Buồn vui đời thuyền nhân – Chương 1b: Thời điểm 1979

Posted: 19/02/2013 in Hồi Ký, Lâm Hoàng Mạnh

Lâm Hoàng Mạnh
Tặng mợ và các con.

Đã đăng: Chương [Lời nói đầu, 1a], [1b]

bia_sach_bvdtn-lhm

Thời điểm này, tập đoàn Lê Duẩn ra sắc lệnh cấm người Hoa làm việc trong 7 ngành nghề: y tế, giao thông, lương thực & thực phẩm, giáo dục, kinh tế (ngân hàng, tài chính), ngoại giao và văn hóa.

Ai đang làm bắt phải thôi việc, làm chúng tôi nháo nhào bán tống bán tháo đồ đạc chạy cho mau. Chú tôi, đảng viên cộng sản khóa 3-2-1960, phó thư ký công đoàn Cảng đã buộc phải làm đơn xin ra khỏi đảng, buộc về hưu non. Thím tôi cũng bị nghỉ mất sức. Con gái ông, y sĩ cũng bị thôi việc, tình cảnh khốn đốn, nhà 8 miệng ăn, không ai có việc làm, cứ đà này chắc chết đói.

Nước đến chân rồi! Chết đến đít!

Phen này chậm chân chắc tiêu đời!

Chợ Sắt đầy người bán các thứ đồ đạc của người Hoa chạy loạn, đủ loại thượng vàng hạ cám, nhưng toàn đàn bà Việt bán. Họ là vợ, con của người Hoa, trong đó có cả thím tôi, vợ tôi tham gia chợ cóc đó từ tháng 5-1979 cho đến trung tuần tháng 6-1979!

Tôi yêu văn chương từ thuở học primary Pháp thuộc, càng lớn càng nghiện mua sách, cho nên tôi có số sách thật khổng lồ, nay đem sách đi bán chắc chắn sẽ góp một phần không nhỏ cho chi phí chuyến đào tẩu. Đau đớn lắm, những tác phẩm quý của tất cả các tác giả Đông Tây in bằng tiếng Việt từ thời Pháp cho đến 1978, vài ngàn cuốn. Tôi phải cho vào bao tải chở bằng xe đạp nhiều lần, bày bán ngay trước cửa hiệu sách của thị xã. Anh cửa hàng trưởng -tôi là khách hàng mua đã 15 năm từ khi ra trường- nhìn tôi ứa nước mắt. Anh biết tôi yêu sách như yêu vợ, yêu con, như máu thịt của tôi mà những ngày này tôi phải cắt từng miếng thịt bán cho thiên hạ lấy tiền, đưa vợ dại con thơ chạy trốn!

Sao oan nghiệt thế! Các giáo viên cấp 3, giáo viên trường trung cấp sư phạm 10+2, bạn tôi, học sinh khoa Văn, học sinh cấp 2, 3 của tỉnh và thị xã nghe tin đến mua ào ào như tằm ăn rỗi. Họ rất ngạc nhiên, sao tôi kiếm đâu ra những cuốn sách quý và hiếm như vậy. Xin kể vài đầu sách: Tất cả tiểu thuyết, truyện ngắn của Tư lực Văn đoàn, Thơ Mới in từ thời Pháp thuộc mà giai đoạn ấy cấm đọc, cấm tàng trữ! Tôi có cả cuốn Cửa mở của bác Trần Việt Phương (cấm lưu hành), cuốn Bông hồng vàng của nhà văn Nga Konstantin Paustovsky do bác Vũ Thư Hiên dịch từ tiếng Nga, những cuốn này bói không ra. Nghĩa là tôi toàn sách “độc” nên bán chạy hơn tôm tươi. Giá bán không rẻ, thậm chí đắt và rất đắt, bởi tôi biết giá trị thật của nó. Chỉ trong 4 ngày tôi bán được hơn ngàn cuốn sách. Riêng những cuốn tự điển Trung Việt của Văn Tân, Trung Hoa đại từ điển và một số thơ Đường, Tống bằng chữ Hán tôi cho các cậu các dì làm giấy vệ sinh, vì ở Việt Nam lúc ấy loại này cũng hiếm lắm!

Đã bị quả đấm bằng trời giáng,-bài xích, xua đuổi-, của chính quyền, nay thêm cái đạp là đồ đạc bao nhiêu đời, bao nhiêu năm ki cóp bán đi như thể bán đổ bán tháo, gần như cho không, vì những tin đồn thất thiệt có phần do kỳ thị, bài Hoa nên không ai mua.

Tôi không biết ở miền Nam thời ấy ra sao, còn miền Bắc nghèo lắm, mọi thứ đều thiếu, thiếu từ cái nồi, cái bát, cái xe đạp đến manh quần tấm áo, bởi vì mọi thứ đều bán theo phân phối của chế độ mậu dịch. Mua chiếc xe đạp cũng phải lên công an xin giấy đăng kí xe, mua chiếc đài thu thanh đều phải lên ty bưu điện xin giấy sử dụng, ai không có sẽ bị phạt, nhẹ bằng tiền, nặng tịch thu. Ngày nay báo chí gọi “thời kỳ bao cấp”, có người bảo,“ thời kỳ ngăn sông cấm chợ”. Nhưng cấm như thế nào, ngăn ra làm sao, chắc nhiều người đã quên, lớp trẻ hẳn khó biết.

Tết năm 1972, tôi phải trực bệnh viện vào ngày mồng Một, mồng Hai nghỉ sẽ đạp xe về, nên để vợ con về quê ngoại trước. Đêm giao thừa buồn thiu, may gần khu tập thể có anh đại úy, cùng quê Hải Phòng là chỗ thân tình, phụ trách ban tuyển quân (bắt lính) biết cảnh lẻ loi, hẹn sang đón giao thừa cho vui.

Tết đó tôi đã viết câu đối dán trước cửa nhà tập thể:

Đêm ba mươi, vợ bỏ về quê,
không thịt không hành mà cũng Tết

Sáng mồng một, khách quý đến nhà,
có trà Tắm Ngựa thế là Xuân.

Thực ra vế thứ hai tôi viết: “Có thơ có rượu thế là xuân”. Nhưng tiêu chuẩn Tết mỗi gia đình chỉ được một chai rượu mùi, một gói mứt thập cẩm 500 gr cùng một vài thứ lặt vặt như 20 gr bột ngọt, 10 gram hồ tiêu, 100 gr miến dong giềng, 2 bao thuốc Tam Đảo, 1 gói chè Ba Đình…, vợ tôi đem về biếu ngoại làm gì còn rượu mà đãi khách. Còn tôi trực, báo cơm tập thể. Gọn nhẹ và có hương vị Tết, ké vào tiêu chuẩn của bệnh nhân!

Xin được mở và đóng ngoặc: thời ấy cả nước, -đúng ra là miền Bắc-, chỉ có một nhà máy chè Phú Thọ sản xuất 3 loại chè gói bán ra thị trường: Chè Hồng Đào (loại I) giá 8 hào/gói, chè Ba Đình (loại II) giá 5 hào/gói (hai loại chè này theo tiêu chuẩn phân phối) và chè Thơm giá 3 hào/gói bán tự do. Đây là loại chè hạ đẳng, toàn cọng và chè vụn, đắng chát, nước đen ngòm, chả có mùi vị gì, cơ quan mua phát cho các khoa phòng mỗi tháng 4 gói. Anh bác sĩ Long, khoa Truyền nhiễm, đặt tên, chè Tắm Ngựa, có nghĩa là chỉ xứng đáng để tắm cho ngựa đỡ hôi, người không thể uống nổi. Chúng tôi phải mua chui chè Tân Cương (Thái Nguyên), chè Tân Lạc (Hoà Bình) để uống.

Theo hẹn, gần mười hai giờ đêm, tôi đến nhà anh. Thời bấy giờ còn liêm khiết lắm, chứ chức vụ như anh ngày nay có mà giàu to, không nứt đố đổ vách cũng vài cái nhà lầu 5 tầng, vài ô-sin phục vụ là ít. Thằng nào muốn trốn lính, dăm cây, nhà con một chục cây cũng phải ưng, nhất là cả nước đang mịt mùng khói lửa, lính chết như rạ, thiếu lính đến mức độ phải “vay” trước tuổi. Có nghĩa là theo luật 18 mới phải nhập ngũ, nhưng 17 tuổi cũng phải lên đường, gọi là vay. Tiền tuyến đang cần thanh niên sẵn sàng (chết)! Nhiều cậu tân binh mặt non choẹt, gày nhom, cao chưa tới 1 mét rưỡi, vác khẩu súng trường quét đất! Vì thế ở miền Nam một thời bêu riễu: “7 thằng VC đánh đu 1 cành đu đủ cũng không gẫy”!

Nhà anh, một nếp nhà tranh một gian hai chái. Tuy thế còn hơn tôi, vẫn phải sống tập thể, vợ tôi cũng là y tá đâu có ăn bám chồng. Anh chị đang chuẩn bị đón giao thừa. Nồi bánh chưng đã vớt, hai đứa con anh ngủ say. Vợ anh, chị Hương, đang chuẩn bị lễ cúng, còn anh đứng vơ vẩn ngoài sân chờ tôi. Anh là lính từ những ngày toàn quốc kháng chiến (12-1946), rời Hải Phòng yêu dấu làm nhiệm vụ của thanh niên đánh đuổi ngoại xâm như hàng vạn thanh niên yêu nước khác. Hết chiến dịch này đến chiến dịch khác, từ binh nhì leo dần lên sĩ quan, vài lần đi bồi dưỡng, tập huấn, thương tật đầy mình, đảng viên cộng sản lâu năm bò dần lên sĩ quan trung cấp, -từ chuẩn uý đến thượng uý là sĩ quan sơ cấp, từ đại uý đến thượng tá là sĩ quan trung cấp, từ đại tá trở lên là sĩ quan cao cấp- tham gia chiến dịch Tây Bắc nên anh được trụ lại và đóng ở tỉnh Hòa bình, lấy vợ. Chị là con gái nhà lành, bố mẹ buôn bán ở thị xã. Duyên bén, nhưng cơ quan không đồng ý vì xét lí lịch gia đình chị không (chưa) cách mạng, đảng viên, sĩ quan “quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng” lấy dân tiểu tư sản thành thị là mất lập trường! Ba mươi nhăm chưa có vợ, ế đến đít, anh em nói mãi, lãnh đạo mới gật. Nhờ thế anh mới có gia đình, nếu không có thể lên chức Thiếu tướng Phòng Không (vợ) chưa  chừng!

Mâm cúng ngoài trời thật đơn giản. Trầu cau, hoa quả và đĩa bánh chưng đã bóc sẵn. Mâm cúng tổ tiên có đĩa xôi gấc, con gà luộc bốc hơi nghi ngút, chiếc bánh chưng, khoanh giò lụa, đĩa nem rán, bát măng ninh chân giò, món rau xào thịt lợn. Chai rượu cam màu vàng óng và bao chè Hồng Đào để cạnh mâm. So với mọi người, nhà anh thuộc loại tươm tất nhất trong cái Tết nghèo khó của đời công chức chúng tôi.

Ai đã từng sống dưới thời bao cấp mới thấy mấy tấm bánh chưng, khoanh giò lụa, đĩa nem rán, bát măng ninh chân giò, đĩa xôi gấc… đặt lên ban thờ cúng tổ tiên ngày Tết là hàng cao cấp, nếu như không nói là hàng xa xỉ. Bởi vì chế độ tem phiếu khắc nghiệt lắm. Tôi biết rõ vì tôi là người trực tiếp làm tem phiếu, xin ghi lại để tham khảo.

Nếu tôi nhớ không nhầm, chế độ tem phiếu bắt đầu từ 1959 (hay 1960?). Hè năm ấy, bọn học sinh Hải-phòng chúng tôi được thành phố trưng dụng đi làm sổ gạo vì “văn hay chữ tốt”. Mỗi ngày đi làm, ủy ban hành chính tiểu khu (phường) trả công 6 hào/ngày, ăn bữa cơm trưa (tập thể) mất 5 hào, còn dư 1 hào chỉ đủ mua 1 que kem hay 2 bát nước chè xanh. Lương mạt hạng mặt mũi vẫn phải vui và tươi roi rói.

Không đi có mà ăn đất! Đừng có mơ vào đại học hay trung cấp chuyên nghiệp. Lí lịch sẽ ghi: có tư tưởng và hành động chống đối chủ nghĩa xã hội! Đời mờ! Đời tàn liền! Xin đi làm bốc vếch -công nhân bốc vác cảng- cũng không xong!

Chế độ tem phiếu chia làm ba loại:

1-Cán bộ công nhân viên chức
2-Nhân dân thị xã và thành phố
3-Nông dân, kể cả nhân dân ở thị trấn

Ngoài ra còn loại tem phiếu dành cho cán bộ cao cấp từ chuyên viên đến lãnh đạo ty sở, từ tỉnh ủy viên đến bộ trưởng. Tiêu chuẩn này cũng có nhiều loại, tôi chỉ biết sơ sơ, nghe hơi nồi chõ, thực tế ra sao xin nhường cho bạn nào biết, viết tiếp cho hoàn chỉnh.

1- Cán bộ công nhân viên chức

Người làm trong các cơ quan, xí nghiệp nhà nước, bao gồm bác sĩ, kỹ sư, giáo viên, nhà văn… (những người lao động trí óc nói chung), lao động chân tay, cán sự từ bậc 1 đến bậc 4; từ bậc 5 trở lên là chuyên viên hưởng tiêu chuẩn khác. Tất cả hưởng tiêu chuẩn giống nhau:

– Vải 5 mét/năm
– Gạo từ 13 kg 5 đến 25 kg/tháng (tùy thuộc lao động nhẹ hay nặng)
– Thịt từ 500 gr đến 2,5 kg/tháng (tuỳ thuộc tính chất nghề nghiệp)
– Đường từ 500 gr đến 2 kg 500/tháng (tuỳ thuộc tính chất nghề nghiệp)
– Đậu phụ 1 kg/ tháng
– Nước mắm 500 ml/tháng
– Cá tươi hoặc cá khô 500 gr/tháng.

2- Nhân dân thành thị

A- Người lớn

– Vải 4 mét/năm
– Gạo 13,5 kg/ tháng
– Thịt 100 gr/tháng
– Đường 100 gr/ tháng
– Đậu phụ 500 gr/tháng.
– Nước mắm 500 ml/tháng
– Cá tươi  hoặc cá khô 500 gr/tháng.

B- Trẻ em từ sơ sinh đến 15 tuổi

– Vải 4 mét/năm
– Gạo tùy thuộc vào tuổi từ 5 kg đến 12 kg/tháng
– Thịt 300 gr/tháng cho trẻ dưới 5 tuổi. Từ 6 tuổi như người lớn
– Đậu phụ và nước mắm như tiêu chuẩn người lớn
– Cá tươi hoặc cá khô 300 gr/tháng.

3- Nông dân và dân thị trấn

Không có một thứ tiêu chuẩn tem phiếu nào, kể cả trẻ em. Họ cũng không được cấp giấy chứng minh thư. Tất cả là con số không tròn trĩnh. Họ bị coi như công dân hạng 2 trong xã hội. Theo cương lĩnh của Đảng Cộng sản, giai cấp công nhân và nông dân là thành phần nòng cốt của chính quyền vô sản, nhưng người nông dân một nắng hai sương, người làm ra thóc gạo, làm ra mọi của cải vật chất (chính) để nuôi quân, nuôi dân và cán bộ nhân viên nhà nước như chúng tôi thì bị bỏ rơi, loại khỏi cuộc chơi của xã hội. Nhiệm vụ và quyền hạn của họ cũng như toàn dân Việt Nam, có thể tóm tắt 7 chữ vàng: Đóng thuế- Đi lính- Câm cái mồm!

Không tem phiếu, kể cả phiếu vải, động vật nên không cần quần áo? Mỗi xã có một cửa hàng Hợp tác xã Nông nghiệp, gọi thế cho oai chứ trong cửa hàng chẳng có mặt hàng gì quý giá, chỉ có: cày, cuốc, mai, thuổng… (dụng cụ lao động dành cho nông dân), bát đĩa loại phế phẩm, vài phong thuốc lào hạng bét, thuốc lào Tiên Lãng, Hải Phòng không đến luợt, dầu hỏa, muối, đôi khi cũng có nước mắm (khắm và mặn chát), thỉnh thoảng có cá khô (cá mòi, cá chuồn, cá trích… chứ làm gì có cá thu, cá nục) mua về muối nhiều hơn cá do nhân viên bán hàng trộn thêm muối để ăn cắp cá.

Tiêu chuẩn phân phối xem ra đối với chúng tôi cũng sống nổi nếu như mua được hết số tem phiếu. Tuy có tem phiếu nhưng đâu có hàng hoá, may lắm chỉ mua được 50%. Tem phiếu in tháng, hết tháng hết giá trị. Từ năm 1962, tiêu chuẩn gạo bắt đầu phải độn ngô hay bột mỳ từ 30% lên dần 50%, có kỳ 70%, ở miền núi còn độn sắn (củ mỳ) khô, đến năm 1982 cửa hàng lương thực chỉ có 100% hạt bo bo bán cho dân. Năm 1967, sang giảng cho lớp y sĩ xã, thấy các em ăn 1 phần cơm 3 phần sắn khô, có hôm ăn ngô răng ngựa (loại ngô dành cho gia súc, bung lên nở to gần bằng ngón tay cái) với canh rau muống nấu muối, cà muối. Vì thế cô hàng gạo, chị hàng thịt, bà bán cửa hàng bách hóa thời bấy giờ có giá lắm, oai hơn cả kỹ sư, bác sĩ, thày giáo, nhà văn…!

Mời đọc tiếp: Chương [1c]

Lâm Hoàng Mạnh
Nguồn: Tác giả gửi

Đã đóng bình luận.