuyết đồng tình:

– Ừ! Tau mang tâm trạng như Từ Thức lạc về trần. Tất cả chỉ còn là hoài niệm.

Xuân Thu đưa Tuyết về An Thổ. Nơi Xuân Thu ở vẫn còn những cảnh cũ, những con đường rợp bóng cây xanh, con đường làng vắng vẻ, những khu vườn cây ăn trái, những cây dừa tỏa lá trong bầu trời xanh. Xuân Thu cho Tuyết biết là vùng đất này cũng sẽ bị giải tỏa theo kế hoạch xây dựng của thành phố. Tuyết cảm thấy trong lòng dâng lên một nỗi buồn gần như vô tận. Tuyết nhớ đến thời thanh xuân, áo trắng trong và tâm hồn trong trắng, nhớ ngôi trường Đức Trí, phía sau trường có vườn sắn rộng mênh mông, nhớ chùa Hòa An mà Tuyết và Khánh Vân thường rủ nhau trốn các tiết học có thầy giáo dạy khô khan, khó hiểu để vào đây ngắm cây cối xanh tươi, các loài hoa Lan đẹp thanh khiết, ẩn chứa vẻ huyền bí của núi rừng, tỏa hương thơm nhẹ nhàng trong không gian yên tĩnh. Tuyết nhớ lại thời mới biết yêu, lớn lên với tình yêu đầu đời vụng dại, ngây thơ. Chắng có ai hạnh phúc với mối tình đầu. Đồi Kỳ Phú chứng kiến biết bao mối tình rồi cũng tan vỡ. Tuyết quen một cô giáo dạy Văn. Người yêu của cô bỏ đi lấy vợ. Cô đến thăm người tình vào một chiều mưa. Cô nhớ quá nên liều lĩnh đến nhà. Cô ướt sũng nước mưa, người yêu lấy khăn lông lau nước mưa cho cô. Người cô run lên trong hạnh phúc và khổ đau..Lần cuối cùng cô đến thăm khi nghe gia đình người yêu của cô sắp chuyển vào Sài gòn. Chiều mưa giăng khắp lối. Cô nhìn cánh cổng đóng im ỉm, quay về và đọc thầm hai câu thơ:

Cửa đóng then cài ai hạnh phúc
Đường về lối nhỏ quá thênh thang.

Mối tình của cô tràn đầy kỉ niệm trên đồi Kỳ Phú. Không hiểu sao những mối tình chọn đồi Kỳ Phú để tình tự đều không thành. Mỗi người biền biệt một nơi và chẳng bao giờ họ được gặp lại nhau.

Lòng Tuyết dâng lên một nỗi buồn hoài cổ, nhớ thương những người đã đi xa. Tuyết tự nhủ thầm: ”Tất cả chỉ còn là hoài niệm.”

Hồng Tâm
Nguồn: Tác giả gửi

Đã đóng bình luận.