Phê bình văn học thế kỷ XX – Chương 10: Khuynh hướng phê bình bác ngữ học Đức

Posted: 18/09/2012 in Biên Khảo / Phê Bình, Thụy Khuê

Thụy Khuê

Đã đăng: [Phản xạ phê bình], Chương [1], [2], [3], [4], [5], [6], [7], [8], [9], [10]


Vase with oleanders and books – Vincent van Gogh

Ngay từ năm 1915, khuynh hướng phê bình bác ngữ học Đức đã quy tụ một số nhà nghiên cứu tên tuổi có kiến thức bách khoa, hoạt động trong lòng các đại học như: Frédéric Gundolf (1881-1931), Ernst-Robert Curtius (1886-1956), Erich Auerbach (1892-1957), Léo Spitzer (1887-1960). Đây là một trong những khuynh hướng nền tảng đầu tiên của nền phê bình hiện tại cùng với trường phái hình thức Nga và Bakhtine.

Phát triển cùng thời với trường phái hình thức Nga, một số nhà bác ngữ học Đức cũng phải sống lưu vong như một số nhà hình thức Nga: Từ 1933, khi chủ nghĩa Đức Quốc Xã phát triển, Spitzer và Auerbach phải trốn ra ngoại quốc, viết những tác phẩm chủ yếu ở nước ngoài. Chống lại chính sách dân tộc cực đoan của Hitler, họ muốn xây dựng một Âu Châu đoàn kết toàn diện trong tương quan liên đới và phổ quát của ngôn ngữ văn chương.

Khi chính quyền Đức Quốc Xã chủ trương xâm chiếm các nước láng giềng, đặc biệt là Pháp, thì các nhà phê bình Đức đem văn học Pháp ra làm đối tượng nghiên cứu ưu tiên. Tinh thần đoàn kết Âu Châu mà họ mở ra từ đấu thế kỷ XX, trước cả hai cuộc thế chiến, sẽ được Âu Châu – sau hai thế chiến – hưởng ứng triệt để. Đại chiến thứ nhì chấm dứt, mọi người dường như đã nhìn ra và chấp nhận nguyên tắc xây dựng một Âu Châu hợp nhất trong tình đoàn kết để phát triển. Có thể nói: tinh thần Âu Châu văn học là một khối “thịnh vượng chung” đã được các nhà phê bình phát triển trước, Âu Châu kinh tế và chính trị đến sau. “Cộng đồng Âu Châu” và đồng Euro hợp nhất ngày nay, là hoa trái của một quan niệm khởi đi từ đầu thế kỷ XX, do các nhà phê bình Đức đề ra để khảo sát văn bản và ngôn ngữ các dân tộc Âu Châu như một toàn thể hợp nhất, sinh ra từ tiếng mẹ La Tinh.

Về mặt phương pháp, điểm khác biệt cơ bản giữa trường phái Nga và trường phái Đức là nếu những nhà hình thức Nga chuyên về khảo sát văn bản và gạt tác giả sang một bên, thì những nhà bác ngữ học Đức đi từ văn bản để tìm hiểu tác giả, tìm hiểu xã hội và thời đại lịch sử mà tác giả đã sống. Có thể nói trường phái Đức, về phương pháp, là sự giao lưu giữa trường phái hình thức và Bakhtine.

oOo

Vào khoảng 1915, một số nhà bác ngữ học – philologue người Đức chủ trương khảo sát văn chương Âu Châu như một khối văn học toàn diện -có nguồn gốc tiếng La-tinh- từ thượng cổ đến ngày nay, không phân chia ranh giới quốc gia. Nhóm này được gọi là Philologie romane – Bác ngữ học những tiếng có nguồn gốc La-tinh.

Vậy trước hết, bác ngữ học là gì? Là khoa nghiên cứu văn bản bao gồm phê bình, tìm hiểu nguồn cội chữ, lịch sử chữ, và mối tương quan của văn bản ấy đối với toàn bộ nền văn minh đang được khảo sát. Philologie romane là khoa nghiên cứu những ngôn ngữ có nguồn gốc La-tinh. Một chủ trương khảo sát toàn diện nền văn học Âu Châu như vậy, giải quyết nhiều vấn đề trong nghiên cứu và rọi những ánh sáng mới cho phê bình.

Những khái niệm như văn học so sánh – littérature comparée, liên văn bản – intertextualité, tuy đã xuất hiện từ trước, và từ intertextualité đã đượcBakhtine sử dụng. Nhưng chính nhờ những khám phá và thực hành cụ thể của trường phái bác ngữ học Đức, đặc biệt phong cách phê bình của Auerbach trong cuốn Mimésis, in năm 1946, mà người đọc thấy rõ lợi thế của việc so sánh và kết hợp các mối liên hệ giữa các văn bản xuất hiện ở các thời điểm khác nhau, nhưng cùng có chung một nguồn gốc văn minh. Cấu trúc học Lévi- Strauss sau này càng chứng tỏ điều đó: điều quan trọng là xây dựng các liên hệ nối kết chủng tộc, con người, ngôn ngữ… Khi tìm ra được các mối liên hệ, là chúng ta đã giải quyết được phần lớn của vấn đề.

Trong số các nhà phê bình lớp sau, Gérard Genette, được coi là chủ soái phương pháp thi học mới ở Pháp: L’intertextualité Liên văn bản, là tác giả cuốn Palimpsestes- Nguyên cảo, in năm1982. Palimpseste nghiã là: “Nguyên cảo viết trên tấm da đã chùi chữ cũ để viết chữ mới”. Genette dùng hình ảnh này để tượng trưng sự kiện: tác phẩm nào cũng được “viết đi viết lại”, tức là người đi sau chỉ viết lại những gì người đi trước đã viết, trong một ngôn ngữ mới, và đó là đối tượng nghiên cứu của ngành liên văn bản.

Palimpseste là tác phẩm chính của ông, Genette tiếp tục phát triển con đường mà trường phái bác ngữ học Đức đã khai phá, thành một phương pháp khảo sát văn bản, được ông gọi là transtextualité – xuyên văn bản, danh từ này dùng để chỉ tất cả những mối liên hệ giữa một văn bản với các văn bản khác. Gérard Genette liệt kê 5 loại liên hệ:

– L’intertextualitéliên văn bản: là sự hiện diện một văn bản trong một văn bản khác.

La paratextualité – cận văn bản: là mối liên hệ giữa văn bản đang khảo sát với những yếu tố phụ thuộc như: tên sách, bài tựa, chú thích, lời đề ở đầu sách, tranh ảnh đi kèm, lời kinh, cầu xuất hiện trong sách và điểm chủ yếu làm cho văn bản tác động đến độc giả.

La métatextualité – siêu văn bản hay văn bản của văn bản: là sự phê bình văn bản bằng một văn bản khác.

L’architextualité – Kiến trúc văn bản: gồm toàn bộ yếu tố xác định chủ đề, hình thái, phương thức, liên quan đến thể loại của văn bản. Kiến trúc văn bản lấy từ khái niệm kiến trúc chủ âm – formes architectoniques của Bakhtine. Theo Genette, kiến trúc văn bản là đối tượng cố hữu của thi pháp học.

L’hypertextualité – Khuếch trương văn bản: chỉ tất cả những liên hệ -trừ trường hợp phê bình đã nói ở trên- nối liền giữa văn bản A, sinh sau, được gọi là hypertexte-hậu bản– với văn bản B xuất hiện trước nó, được gọi là hypotexte-tiền bản: Ví dụ L’Enéide và Ulysse là hai “hậu bản” của cùng một “tiền bản” L’Odyssée. Kiều Nguyễn Du là hậu bản của tiền bản Kiều Thanh Tâm Tài Nhân, vv…

Gérard Genette trong Palimpsestes đã có công đào sâu và mở rộng phạm vi nghiên cứu phê bình sang các vùng đất liên quan trước, sau, gần cận trong, ngoài với một tác phẩm.

Nếu ở Á Châu có một trường phái nghiên cứu văn học các ngôn ngữ có nguồn gốc chữ Hán, gồm các nước Trung Hoa, Nhật Bản, Triều Tiên và Việt Nam, thì chúng ta sẽ tìm thấy bao nhiêu mối tương quan đặc biệt lý thú: Ví dụ người ta sẽ không mất thì giờ đặt những câu hỏi đại loại: tại sao Nguyễn Du lại “viết lại” truyện Kiều của Thanh Tâm Tài Nhân? Tại sao những hình tượng trong thơ cổ điển của chúng ta lại mang khí hậu, phong thổ nước Tàu? Bởi nếu nhìn toàn bộ các nền văn học ở Á Châu có nguồn gốc chữ Hán như một toàn khối, ta sẽ thấy việc Nguyễn Du sử dụng truyện Kiều, hoặc dùng các hình tượng văn học Trung Hoa là điều tất yếu vì cùng một gốc văn hóa, giống hệt như người Âu Châu sử dụng các “tích” trong Thánh Kinh, các “truyện” trong Odyssé và Iliade… Đó là một thực tế văn học cần khảo sát hơn là chê bai, miệt thị như một số “học giả” Tàu đã làm. Mối tương quan văn bản giữa Nguyễn Du và Thanh Tâm Tài Nhân là một đề tài nghiên cứu liên văn bản rất lý thú. Chúng ta không có gì phải “cải chính”, cũng không có gì phải mặc cảm, và cũng chẳng cần phải trả lời những câu hỏi mỉa mai của một số ngòi bút “nghiên cứu” Trung Hoa, vì dốt đã hoạnh họe tại sao Nguyễn Du không “sáng tác” cốt truyện mới mà lại “dịch” một cuốn tiểu thuyết tầm thường của Tàu. Thực ra, Nguyễn Du chỉ lấy lại một cốt truyện có sẵn trong văn chương và lịch sử Trung Hoa để hình thành một kiệt tác thi ca. Cả văn bản Nguyễn Du lẫn văn bản Thanh Tâm Tài Nhân cũng chỉ là “hậu bản” của một “tiền bản” truyện Kiều đã có trong lịch sử Trung Hoa.

Khi nghiên cứu tác phẩm của Murasaki, Kawabata, chúng tôi cũng tìm thấy nhiều hình tượng nghệ thuật giống như trong Trương Chi, Kiều, Chinh Phụ Ngâm, Cung Oán của ta. Và đó cũng là điều tất nhiên, bởi tiếng Việt và tiếng Nhật cùng phát xuất từ nguồn chữ Hán.

Tóm lại, sự khảo sát những yếu tố nhất quán của một toàn cảnh văn học cùng một nguồn gốc văn minh, giúp chúng ta mở rộng tầm nhìn ra thế giới bên ngoài.

Đó là tinh thần chủ yếu của trường phái bác ngữ học Đức.

Frédéric Gundolf (1881-1931)

Ông là một trong những cây bút cột trụ, đã có ảnh hưởng sâu xa không những đến giới phê bình Đức mà còn cả đến những nhà phê bình ý thức của Thụy Sĩ như Marcel Raymond, Georges Poulet. Gundolf đặc biệt chú ý đến tính nhất quán của người sáng tạo xuyên qua các tác phẩm nghệ thuật: nhất quán tinh thần và nhất quán thể xác hiện ra trong tác phẩm vừa như một dòng chảy vừa như một hình thái nghệ thuật. Gundolf cho rằng người nghệ sĩ sống trong một khối cầu khác hẳn người không nghệ sĩ. Những người không phải là nghệ sĩ cứ tưởng là Shakespeare bắt chước thực tại, thực ra “nghệ thuật chẳng bắt chước đời sống mà cũng chẳng phải là trực giác của đời sống; nghệ thuật là một hình thức nguyên khai của đời sống, nó không vay mượn những lệ luật tôn giáo, đạo đức, khoa học nhà nước, hay tất cả những hình thức đầu tiên hay thứ yếu khác.”

Ernst-Robert Curtius (1886-1956)

Thân Pháp và cực lực chống chế độ Đức Quốc Xã, từ 1933 đến 1945, Curtius không in một cuốn sách nào. Hơn nửa công trình nghiên cứu đồ sộ của ông viết về văn chương Pháp, nghiên cứu các tác giả Pháp như: Ferdinand Brunetières, Maurice Barrès, Balzac, Proust, Valéry Larbaud, Charles Du Bos, Aragon, André Gide; phần còn lại dành cho Âu Châu. Curtius chống chủ nghĩa dân tộc cực đoan bằng nhiều cách: Ông nghiên cứu kỹ càng nền văn chương Pháp; tìm hiểu bối cảnh văn hóa Đức trong lòng văn minh Âu Châu; và đề cao nền văn chương viết bằng tiếng La-tinh thời Trung Cổ.

Nền tảng phương pháp nghiên cứu của Curtius được trình bày trong cuốn Văn chương Âu Châu và thời Trung Cổ La-tinh – La littérature européenne et le Moyen Âge latin, in lần đầu năm 1948; 1954 tái bản và 1956 dịch sang tiếng Pháp. Tác phẩm có một chỗ đứng đặc biệt trong sự nghiệp trước tác đồ sộ của Curtius – gồm 18 tác phẩm, 6 dịch phẩm, trong đó có ba cuốn dịch André Gide và hàng trăm bài viết, không kể 6 tập trao đổi thư từ về văn học là những tài liệu bên lề, xác định đường hướng tư tưởng của nhà bác học này.

Văn chương Âu Châu và thời Trung Cổ La-tinh được coi như một kiệt tác, là một công trình gồm hơn 30 bài, viết rải rác từ 1932 đến 1952, trong điều kiện thiếu tư liệu dưới thời Đức Quốc Xã và chiến tranh.

Đối với Curtius, Văn chương Âu Châu phải được coi như một toàn thể nhất quán. Lịch sửvăn học thông thường chỉ cho ta cái nhìn liệt kê bề mặt của nền văn chương này. Muốn tìm hiểu sâu xa sự nhất quán này, phải xuyên sâu và tận dụng cả hai phương pháp: bác ngữ học và văn sử học. Nhưng lối khảo sát văn chương như thế, chưa có ở đại học -thời đó- vì thế phải sáng tạo ra. Cái mà Curtius gọi là lịch sử, không phải là thứ lịch sử Âu Châu mà người ta phân chia từng mảng theo không gian và thời gian. Đối với Curtius, nếu ta coi Âu Châu và văn chương Âu Châu xuất phát từ hai nền văn minh thượng cổ Địa Trung Hải và Tây Phương hiện đại, thì phải chấp nhận rằng: cho tới thời trung cổ, toàn bộ nền văn chương này được viết bằng tiếng La-tinh: và như vậy, về 26 thế kỷ văn chương Âu Châu, từ Homère tới Goethe, người ta chỉ biết độ khoảng 6, 7 thế kỷ; và đã bỏ qua ít nhất khoảng 10 thế kỷ thuộc thời trung cổ La-tinh. Tuy vậy, văn chương quá khứ vẫn hiện diện, mặc thời gian chia cắt, vẫn giao cầu với hiện tại: “Nghìn lẻ một đêm và Calderon[1] với Hofmannsthal[2]; L’Odyssée với Joyce, Eschyle, Petron, Dante, Tristan Corbière; sự huyền bí Tây Ban Nha với T.S. Eliot”. Những cách diễn đạt cũng thế: các thể loại, vần, đoạn, hình thức, chủ đề, phương pháp và nhân vật cũng “sống lại trong nhau” như vậy. Tác phẩm cuối cùng và cũng là tác phẩm hay nhất của Gide là một Thésée[3].

Thế giới xưa không ngừng xâm nhập vào thế giới nay, vậy cần gì phải chia cắt hai thế giới này. Dưới bề mặt chia cách sâu xa là sự tiếp nối liên tục: cho nên khi nghiên cứu, khảo sát văn chương, ta cần và phải di động tự do trong không gian và thời gian. Văn chương La-tinh phải được coi là sự đóng góp quý giá của La Mã vào nền văn minh trung cổ.

Phương pháp dùng để khảo sát toàn bộ nền văn chương này phải là phương pháp vi mô và vĩ mô. Phải “quan sát” trước tiên, nghĩa là “đọc thật nhiều” để tìm thấy những dữ kiện có ý nghĩa. Khi tìm ra một hiện tượng hay một dữ kiện có thể tách rời sang một bên là ta đã bắt đầu “thấy”. Kỹ thuật hiển vi áp dụng vào bác ngữ học sẽ cho phép ta khám phá, trong những văn bản khác nguồn, những yếu tố cấu trúc đồng nhất, có thể coi như là bất biến trong văn chương Âu Châu. Điều đó chứng minh là có một lý thuyết và một lối thực hành phổ quát trong cách thể hiện văn chương Âu Châu.

Curtius chứng minh sự nhất quán sâu xa của nền văn học Âu Châu này nằm trong tiếng La-tinh: tiếng La-tinh đã là ngôn ngữ văn hóa trải dài trong 13 thế kỷ, từ Virgile đến Dante (Tương tự như nền văn hoá Á Châu từ thượng cổ đến đầu thế kỷ XX vẫn dùng chữ Hán). Nền văn chương Âu Châu trong giai đoạn La-tinh, đã vượt trên biên giới quốc gia, và nó đã nhất quán từ sau khi đế quốc La Mã sụp đổ cho đến thế kỷ XVI, XVII, ít nhất trong ba lãnh vực:

1/ Nhất quán về ngôn ngữ: tiếng La-tinh.

2/ Nhất quán về nguồn gốc: văn chương Hy-La.

3/ Nhất quán về cảm hứng.

Curtius trình bày những nét đặc thù trong các khuynh hướng văn chương Âu Châu và làm nổi bật những mối tương quan mật thiết giữa văn học trung cổ và văn học thượng cổ, ông đặc biệt chú ý đến sự biến chuyển tư tưởng thượng cổ trong thời kỳ Thiên Chúa Giáo.

Curtius cho rằng: mục đích tối hậu của một nhà phê bình là phải phục hồi tính nhất quán của một tác phẩm, của một thời kỳ, của một nền văn học, bằng cách sống với nó, bằng cách luôn luôn nghĩ đến nó, và yêu thích nó. Đó là sự đòi hỏi của tâm hồn, vừa mạnh mẽ, vừa u tối, vừa bí mật vừa sâu xa, nó kích lệ ta, làm ta vượt lên trên những hoạt động khác.

Trong tác phẩm “Tiểu luận phê bình văn chương Âu châu – Essais critiques sur la littérature européenne, in ở Berne, nước Đức, năm 1950 và 1955, Curtius đề cập đến ba nhà văn lớn: Virgile, Goethe và Balzac. Theo ông, phải rút hẳn Virgile ra khỏi bàn tay những nhà giáo, và nếu muốn đọc và hiểu Virgile theo đúng giá trị của văn hào này thì phải bỏ hết những quan niệm đọc có sẵn, phải đưa Virgile ra khỏi những quan niệm phê bình lỗi thời dựa trên đặc trưng “thiên tài”. Bàn về phê bình của Goethe, ông cho rằng cái lớn lao của nền phê bình Đức trong khoảng 1750-1830, là nó đã hiểu và làm nổi bật toàn bộ truyền thống Âu Châu.

Nếu triết học là “tư tưởng của tư tưởng”, phê bình là “trí tuệ của trí tuệ”, theo Schlegel, thì Curtius cho rằng phê bình là “văn chương của văn chương”.

Đối với Balzac, Curtius có một cảm tình đặc biệt. Hoàn toàn bị “Balzac lôi cuốn”, ông cho rằng, tác phẩm của Balzac hiện ra tính “nhất quán phi thường”. Phải sửa lại những bất công đối với Balzac, lâu nay vẫn được giới phê bình coi như một “thiên tài lực lưỡng, phàm tục”, không tế nhị về tâm lý và không có văn phong đặc biệt. Curtius quả quyết rằng khi đã xâm nhập được vào “cái cao cả vô cùng” của Balzac rồi, ta sẽ thấy tác phẩm của văn hào này là một vũ trụ có cấu trúc đặc biệt cần phải khảo sát. Cái bí mật trong vũ trụ đó nằm trong thời thơ ấu của nhà văn.

Có thể nói: Cấu trúc, tính nhất quán bí mật là ba yếu tố chính trong phê bình của Curtius. Theo ông, nhà phê bình không cần tìm cách giải mã những bí mật trong tác phẩm mà nên chấp nhận nó, thẩm thấu nó, hấp thụ nó, “âu yếm nhìn nó” và Curtius đã áp dụng cách nhìn “âu yếm” này khi ông đọc các nhà văn, nhà thơ như Eliot, Proust… Về Proust, đi từ những nét đặc thù trong văn của Proust, Curtius xây dựng lại “đời sống tinh thần” của Proust và theo ông, Proust không phân chia ranh giới giữa thể xác và tâm linh, mà hội tụ cả hai trong văn phong: Nghệ thuật của Proust là muốn biểu dương toàn diện hiện thực.

Curtius đưa ra một quan niệm độc đáo về văn học sử: Những cuốn sách phân chia văn chương thành những dòng chảy, những trường phái khác nhau, như lãng mạn, hiện thực, tự nhiên, tượng trưng, v.v… tức là những sơ đồ có tính cách quy ước như thế, theo ông, rất tức cười. Vì người ta cứ theo thói quen mà cắt văn chương thế giới ra làm từng mảnh, từng khúc, phân chia lãnh vực sắp xếp theo ngôn ngữ, dân tộc, thế kỷ, v.v… cho nên chúng ta mất hẳn cái nhìn toàn diện.

Hãy nói riêng về hiện thực không thôi, thì cái ý diễn tả hiện thực hằng ngày không phải là sáng kiến của nghệ thuật thế kỷ XIX đâu, mà ngay từ ngày xửa ngày xưa người ta đã làm rồi: người ta đã làm trong thơ văn Hy Lạp, trong những tiểu thuyết viết bằng tiếng La-tinh thời đế chế La Mã, trong những truyện cổ tích Bắc Âu thế kỷ XII, rồi đến các nhà văn như Rabelais, Cervantès, thế kỷ XVI, v.v… Hiện thực trong hội họa bắt đầu từ ngày có những hình vẽ trên đá thời kỳ thạch khí. Tóm lại là, những khuynh hướng hiện thực luôn luôn có từ mọi thuở, mọi đời. Có đến hàng tá, nếu không muốn nói đến hàng trăm thứ hiện thực khác nhau, bản chất khác nhau, tình cảm khác nhau, kỹ thuật khác nhau… Vì vậy, khoa học văn chương cũng như lịch sử văn chương phải nhận diện được những hình thức khác nhau ấy trong hiện thực.

Curtius phân biệt những chiều hướng khác nhau ấy, ông đã phác họa, tìm hiểu nguyên do nào đã phát sinh những khuynh hướng hiện thực khác nhau này. Một số tên tuổi mà theo ông, đã diễn tả được “toàn diện thế giới”, như Virgile, Dante, Goethe, thời trước; đến thế kỷ XX có Proust, Joyce, Eliot, Claudel. Balzac có chỗ đứng riêng trong tâm hồn Curtius, theo ông, Balzac diễn tả được toàn diện thế giới. Trong Balzac, “tất cả đều đứng vững”.

Có thể nói Curtius, đã dùng “chủ nghĩa thế giới” của các nhà văn, để chống lại chủ nghĩa dân tộc cực đoan của Đức Quốc Xã, cũng như ông đã xây dựng một thứ “chủ nghĩa La-tinh” để thay thế chủ nghĩa Đại Nhật Nhĩ Man của Đức Quốc Xã.

© Copyright Thụy Khuê [http://thuykhue.free.fr]
Nguồn: Tác giả gửi

[1] Pedro Calderon de la Barca (1600-1681), nhà thơ Tây Ban Nha, kịch tác gia bi kịch.

[2] Hugo von Hofmannsthal (1874-1928), nhà văn Áo, tác giả bi kịch ba-rốc và tượng trưng. Ba-rốc, phiên âm chữ Baroque, từ gốc Ý Barroco có nghiã là chuỗi hạt trai không đều, dùng để chỉ phong cách nghệ thuật và văn chương phát sinh ở Ý nhờ phong trào Cải Cách Thiên Chúa Giáo trải rộng ở Âu Châu và Châu Mỹ La-tinh trong hai thế kỷ XVII và XVIII.

[3] Anh hùng trong thần thoại Hy Lạp, Thésée là vua Athènes, tương truyền đã giải phóng kinh thành khỏi sự đô hộ của Minos – Vua đảo Crète, giết Quỷ Ngưu Đầu – Minotaure, quái vật đầu bò hình người.


Mời đọc tiếp: Phê bình văn học thế kỷ XX – Chương 11: Trường phái Đức – Léo Spitzer (1887-1960)

Đã đóng bình luận.