Cẩm Loan
Thật ra, bảo tôi nhớ cái ngày đó… cái ngày sau 75… bước ngoặt lịch sử trên đất nước Việt Nam, rúng động cả bầu trời Việt Nam, cho đến bây giờ gần bốn mươi năm, tôi không nhớ được là ngày tháng mấy lúc đó xảy ra tại Tuy Hòa, mà người trong nước bây giờ vẫn nói “giải phóng tới Tuy Hòa”. Mỗi lần trên đường phố treo cờ, giăng biểu ngữ, tôi mới biết là cái ngày hôm nay của năm tháng đó… Ngược lại tôi nhớ như in không bao giờ quên, ngày của năm tháng đó “tôi đi tìm xác người”… ôi! thật não nùng!
Trước đó gần một tuần, Tuy Hòa gần như là “thành phố ngủ”, phố xá thường đóng cửa im ĩm trong lúc trên Tây Nguyên tràn xuống, vừa lính vừa đồng bào. Tôi lo âu chỉ sợ hai bên đánh nhau người yêu tôi thế nào? Còn ba tôi thì vui là sẽ gặp lại người thân ruột thịt bao nhiêu năm xa cách và đất nước thống nhất chấm dứt chiến tranh. Ôi! nói tới chiến tranh chết chóc máu đổ, xương rơi… Cả thế giới ai cũng muốn hòa bình thù ghét chiến tranh. Ngay cả người cầm súng lúc đó, họ mơ ước hòa bình và mong mỏi biết bao nhiêu… Cũng có lần tôi và Nguyễn-T-Tâm hai đứa nằm trên giường căn buồng hạ hiên thấp, lúc Tâm đang xem truyện Mai Thảo thì tôi đến. Hai đứa mới chào nhau bỗng tiếng đại bác trên Tháp Nhạn rền vang nhà Tâm gần chân núi Tháp nghe rất rõ. Tâm nói “Hòa bình mình sẽ đi chuyến tàu ra Hà Nội và Hà Nội đi Sài Gòn.” Tôi nói “Hòa bình mình cúng một con gà”. Hai đứa cùng cười, tưởng như tiếng cười còn vang vọng đâu đây…
Cục diện chiến tranh của Việt Nam lúc này leo thang dữ dội và cũng đến lúc kết thúc cuộc “nội chiến” hai mươi năm, mà lời nhạc thống thiết của Trịnh Công Sơn “Hai mươi năm nội chiến từng ngày… Gia tài của mẹ để lại cho con… Gia tài của mẹ là nước Việt buồn…” Trịnh Công Sơn ơi! nước Việt Nam ta lúc đó còn buồn hơn lời nhạc của anh…
Trước đó ba ngày khi mà Tuy Hòa thất thủ, anh là thiếu úy đi cùng một trung úy và một chuẩn úy cùng binh chủng pháo binh. Anh nói với tôi “Em à, đã thất thủ hết rồi súng lớn (đại bác 150 ly) kéo về núi Nhạn tụi anh ở trên đó. Họ đã tới gần rồi em à, tán loạn cả không còn biết lịnh lạc gì nữa.” Nhìn sắc mặt thất thần của ba người lính trước mặt tôi, tôi bây giờ cũng như họ đầu óc rối bời, tôi lo lắng và cũng trấn an các anh “Thôi hãy bình tĩnh anh à, bây giờ hãy mặc đồ đen vải bỏ đồ quân phục, mặc đồ lính họ bắn chết đấy, bỏ giầy mang xăng-đan nhựa.” Nói rồi, ba người hối hả chia tay tôi lúc đó…
Hồi đó trong nhà ai cũng sợ ba, cho nên anh nhờ người đến xin được kết hôn nhưng ba tôi không chịu vì quê anh tận Phan Thiết. Ba tôi nhất quyết không chịu gả con xa như thế, nhưng anh vẫn đến nhà chơi, dù ba tôi không đồng ý cho tôi kết hôn.
Lúc này tôi cứ nghĩ về anh mà hết sợ ba. Lúc đó có nguồn tin là “chia hai đất nước nhưng cắt từ Đèo Cả trở ra”. Trong lòng tôi lúc đó là nhất quyết đi theo “tiếng gọi của tình yêu” còn ngoài ra chế độ nào cũng mặc kệ tôi không cần biết điều đó. Tôi nói với má tôi “Con sẽ theo ảnh. Con dắt theo một em trai lớn. Con sẽ nuôi dạy em bảo vệ em ba má đừng lo.” Tôi cũng nói với em trai “Em đi với chị, chị sẽ lo cho em.” Nó cũng đồng ý. Ngày hôm sau tôi thu xếp áo quần hai chị em và tiền bạc chút ít trên đường vào Nha Trang. Ngoài phố kẻ chạy đông người chạy tây hỗn độn, nhà thì cửa đóng kín, tiếng súng tiếng xe ầm ĩ ngày đêm, hỏa châu ngộp trời, náo loạn cả thành phố, chẳng ai để ý tới ai vì là “nước loạn”.
Mới sáu giờ sáng ngày đó tôi mang xách trên vai dắt em đi, vừa lo, vừa khóc. Tới bến xe chẳng thấy xe chở khách gì cả. Mặt trời đã lóe nắng nhưng sương lạnh. Tôi thấy lạnh, một lúc sau toát mồ hôi vì không còn xe chuyên chở gì nữa. Lù lù xe tăng cắm cờ nửa xanh nửa đỏ chạy nghênh ngang trên đường phố Trần Hưng Đạo. Những người bộ đội miền Bắc cầm súng đi từng hàng nối đuôi nhưng cách khoảng nhau. Họ đi rất bình tĩnh không nghe một tiếng súng nào bắn trả “êm ru”. Tôi sợ muốn điên, vội vã dắt em chạy về nhà. Tan nát cõi lòng tôi nghĩ “thôi hết rồi không còn trông mong gì nữa, không biết anh ấy chết, sống ra sao?”
Tình cảnh này tôi chẳng còn sợ ai nữa cả. Sáng hôm sau, tôi đội cái nón lá đi tìm anh ấy. Tôi nghĩ “nếu chết thì tôi chôn cất đàng hoàng rồi sẽ tìm gia đình anh ấy báo sau”. Mầng là tá viên điều dưỡng làm việc ở BVPY. Lúc loạn lạc đó, Mầng chạy lên tá túc ở nhà tôi. Mầng cũng khóc vì người yêu Mầng là chuẩn úy Tri binh chủng pháo binh quê ở Đà Lạt… Hai đứa tôi cùng một hoàn cảnh tâm sự với nhau mà thôi.
Tôi bắt đầu đi dọc theo hai bờ sông Chùa và sông Đà Rằng. Trời ơi… người chết lềnh bềnh nằm hai bên bờ sông… dưới nước trên bờ, con nít, người lớn, trai, gái đàn ông, đàn bà… Cả đời này! tôi mới thấy như lần ấy. Bình thường tôi rất sợ xác chết mà giờ đây tôi như người điên hết biết sợ là gì. Tôi lật từng xác chết đàn ông, nhìn mặt và cứ nhớ bộ đồ đen, lúc anh mặc lần gặp sau cùng… Hai khúc sông đó không có người nào mặc đồ đen cả và cũng không có anh… Chiều xẩm, tôi vừa mệt vừa đói… tôi đi lê lết về nhà. Tôi vào cũng không ai dám nói hỏi gì tôi cả. Ngày hôm sau, tôi mang theo gói xôi đi dọc theo bờ sông Chùa lần nữa vì tôi nghĩ “nếu anh ở trên núi Nhạn thì có chết cũng xung quanh đây”. Tôi cũng cứ dạo lại khúc sông đó mà tìm thì có một bà già hỏi tôi “Con tìm gì mà bác thấy con lẫn quẩn hôm qua đến giờ?” Tôi buồn nói “Con đi tìm người quen là lính đóng trên Tháp Nhạn đây không biết ảnh đi đâu, sợ ảnh chết con tìm.” Bà già nói “Con đi qua biển Đông Tác thử có không, nghe nói chết ngổn ngang bên đó”
Tôi tiếp tục đi bộ theo đường quốc lộ đi xuống về phía biển Đông Tác. Tôi vừa mới tới cầu Đà Rằng là thấy một đoàn người nối đuôi nhau sắp thành hai hàng song song đi bộ từ bên đó về thị xã Tuy Hòa. Trong đó có nhiều người quen nhưng đặc biệt có một bạn lớp tôi, rất thân nhau. Tôi xốn xang nhìn theo, bạn cũng không nhìn tôi, sau cùng là hai anh bộ đội mang súng trên vai. Tôi hỏi thăm mới biết là số người đó là công chức ra trình diện, bây giờ đưa về địa phương để quản lý. Tôi tới biển Đông Tác đã giữa trưa nhưng trời hôm đó mưa bay bay, biển sương mù, ơi! trời cũng buồn, cũng nhỏ lệ mây giăng. Tôi men theo bờ cát đến gần cửa biển Đông Tác. Ôi! một thảm cảnh điêu tàn xác chết ngổn ngang, xác ương sình mặt sưng to máu trong mắt, miệng, hai tai trào ra. Nhưng tôi vẫn đến nhìn, mặt không nhìn được nhưng áo quần hay tấm thẻ bài anh mang trong cổ. Cũng có chỗ mồ mới chôn họ lấy cây treo thẻ kiểm tra hay thẻ bài hoặc giấy tờ gì có trong người của người chết để người đi tìm dễ nhận hơn. Trên bờ người cũng đông đứng xem thuyền ghe vớt xác trôi nổi lềnh bềnh dưới biển. Người ta vớt lúc này là để tìm tiền bạc tư trang mà người chết mang theo, rồi xác họ mang để nằm trên bờ. Xác nào không có ai nhìn nhận thì họ chôn vùi trên cát và để giấy tờ bút tích gì của người chết trên mộ.
Tôi thấy xác thì cong tay xác thì cong chân. Ôi! “tay giăng tay dõ, tay ngay lên trời” đủ kiểu thật khủng khiếp… Chết nhiều quá, nỗi kinh hoàng làm cho lệ không rơi, không còn biết thương khóc người nào… Lúc đó ai cũng mở đôi mắt tròn xoe ra nhìn, có người thì tặc lưỡi ….
Tôi thẫn thờ đi lại một phía lạch nước nhỏ. Từ phía cửa sông chảy vào bờ cát, xác một cô gái đang nằm, xác chưa bị ương sình khuôn mặt bầu bĩnh tóc xỏa dài bồng bềnh trên mé nước lấp xấp ngập dưới thân. Cô mặc chiếc áo sơ mi màu xám nhạt, quần đen. Tôi ngồi bên cô, lúc đó nước mắt tôi bỗng trào ra, tôi xúc động vì cuộc đời cô gái còn non trẻ mà kết thúc trong đau thương…
Tôi ngồi trên bãi cát lâm râm khấn “Lạy Trời Phật phò hộ cho anh còn sống, nếu anh chết thì cho em tìm thấy để em lo cho anh.” Trước mặt tôi một cảnh tượng thê lương như trong lời nhạc của Trịnh Công Sơn “xác người nằm trôi sông, trôi trên ruộng đồng, trên nóc nhà thành phố, trên những đường quanh co…”
Tôi thầm nghĩ “mạng người sao như cỏ rác” thảm thương! Tuổi trẻ chúng tôi lúc đó mơ hòa bình thật là đẹp, như “nối vòng tay lớn” của Trịnh Công Sơn nghĩa là hai bên bỏ súng xuống và “mặt đất bao la anh em ta về gặp nhau mừng như bảo cát quay cuồn trời rộng bàn tay ta nắm nối tròn một vòng Việt Nam”, không có chút mảy may trong đầu chúng tôi nghĩ hòa bình chết chóc như thế này…
Cho nên Tâm cũng không còn mơ sẽ đáp chuyến tàu Hà Nội Sài Gòn và tôi cũng không cúng một con gà….
Tôi lê chân từ biển Đông Tác về nhà trời cũng đã xẩm tối. Phố xá hiu hắt tang thương, trong nhà đèn cũng không muốn sáng đường phố tối tăm. Tôi nghe mùi tử khi xông lên khắp nơi, quần áo tôi ướt rồi đến khô. Trời lúc mưa lúc tạnh, tôi đi cổng sau vào nhà dưới. Trong nhà cây đèn tọa đăng thắp lên, ánh đèn không đủ sáng ra ngoài. Em út tôi vừa thấy bóng tôi nó chạy ra “Anh Bá về rồi ảnh nằm trên giường nhà dưới… á” Tôi hối hả chạy vào, lặng người nhìn anh. Anh nằm không ngồi dậy nổi, đôi mắt như không còn hồn phách, nghẹn ngào. Một lúc sau tôi lại cạnh anh, tôi nuốt xuống lòng cơn xúc động tưởng chừng như muốn tắt nghẹn… hơi thở trong cổ. Cố gắng tôi nói “Em đi tìm anh hai ngày rồi…” Anh cứ nhìn tôi và không một lời thốt ra. Tôi nói “anh nghỉ khỏe rồi ăn cơm, em đi tắm thay đồ…”
Ngày hôm sau anh có vẻ tỉnh táo hơn anh nói với tôi “Đêm đó mạnh ai nấy chạy, anh chạy vào tới chân Đèo Cả. Trên đường ăn mía với sắn nước. Anh nghĩ em còn ở lại anh không đi nữa và quay trở lại nhà em. Về đến đây anh mệt lã rồi, bác gái bảo nằm nghỉ, nói là em đi tìm anh hai ngày nay giờ chưa thấy về.” Tôi nói “Em cứ nghĩ là anh mặc bộ đồ đen em tìm, sao đồ ở đâu mà anh mặc vậy.” Anh cười “Anh quăng bộ đồ đen vì sợ họ hiểu lầm là Xây Dựng Nông Thôn họ bắn chết. Anh lượm bộ đồ trên đường mặc đại vào, rộng thùng thình.” Ở nhà tôi hai ngày mà tôi không dám nói chuyện nhiều với anh. Anh chơi với mấy đứa em trai tôi, vì ba tôi rất khó khăn. Tôi cũng sợ ít tiếp xúc với anh. Sau đó, anh và em trai tôi về dưới nhà trọ của anh, đồ si-vin của anh cũng nhiều nên anh ăn mặc cũng tươm tất. Một tuần sau thông báo đi học tập. Cứ ngỡ là học hành gì gần đây, ai ngờ đưa lên tận trong núi xa xôi hiểm trở. Mỗi lần có người đi thăm nuôi là tôi gởi theo thuốc uống dầu xoa và lương khô. Khi đó ba tôi tỏ thái độ cấm đoán không cho tôi liên lạc thăm hỏi đến anh. Có lần tôi lén theo người ta thuê xe thồ đi thăm. Tôi leo núi lở cả tay, chân rách cả áo quần. Anh thấy tôi anh mừng nói “Tưởng em không bao giờ lên đây.” Còn tôi không nói được lời nào vì tôi biết chúng tôi sẽ xa nhau, không dám nói sợ anh buồn chết trên trại học tập. Hôm Mầng đi thăm Tri, Tri đã chết trong trại. Hai đứa chúng tôi ôm nhau khóc. Tôi cũng sợ anh chết cứ nơm nớp lo âu. Rất nhiều người bỏ mạng trên trại học tập. Khi mẹ anh ra Tuy Hòa thăm anh, tôi có theo bà đi thăm hai lần nữa nhưng lúc đó anh đã bị đưa xuống trại học tập Ngân Điền. Ở đây cũng đỡ hơn là chỗ trước kia mãi tận trên núi La Hai. Có một lần tôi đi thăm nuôi ở trại Ngân Điền tôi có gặp Phạm Vi Kích, em của anh Phạm Công (nhà thơ Phạm Cao Hoàng). Hai chị em nói chuyện thật buồn. Kích không dám nói chuyện lâu sợ bị cán bộ quản giáo khiển trách vì Kích đang đi lao động.
Khi cơ quan NH đưa tôi vào học thêm hai tháng về nghiệp vụ NH tỉnh ở Nha Trang thì anh được tha về là cuối năm 76. Anh vào Nha Trang tìm tôi nhưng tôi trên đường về nhà ở Tuy Hòa và anh trên đường vào Nha Trang. Hai chuyến xe ngược chiều mang chúng tôi trên đó, không gặp được nhau kể từ khi đó… cho đến bây giờ… Cứ mỗi lần nghe đài, ti vi đường sá giăng đầy biểu ngữ cờ xí rợp trời là lòng tôi bùi ngùi nhớ lại “cái ngày đong đầy nước mắt” nhưng ngoài kia có người nói “mừng tháng tư.” Cười hay khóc! … Nhưng những gì đã xảy ra thì lịch sử không bao giờ thay đổi.
Trịnh Công Sơn ơi! anh nằm xuống trong tháng tư cũng là năm tháng dấu ấn của lịch sử Việt Nam và trong đời tôi… Lời ca của anh vang vọng mãi trong tôi của tháng tư hàng năm… “Mẹ mong con mau bước về nhà… Mẹ mong con lũ con cùng cha… Ôi lũ con cùng cha… quên hận thù…” Lời anh ca ấy, chỉ là mơ thôi… Lũ con cùng cha chưa có đường về… Như những dòng sông còn “tranh bờ chảy”. Mẹ Việt Nam vẫn khóc mãi với đàn con…./.
Cẩm Loan
TH KN (một ngày tháng tư 2012)
Nguồn: Tác giả gửi



















