Ðặng Kim Côn với “Ðể trăng khuya kịp rót đầy sớm mai”

Posted: 29/12/2012 in Biên Khảo / Phê Bình, Lâm Hảo Dũng
Thẻ:

Lâm Hảo Dũng

bia_sach-de_trang_khuya

Tập thơ do nhà xuất bản Thư Ấn quán xuất bản năm 2011.

Con người phải chăng luôn tự hỏi mình, bởi kiếp người may rủi, sướng khổ, thành công hay thất bại; thậm chí ngay cả việc sinh tử cũng đành phó thác cho Trời. Ðấng tạo hóa vô tưlững lờ như chẳng biết, chẳng nghe, chẳng thấy. Như mây cứ phiêu du, như nước cứ trôi, như ta làm gã tiều phu cứ lên rừng đốn củi, nhưchàng thợ may cứ miệt mài cắt đo, may vá, và ngay cả như chính tác gỉa một người lính tài tử , bỏ chốn đông người rủ nhau vào rừng chơi trò cút bắt bằng súùng đạn, nhưng trong trái tim của tác gỉa rất trung chính, chân thành. Ta thấy tác gỉa có phong vị của một thiền gỉa ngồi đâu đó trên núi, ngắm trăng chim, ngắm sương mây bao phủ, ngắm mình và cảm khái than:

“ Trời đất thấy ta ngồi trên núi không?
Ngọn thấp ngọn cao, đá dựng đá chồng
Ðãï rêu phong ta nghìn năm sinh tử
Mưa nắng cõi người bao giờ đơm bông”
(Trên đỉnh mê xưa, trang 10)

Nếu mưa nắng đơm bông, ngày ấy chắc là ngày “Apocalypse now”. Chúng ta sẽ xù bài làm lại. Sẽ không có Ðăng Kim Côn nghĩ ngợi quàng xiên . Không có anh, có em và không tất cả.Bóng tối, vô minh trùm khắp vạn vật.

Chúng ta hãy nghe tác gỉa “ lâng lâng” khi một mình bên tách cà phê đen, bất chợt khám phá ra cô chủ không phải bình thường, cũng có khi là khách trang đài mà tác gỉa mong ước chăng?. Câu chuyện vào quán thật tình nghe có vẻ tiếu ngạo giang hồqúa. Ta muốn liều mạng làm nũng cùng nàng chăng.Gác chân lên ghếvới đôi giày nhà binh , thầm khen da em trắng như cuộc tình nhân thế.Ồ có vậy mới làm ÐKC giận ghen và thất tình. Ôi đáng yêu biết bao là lúc:

“ Ta thọc tay trong túi quần ra phố
Và đi không ngừng như đi hành quân
Em không chết cho đời ta đở khổ
Ðể ta nhớ em hơn phải nhớ rừng
Mai còn thất tình ta đi cạo đầu
Vất mẹ nó đi những buồn những đau
Mai còn thất tình ta đi uống rượu
Nữa sẽ quên em khi về rừng sâu”
(Thất tình ca-11)

Có thật là tác gỉa sẽ quên người em phố thị,hay là đi mãi miết vào rừng để bắn vài phát súng cho đã cơn nhớngười.

Ðời người cô quạnh, mông mênh, nhất là cứdạo chơi giữa núi rừng quanh năm suốt tháng và khi về thành niềm vui dâng cao và băn khoăn tự hỏi:

“ Sáng ta đến sớm hồ còn ngủ
Bóng ai thơ thẩn đáy hồ chơi
Ðời cứ vỡ như bong bóng nước
Hồ vẫn lững lờ chiếc lá trôi
Một viên sỏi nhỏ, dăm vòng nước
Như đẩy hồ ra khỏi giấc mơ
Ta lạc giữa những vòng nước tản
Ði miệt mài không thấy bến bờ”
(Ném viên sỏi xuống hồø Tiểu Thúy-12)

Tác gỉa tự hỏi mình mà không tìm được câu giảiđáp, là ta một sinh vật lẻ loi, một gịọt nước , một hạt cát tội tình trong một kiếp người qúa đổi truân chuyên, ê chề.

Thơ họ Ðăng có hơi hướm ngông nghênh, bức phá và đặc biệt hồn thơ lúc nào cũng chất ngất đi lên, không nhuốm nétưu phiền.

Ngồi bên người đẹp nhìn đèn câu trên biển, có trăng sao lấp lánh, có tình em đang tràn ngập dâng đầy, Tác gỉa lạiđi tìm huyễn mộng bao la:

’Ở đây, ở đó cõi nào
Cõi nào biển đã chiêm bao về nguồn
Ta ngồi trong như hạt sương
Trên khoang thuyền trải thiên đường mênh mông
Em ngồi xuân hạ thu đông
Thắp đôi mắt đỏ soi vòng tròn ta
Ðèn giăng ngọn sóng đơm hoa
Ta quanh quẩn lạc mộng xa mọâng gần”
(Ðèn câu trên biển)

Tôi thích nhất câu: “Em ngồi xuân hạ thu đông và Ta quanh quẩn lạc mộng xa mộng gần”. Nhưng ít ra, trong thực tại, tác gỉa vẫn có người đẹp thầm thì bên tai, bỏ đi những ngày ở núi rừng gian khổ.

Người lính cứ đi tới xông trận, súng vẫn còn trên tay, có giây phút nào được làm chủ bản thân họ, nhìn lại phía sau , cơn nhức nhối ấy ray rức họ Ðặng suốt mùa chinh chiến:

“ Ðồi núi chồm lên thịt xương nhầy nhụa
Lòng lính buồn hơn khói chiến trường
Nòng súng ngày mai vẫn nhưng nhức đạn
Chân lính còn dày bóng tối muôn phương”
(Bóng tối-16)

Vâng , lính vẫn đi như bóng tối, như chiến tranh còn giăng mắc trên quê hương.

Ôi tâm trạng con người sao cứ mang mang thiên cổ sầu-” Mộng xa mộng gần”.

Sự cô đơn trong con người tác gỉa tưởng chừng không kềm hảm được. Ở đâu, nơi nào cũng nghe họ Ðặêng trổi gịong “cà tàng, tung hứng bất ngờ”. Nhưng nhờ đó mà chúng ta có được nhựng câu thơ rất tuyệt vời:

“ Chiều một mình ra biển
Biển nghêu ngao lên bờ
Bày chén anh chén chú
Mặc đất trời gío mưa
Biển mời ta uống biển
Ta mời biển uống ta
Có say chiều cũng hết
Không say ngày cũng qua…”
(Chiều một mình ra biển- 19)

Qúa đã- cảm ơn thần Lưu Linh , tác gỉa ngửa nghiêng được những câu sâu sắc đến như vậy.

Một bài thơ hay một bài kệ, một bài thơ hay cảý lẫn lời, nằm trong những ý tưởng mà chúng ta thường nghe thấy, nhưng cách diễn đạt của tác giả thật điêu luyện ,biết và lặn hụp sống thở trong đó, chúng ta kêu gào , rên siết, cuối cùng buông tay- vẫn trần truồng thân xác, hoả thiêu, địa táng hay thủy táng. Tại sao ta lại đến, lại đi- đâu có ai mời gọi, đâu có ai tiễn chân. Bao năm lo toan, xuôi ngược, phấn đấu, chắt chiu, bên cạnh những lục dục thất tình dồn ép mà thời đại chúng ta gọi là stress:

“ Một nơi rồi phải đến
Không người thì cũng ta
Không mong chờ không hẹn
Một ngày kia cũng về
……………………………………………….
Có ai mong ai đợi
Mà một đời cũng qua
Ðến cõi người ngắn ngủi
Chỉ để chào chia xa
Mình từ đâu lạ hoắc
ỗng tới đây quay cuồng
Phân vai đời cười khóc
Cho tới giờ màn buông
……………………………………………..
Trong vòng tròn còn mất
Từ muôn kiếp muôn đời
Ta là ai mà khác
Cũng đến rồi đi thôi
(Cõi tạm- 22)

Trong nỗi băn khoăn khi ngồi với người đẹp bên biển, hôm nay cũng chính tác gỉa ngồi trên biển xưa mà nhớ một người. Con dã tràng chạy loanh quanh, sóng xô lời tình tự. Ôâi nếuđược cho họ Ðặng chết trong phút giây này bằng rượu thì chắc là chất ngất cơn say:

“ Chiều ra ngồi với biển
Rượu trong tim bồng bềnh
Năm năm về không rượu
Lấy gì cho ta quên.”

Rõ ra lòng tác gỉa cảm khái đến tận chín tầng mây.

Con trâu cày mỗi ngày, chế độ dinh dưỡng cũng tùy theo địa phương và mùa màng thâu họach.Ðất đai, đồng cỏ phì nhiêu con trâu sẽ hân hoan thưởng thức sau những ngày giờ lặn lội vất vả trênđồng. Con trâu đi cày, mong là nó sẽ đi đến nơi đồng cỏ tươi tốt nhưtìm thấy thiên đàng có thực nơi hạ giới, trần gian, nhưng thiên đàng tìm hoài không thấy, vẫn là bóng tối của những đêm dài:

“ Ðồng cỏ ước mơ vẫn là phía trước
Bước, bước hoài, ngày mai vẫn xa
……………………………………………………………………….
Gía như đếnđược bên đồng cỏ
Chỉ để lăn thôi cũng đủ vui
Những thửa ruộng vẫn thênh thang bóng tối
Ðồng lúa ngày mai, nhữïng cọng rơm còi”
(Trâu cày trang 28)

Ước vọng được đến nơi, không cần ăn, chỉ cần lăn ra nằm thoải mái đã mản nguyện rồi. Nhưng bức tranh trâu cày và con ngựa với hai vành mắt bị che kín cũng na ná như nhau, chiếc bánh vẽ thiêng liêng và quyến rủ qúa.

Trong bài “ Những vầng trăng “ có đoạn : Trăng Bonsai lời thơ ý vị đậm đà

“ Ðêm đêm ngồi lặng lẽ
Bên những hòn gỉa sơn
Bên gốc đa vạn cổ
Nghe đời trôi vô thường”.

Tuy Hòa – cái tên nghe hiền dịu dễ thương, bởiđó là thành phố nhỏ, nằm giữa Bình Ðịnh và Nha Trang. Theo quốc lộ 1 khi đến quận lỵ sông Cầu, ta mới cảm thấy được vẻ đẹp thiên nhiên, quyến rũ của nó. Nước biển xanh lơ với nhữïng hàng dừa uốn quanh bờ. Ðẹp. Các cô gái nước da trắng đầy gợi cảm. Nơi đó có nhà văn Võ Hồng bên cạnh có Phạm Cao Hoàng, Y Uyên ( ra đó dạy học), Mang Viên Long, Nguyễn Lệ Uyên… những người một thời đã đóng góp cho nền văn học miền Nam thêm phần đa dạng.

(Ngày trước , chúng tôi có một đơn vị pháo binh 155 đóng ở Tháp Nhạn –Tuy Hòa.) Khi xa nơi chốn thân yêu, dĩ nhiên tác gỉa cố nhớ từng địa danh, sông ngòi, hình ảnh, con người để chôn kín trong tâm khảm :

“ Ta bỏ Tuy Hòa đi mấy thủa
Bạn bè mấy thủa nghiêng bầu say
Có giọt rượu nào vương trong mắt tháp
Ðể buồn không vẫy nỗi bàn tay
…………………………………………………………………….
Ðể lại Chóp Chài ngoan giấc ngủ
Nói buồn chưa đủ Ðà Rằng ơi
Không đưa được Tuy Hòa theo với
Từng bước ta như hụt hẫng đời
………………………………………………………………………
Cho ta gượng một bàn tay vẫy
Chào Tuy Hòa và tiễn đưa ta”
(Chén rượu cho Tuy Hòa trang 40)

Giữa mộng và thực, giữa phố và rừng, giữa trái tim người chân chất và trái tim đời biển lận, như Huy Cận đã từng rên rỉ, kêu van:” Trước Thượng đế hiền từ tôi sẽ đặt- Trái timđau khô héo thuở trần gian- Tôi sẽ nói này đây là nước mắt- Hãy nhận tôi dù địa ngục thiên đàng”.

Qủa thật là những so sánh, tỉ dụ, dằn dặt mãi trong trí óc thi nhân:

“Ðôi khi về phố nghe xa lạ
(Ta thật không quen chuyện lọc lừa)
Muông thú rừng và muông thú phố
Ta thà rừng rú với sương mưa)
Hay:” Mặc đời voi chó ai lên xuống
Ta mời trời đất núi non say”.

Tháp Chiêm và bóng ma Hời, từ mấy trăm năm trước, ai nghe ai thấy, ai tin ai huyền hoặc mơ hồ. Nhưng chúng ta vẫn phải tin vào một điều rất hiện thực- những ma qủy đời ngự trị biết bao năm, người người ta thán, thếù mà vẫn tồn tại lâu dài . Ở đóđêm ngày lẫn lộn:

“ Nâng hồn lên với tháp son
Lỡ khi ma qủy biết còn hồn không
Mai trong trời đất chập chùng
Trời không còn xác, đất không còn hồn
Trời chôn đất tận vô ngôn
Lửng lơ ma qủy không buồn không vui”.
(Phòng khi trang 49)

Câu kết là tiếng kêu thống thiết thua cuộc, một sự đầu hàng không hơn không kém…

Tâm trạng con người lăng xăng chạy bắt, theođuổi không ngừng nghỉ. Khi an nhàn lại nhớ thuở chiến tranh, khi vui lại nghĩ đến lúc buồn. Pháp môn “ Chăn trâu” cũng là một hình thứcđể tập luyện tâm trí mình:

“ Một mình lau gía gươm đao
Nghe gang thép cũng dậy màu quan san”
(Giữa đìu hiu ai-55)

Khi rượu đã ngà ngà say, tác gỉa ngông nghênh :” Củng sơn hay đã Cùng sơn- Nắng hồng sao vội bỏ Hòn Ngang xưa…..Núi rừng đâu thủa tình thâm- Sao trong sông suối vô âm có mình.”( Vô âm-56). Qủa là nghiệp dĩ còn mang.

Từ những “ Lệ không màu- Có câu trả lời trong tim khắc khoải- Ðã bao quanh bởi lệ không màu”, những ước lệ đầy chất thi vị nhẹ nhàng đến “ Ngủ nhé ngàn trùng:Ngủ đi, ngủ nhé trái tim- Hắt hiu mấy giọt máu quên đường về”, là những lời tình tự ray rức khôn nguôi.

Ở những trang 67 về sau, tác gỉa đã có nhữngđột biến về tâm thức , những đổi thay cách nhìn đời: tuổi gìa xa xứ,năm bảy năm về lại quê nhà, nhìn cảnh vật ngậm ngùi, thấy mình bất lực ( lại cũng bất lực nên phải lưu vong). Ôi cái vòng tròn oan nghiệt cứ tái diễn muôn ngàn kiếp và ta chỉ là một trong những sinh vật đáng thương, tội tình.

“ Ừ đi như rồi sẽ đi
Ngày mai thì sẽ khác gì hôm qua
Núi này gần, núi nọ xa
Ta về khép lại hồn ta cuối đường”.
(Cứ đi)

Hay chỉ là định mệnh ( Nghiệp)

“ Thì dừng thì say chứ sao
Có sao cùng lắm là đau lối về”.

Hoặc gỉa bông đùa, ngớ ngẩn:

“ Chút tình thật thật, mơ mơ
Trăm năm nào hẹn bất ngờ. Ngủ đi
Ðôi khi thật chẳng vui gì”.
(Thì mơ).

Họ Ðặng dật dờ tỉnh, thức trong “ Mênh mông lục bát, Ta đã ta chưa cho đến Mộng hóa”, cái bềnh bồng hỏi đáp, không có kiếp nhân sinh: “ Vườn xa tìm mộng về chơi- Ta chờ mộng, mộng còn vui bóng mình”. Thôi đành chờ đến lúc buông tay đời vậy….

Một bài hành tình yêu chăng?. Tác gỉa cứ đi hoài trong mộng và biết đâu đó là chân ảnh đẹp muôn đời của người tình. Cứ tỉ dụ dông dài nhưng chẳng tìm ra đoạn cuối:

“ Bởi không thể yêu nhau
Nên biết tình là thật
Mãi không còn không mất
Giữa sóng đời lao xao”
(Bởi không thể yêu nhau- 74).

Xen lẫn với những bài viết về tình yêu, chúng ta bắt gặp đôi bài viết cho mẹ cha như:

” Thắp tâm hương giữa vô cùng
Hư vô toả sợi muôn trùng nhớ thương
Khói không màu khói , khói không hương
Khói thanh tịnh tới thiên đường quanh ba
Lung linh gần, lung linh xa
Ở đâu xin cũng là nhà ba xưa”
(Tâm Hương-78)

Hay:” Mẹ gánh tám mươi năm mưa nắng- Phiên chợbể dâu tan hợp bao lần- Một tang chồng, một quê hương cay đắng- Nuốt nước mắt vào cho cứng đôi chân”. ( Vai mẹ)

Hoặc ở quê người nhớ người ở quê xưa:” Ðốt nến mừng con, lòng nhớ mẹ- Con gìa lo nỗi mẹ gìa hơn- Sau hai năm lạc trong trần thế- Vẫn ngóng bàn tay mẹ dẫn đường-“ ( Vẫn ngóng bàn tay mẹ-103).

Như Huy Cận đã từng viết:” Có chàng ngơ ngác tựa gà trống- E đến trăm năm còn trẻ thơ- Tám tuổi một chiều trong xạp xiếc- Mê nàng cưỡi ngựa uốn thân tơ”. Và trong ( Dại khờ) của họ Ðặng:

“ Ôm nhau lăn xuống cầu thang
Rủ nhau chết ngắt đâu ngàn năm xưa
Môi sao môi dại môi khờ
Ðể môi hấp háy bên bờ đời nhau”

Phải chăng chúng ta đã mất thi vị vì máy điện tóan, I phone, Ipad và chúng ta cứ thoải mái yêu nhau vì cuộc sống quay cuồng của vệ tinh, hoả tiễn?.

Dường như tuổi gìa để tác gỉa hối tiếc, chắt chiu những ngày tàn còn lại, phải chăng cuộc đời phù du mông mênh qúa. Sáu mươi, bảy mươi còn thua nấu nồi kê chưa chín. Không ai có thể giải thích hết được ý nghĩa cuả cuộc đời:

“ Ta từ mấy bận tử sinh
Về đây mót lại ngày xanh cuối đường”
( Bay lên bay xuống- 93).

Mót lại, nghe thê thảm đến lạnh người.

Có gì hoang mang để nhà thơ chỉ mong được nhìn nghiêng nửa mặt người, vì trực diện phấn son nào cũng như nhau, e mất phần mộng tưởng trong tim tác gỉa,ởm ờ theo lối Hồ Dzếnh:” Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé”. Và như một bài hát : xin người cứ gian dối nhưng xin người đừng lìa xa tôi.

“ Vâng cũng là son phấn
Cả hai bên mặt đời
Cứ bước hoài trong mộng
Nhìn nghiêng mà đi thôi
Em đừng quay mặt lại
Ðụng mặt trời bên nay
Ðôi khi em cũng thấy
Gịot thầm nghiêng mắt ai.”
(Nhìn nghiêng- 108)

Ðặng Kim Côn trong “ Ðể trăng khuya kịp rót đầy sớm mai”, phóng túng, ngang bướng đáng yêu trong” Cô hàng cà phê bỗng dưng duyên dáng” hoặc trong lao tù “ Có khi sẽ không thấy anh về”.Bên cạnh,những bài viết cho quê hương như “ Nước và Trên cao”: Ởtrên cao thâùy gì dưới thấp- Ai đói ai trôi chẳng phải ta. Và những bài tình mang nặng chất thiền sâu thẳm, những ý nghĩ vụn về cuộcđời cứ phiếu diễu bay bổng trong hồn họ Ðặng, nhờ thế mà thơ chắp cánh bay cao.

Tôi yêu những bài, những câu lục bát:

“ Thọc tay vào cõi nhiệm mầu
Ðào nguyên cân cấn mấy bầu trần gian”
(Cân cấn- 100).

Thơ đã mở , xin mời bạn bước lên tàu viễn du.

Lâm Hảo Dũng
(Ðể nhớ một người tên Ngọ ở Pleiku )
Nov 26-2012

 

Đã đóng bình luận.