Buồn vui đời thuyền nhân – Chương 1c: Thời điểm 1979

Posted: 23/02/2013 in Hồi Ký, Lâm Hoàng Mạnh

Lâm Hoàng Mạnh
Tặng mợ và các con.

Đã đăng: Chương [Lời nói đầu, 1a], [ 1b], [1c]

bia_sach_bvdtn-lhm

Nhân đây tôi xin kể một số chuyện thật ở tỉnh tôi mà tưởng như chuyện tiếu lâm trong thời kỳ tem phiếu.

Chuyện thứ nhất:

Tháng 5 năm 1970, trong một cuộc đại hội công đoàn thường niên của tỉnh họp tại trụ sở Mặt Trận Tổ Quốc tỉnh Hoà Bình. Gần 100 đại biểu thuộc các cơ quan ty ngành trong tỉnh đến dự. Trong lúc nghỉ giải lao, một bác bảo vệ cơ quan từ phòng thường trực cầm cái bát to đi đến bàn uống nước của đại biểu ở hội trường, rót nước trà vào bát. Bác đến gần đám đông đứng quanh ông Quách Hy, chủ tịch Mặt trận Tổ quốc tỉnh, đặt bát nước xuống bàn, móc túi áo lấy ra một gói giấy nhỏ, chậm rãi mở ra như cố tình để mọi người xem. Người ta tưởng bác lấy viên thuốc, nhưng không, đấy là các ô tem phiếu thịt, cá, đậu phụ… đã cắt sẵn từng tháng theo tiêu chuẩn. Bác thong thả bỏ vào bát nước, thò ngón tay trỏ vào lòng bát, ngoáy đều tem phiếu đang nổi lều bều như thể cho tan trong nước, rồi bưng lên miệng, uống một hơi. Tất cả mọi người trố mắt ngạc nhiên, tưởng ông già này mắc bệnh tâm thần. Bác tỉnh bơ, khà một tiếng sau khi uống hết nước, nói bâng quơ:

– Các loại tem phiếu không mua được thì hoà vào nước uống cũng có đủ chất có phải không bác lãnh đạo?

Mặt Quách Hy tím lại, không ngờ lão bị chính nhân viên mình chơi sỏ. Cơ quan công đoàn và Mặt Trận Tổ Quốc là cơ quan bảo vệ quyền lợi và chăm lo đời sống cho cán bộ công nhân viên chức, nhưng đã không làm tròn nhiệm vụ. Tem phiếu nhà nước phát cho cán bộ công nhân viên chức cũng chỉ là những mảnh giấy lộn, vì mấy ai mua hết tiêu chuẩn tem phiếu.

Sáu tháng sau, người ta thải hồi ông.

Chuyện thứ hai:

Hôm ấy, khoảng 10 giờ sáng tháng 7 năm 1972 tôi có việc đi qua thị xã. Một người đàn bà Mường có tuổi, đứng trước cửa cửa hàng lương thực thực phẩm Phương Lâm thị xã Hoà bình, miệng gào to:

– L. ơi là l.! L. người ta đẻ ra cán bộ thì được mua đường mua sữa, l. của tôi chỉ đẻ ra nông dân nên ốm đau muốn mua lạng đường cũng không được. Bất công quá! Giời ơi là giời! L. ơi là l.!

Bà ta một tay kéo váy lên ngang gối, tay kia vỗ bành bạch vào bẹn, gào lên điệp khúc “không mua được đường vì l. bà đẻ ra nông dân”. Chỉ một thoáng, hàng trăm người hiếu kỳ xúm lại, đứng vòng trong vòng ngoài xem vở bi kịch thời kỳ bao cấp.

Cái thời bao cấp khốn khổ như thế đấy.

Cha mẹ đến thăm con cháu làm việc ở thị xã, thành phố, bao giờ trước khi đi cũng chuẩn bị dăm bơ gạo, chục trứng gà. Ai giàu hơn thì đôi gà nhốt trong lồng, rồi cơm đùm cơm nắm, tay xách nách mang lên đường thăm. Sau khi trình giấy thông hành kèm theo đơn xin và giãi bầy lí do vì sao có gạo, có trứng, có gà với trạm kiểm soát thuế vụ, các cụ mới được vào (khu cách ly) thị xã hay thành phố thăm con cháu.

Con cháu mừng mừng tủi tủi khi được gặp ông bà cha mẹ và trách khéo, sao đường đã xa, tầu xe khó khăn bố mẹ tuổi cao, lại còn đem cả gạo cả gà ra thế này, vất vả khổ sở lắm. Các cụ gạt phắt, nói dối rằng, quà nhà quê chả có gì ngoài mấy bơ gạo mới và dăm quả trứng, gà nhà nuôi đem làm quà. Nhưng thật ra đó là tiêu chuẩn ăn của các cụ trong những ngày thăm con thăm cháu. Các cụ hiểu lắm chứ, tiêu chuẩn gạo thịt chưa đủ cho chúng, nay tự nhiên có khách chúng lấy đâu ra mà đãi, đong chui có mà chết tiền, lương chúng 3 cọc chỉ có 2 đồng, xoay ngang xoay dọc vẫn thiếu. Sống ở thành thị cái gì cũng phải mua, từ nắm lá chè tươi đến rau thơm quả ớt đều là tiền, tiền không à!

Muốn chơi dăm bữa nửa tháng với thằng cháu đích tôn cũng không dám vì thấy chúng tốn kém quá, muốn đem về quê, cháu còn quá nhỏ cần sự chăm sóc của bố mẹ nó. Vì thế, chả cụ nào có thể ở lại thăm con cháu một hai tháng được, chỉ dăm bữa nửa tháng lấy cớ phải về, vì đến vụ cày, bừa, làm cỏ bỏ phân… -hợp tác xã đang chờ.

Chế độ tem phiếu đã hình thành một bức tường vô hình nhưng cực kỳ hiệu quả để giám sát và ngăn cách tình cảm cha con, vợ chồng và họ mạc giữa nông thôn và thành thị, ngăn chặn được nguy cơ biểu tình chống đối của người dân.

Trong một xã hội, sự giao lưu của cộng đồng không thể không có, người nông dân không sản xuất ra vải, quần áo, giày dép… thì họ có thóc gạo, có con lợn, con gà, mớ rau… đem ra để đổi chác (bán và mua) lấy những thứ họ cần. Nhưng ở chế độ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thời bấy giờ điều đó không được phép, bị coi là mầm mống của chủ nghĩa tư bản cần phải tiêu diệt, ngày nay người ta thường nhắc lại với cụm từ “Thời kỳ bao cấp”, có nhà báo nói toạc móng heo, “Thời kỳ ngăn sông cấm chợ.” Ngăn sông như thế nào, cấm chợ ra làm sao, nhiều bạn trẻ chưa hình dung ra những biện pháp quái đản của những người thực hiện chính sách độc nhất vô nhị ấy.

Muốn ngăn sông cấm chợ, người ta phải đặt rất nhiều trạm kiểm soát kiêm thuế vụ ở ngay những trục đường chính sát ranh giới giữa thành thị với nông thôn. Trạm này có hai chức năng:

1) Kiểm tra giấy tờ người đi lại.

2) Kiểm tra hàng hóa và thu thuế.

Một điều rất đáng ngạc nhiên, thời bấy giờ, cán bộ nhân viên ngành thuế vụ, hầu như 90% người Nghệ An, quê hương của chủ tịch Hồ Chí Minh!

Quyền hành quá lớn biến cán bộ công chức ngành thuế trở thành những ông vua con, tác oai tác quái khiến dân địa phương rất căm ghét, vì thế có rất nhiều bi hài kịch diễn ra trong suốt thời kỳ ngăn sông cấm chợ. Dân chúng ghét đến mức không cô gái nào muốn kết hôn với dân xứ Nghệ, dù không làm phòng thuế, gia đình ngăn cấm nếu cô gái nào chót yêu. Họ thường phải về quê lấy vợ. Để chỉ người Nghệ An, người miền Bắc gọi họ là dân Trọ Trẹ, phân biệt với người Lục Tỉnh miền Nam. Đó là sự thật, một sự thật đau lòng. Nếu bạn đọc là người Nghệ An, xin lượng thứ khi tôi viết những dòng này. Đây là một thời kỳ lịch sử cũng như người Hoa bị kỳ thị. Nhân đây tôi cũng xin kể vài câu chuyện có thực trong đời thường.

Văn Điển, vùng nấu rượu có tiếng, tuy không ngon bằng rượu làng Vân, nhưng nơi đây là trung tâm cung cấp rượu lậu cho Hà NộI và thị xã Hà Đông. Ai cũng biết rượu Văn Điển bán chui tất nhiên trạm thuế cũng biết để tịch thu, phạt tiền. Sau nhiều lần mất hàng, các bà các chị nghĩ ra một chiêu khá độc đáo.

Ngày nào cũng như ngày nào, trạm thuế đều thấy các bà chị quang gánh đi chợ mà chỉ lèo tèo vài cân khoai lang, dăm quả bí, quả bầu, ít rau đay, rau mồng tơi… nhưng bà nào cũng bụng to vượt mặt như người sắp đến kỳ ở cữ. Chiều chiều tầm bốn năm giờ lại thấy các bà các chị này về, quang gánh đầy những hàng trên phố, nhưng đặc biệt bụng hết to, cứ như ra tỉnh sinh đẻ không bằng.

Cái kim bọc giẻ lâu ngày cũng ra, vì thế chiêu đựng rượu vào dạ dầy bò, bong bóng lợn đã thuộc sạch phơi khô rửa kỹ đút vào áo, giả trang bà chửa, bị bại lộ. Bị tịch thu nhiều lần, ức lắm, các bà các chị nghĩ kế phải cho bọn trạm thuế mất mặt và tẩn cho chúng một trận để bù những thiệt hại.

Hôm ấy, lại những bà những chị bụng to lũ lượt kéo đi thành đoàn, nhưng lần này cách không xa lại có một đoàn nam giới đi sau, có người còn mang cả đòn gánh. Qua trạm kiểm soát, ba tay thu thuế đứng chặn ngay cạnh cây tre chắn ngang, hỏi bằng giọng xứ Nghệ:

– Cạc bả cạc chỉ đẩu dzậy?

– Thưa cán bộ, chúng tôi đi chợ.

– Cọ rưởu lẩu khổng dzậy?

– Cán bộ cứ đùa, chúng em làm gì có.

– Không cọ đủa. Cạc bả cạc chỉ ghê lẳm, giẩu rưởu vảo bủng giả lảm bả bầu. Thổi biệt điểu, bỏ ra khổng chụng tổi khạm được đửng cỏ trạch.

Các bà các chị biết bọn này trúng bẫy cò ke, lớn tiếng:

– Chúng tôi làm gì có rượu giấu trong bụng mà các ông bắt bỏ ra. Không tin các ông cứ khám đi.

– Khổng cọ nhiệu lởi, cọ bõ ra khổng?

– Không có sao mà bỏ ra được.

Ba tên đưa mắt cho nhau ra dấu hiệu khám một người có vẻ khả nghi nhất. Chưa kịp sờ vào vạt áo, tất cả các bà các chị đồng loạt vén tất cả vạt áo lên và kéo trễ cạp quần xuống, đồng thanh kêu:

– Đây khám đi, khám đi!

Ba tên mặt đỏ như vừa bị cái tát trời giáng khi nhìn thấy tất cả những cái bụng chửa căng cứng của các bà các cô. Ngay lập tức nhóm đàn ông cũng vừa ập đến vừa chửi vừa giơ nắm đấm đe dọa.

Cứ tưởng như mấy lần trước các bà chứa rượu và dạ dày bò, bong bóng lợn (sau khi đã thuộc kỹ) rồi giấu vào bụng giả làm bà chửa. Ai ngờ hôm nay tất cả bà chửa thật, làm cho bọn phòng thuế một bữa bẽ mặt.

Chuyện vỡ lở. Một đồn 10, muời đồn 100, chả mấy lúc tin xấu này lan nhanh toàn tỉnh. Trạm kiểm soát này phải đóng cửa. Gần năm sau, một trạm mới ra đời cách trạm cũ hơn cây số.

Sau cải cách ruộng đất và cải tạo tư bản và công thương nghiệp làm mất lòng dân, nhiều nơi có nhưng cuộc nổi dậy lẻ tẻ. Muốn đàn áp, chính quyền đưa ra hai chính sách: Quản lí hộ khẩu và quản lí lương thực thực phẩm một cách thật chặt chẽ. Bởi vì, muốn nổi loạn thì phải tụ tập đông người và phải có lương thực thực phẩm. Có thực mới vực được đạo. Quản chặt hai điều này là giảm được 90% mối họa.

Quản lí lương thực như đã kể, bây giờ tôi xin kể về quản lí nhân khẩu. Thuộc tính của chuyên chính vô sản.

Bắt đầu từ năm 1956, một tổ 3 người của công an khu phố (phường) đến từng gia đình đưa mẫu khai, hướng dẫn thật tỉ mỉ cách khai lí lịch từ 3, 4, 5… đời, rồi trả lời các câu hỏi trong mẫu khai: có ai di cư vào Nam, có ai làm việc cho chế độ cũ, có ai đang ở nước ngoài. Họ làm thật từ từ, không vội vã, từng bước chắc chắn cho đến khi không còn điều gì nghi ngờ nữa, rồi cấp cho một sổ bìa màu vàng ghi rõ “Sổ hộ tịch” (bây giờ là “Sổ hộ khẩu” mầu đỏ). Tất cả thông tin ấy được lưu trữ trong hồ sơ tối mật.

Nông thôn khác, bởi vì người trong làng, trong xã sống chung mấy đời nên biết rõ hoàn cảnh của nhau, thuộc lòng như trong làng có mấy cây đa, bao nhiêu đình, chùa, miếu mạo, vì thế việc làm hộ khẩu nhanh và rất gọn. Nông dân không được cấp sổ hộ tịch, danh sách từng gia đình được ghi đầy đủ trong “Sổ nhân khẩu” để ở UBND xã. Không như dân thị thành là dân tứ chiếng, khắp nơi đổ về, nguồn gốc chẳng rõ, phải bới lông tìm vết cho rõ ngọn ngành để còn quản lí.

Có đầy đủ tài liệu trong tay (tốt, xấu) nhưng vẫn chưa an tâm, chính quyền đặt ra một điều luật nữa: Đi qua đêm phải báo ủy ban xã bằng cách phải xin giấy thông hành. Đến nơi thăm chủ nhà cầm giấy thông hành ra phường xã, khai tạm trú cho khách. Luật khai báo này ra đời từ 1958 kéo dài cho đến hôm nay chưa có dấu hiệu xóa bỏ. Có nghĩa là mỗi một làng xã, một khu phố, người dân được “chăm sóc” một cách chu đáo bởi cơ quan chính quyền địa phương (phường, xã). Nếu so sánh mỗi xã, phường như một trang trại chăn nuôi gia súc thì mỗi UBND phường xã chính là ông chủ trang trại. Chủ phải biết chính xác số gia súc đi đâu, ở đâu và không được để xổng chuồng chạy rông. Xổng chuồng, có tội với Đảng và chính phủ!

Nhìn bề ngoài, ít ai nhận ra đây là một nhà tù khổng lồ không dây thép, không vách tường bao quanh và cũng chẳng có song sắt. Chính quyền cộng sản đã biến từng xã, từng phường thành một ấp chiến luợc vô hình, kín đáo để quản lí sự hoạt động hàng ngày của từng người dân. Ấp chiến lược này hoạt động hiệu quả và ít tai tiếng hơn ấp chiến lược của cố Tổng thống Ngô Đình Diệm.

Ai cũng biết chuyên chính vô sản là ghê gớm lắm, độc địa lắm, nhưng hỏi độc địa, tàn bạo ở chỗ nào, ra sao và bắt đầu từ khi nào, tôi tin ít người trả lời một cách thỏa đáng. Nhân đây tôi xin dẫn chứng một chuyện thật 100%.

Hè 1963, tôi đến thăm anh bạn chí cốt từ nhỏ, giáo viên dạy Trung Văn cấp II, cũng đang nghỉ hè, sống ở Dư Hàng. Nhà anh đang có thợ cắt tóc rong đến theo thường lệ. Người thợ cắt tóc rong này rất trẻ, khoảng trên dưới 30, tay kéo bấm tanh tách có vẻ rất chuyên nghiệp, vừa cắt vừa kể chuyện tào lao, tuy không bổ ích nhưng lý thú làm mọi người thấy thú vị.

Thằng bạn tôi bảo “Anh ấy kiến thức rộng lắm, tiếng Pháp làu làu, chả có xí xố xì xộ vài câu mách qué như tao với mày đâu.” Anh ta cắt tóc rong làm kế sinh nhai, độ nhật qua ngày. “Đừng có coi thường!”- “Cái thằng, tao là cái đinh gì mà dám coi thường ai.”

Thấy tay nghề anh rất khá vả lại giá rất bình dân, 3 hào, tôi cũng ngồi vào chiếc ghế xếp bằng vải để anh húi.

Từ đó tôi làm quen với anh và thằng bạn cố tri đưa tôi đến nhà anh ở ngõ Chợ Cột Đèn, đường Trại Cau.

Câu chuyện đời anh thật đau thương, day dứt trong tôi mãi đến hôm nay.

Anh tham gia kháng chiến chống Pháp khi anh đang học tú tài. Anh làm liên lạc cho cấp tiểu đoàn. Hòa bình lập lại, về Hải Phòng, gia đình anh đã di cư vào Nam, để lại cho anh một căn nhà hai tầng ở Đình Đông. Khi anh xuất ngũ thì căn nhà đã có người chiếm -thuê-. Anh đem đầy đủ giấy tờ để xác định quyền chủ nhân. Công an và chính quyền khu phố xác nhận anh là chủ nhân của ngôi nhà.

Nhưng vì có người đang ở -thân nhân của trưởng đồn công an khu phố-vả lại nhà nhiều phòng, họ đề nghị hãy tạm sử dụng một phòng vì anh chưa có vợ. Các buồng còn lại cho thuê và trả tiền hàng tháng là 3 đồng. Khi nào họ tìm được chỗ ở mới sẽ dọn đi, trả lại nhà cho anh.

Anh đành chấp nhận vì không thể làm gì hơn.

Năm 1958, xin vào trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, anh tính bán căn nhà lấy tiền chi tiêu cho 5 năm đèn sách. Nhưng người thuê nhà không mua. Sao lại mua, khi chỉ phải trả có 3 đồng 1 tháng! Anh đuổi họ để lấy lại nhà bán cho người khác. Họ cũng không đi vì trong bản ký kết có ghi “khi nào tìm được chỗ ở mới”, hiện nay chưa tìm được.

Cãi nhau, đưa nhau ra khu phố nhiều lần. Thất bại về phần anh.

Uất quá, anh đi tìm người mua gạch, mua ngói, mua cánh cửa v…v.., anh gọi đoàn thợ đến phá ngay căn nhà khi vợ chồng thuê nhà về quê ăn giỗ.

Anh bị bắt, tống giam.

May thủ trưởng cũ biết, can thiệp nên anh được tha. Nhưng hồ sơ lý lịch của anh được chính tay trưởng đồn công an phê: Có tư tưởng và hành động chống phá chủ nghĩa xã hội!

Đời anh tiêu rồi! Sống lay lắt trên chính quê hương mình!

Thời bấy giờ tốt nghiệp cấp III là của quý. Tỉ lệ mù chữ ở miền Bắc 80%. Năm 1956 cụ Tôn Đức Thắng -phó chủ tịch- nước làm Trưởng ban Bình dân Học vụ Trung ương. Tất cả học sinh cấp II và III phải gia nhập đoàn quân diệt dốt. Tốt nghiệp cấp II (lớp 7) vào trường Trung cấp Sư phạm học 2 năm đã thành thày cô giáo cấp II -dạy từ lớp 5 đến lớp 7. Tốt nghiệp phổ thông vào Đại học Sư phạm, học 2 năm ra trường là thày cô giáo cấp III -dạy tư lớp 8 đến lớp 10).

Thế mà anh có bằng cấp III xin làm chân loong toong cũng không xong.

Anh đành học nghề cắt tóc. Có nghề trong tay, xin mở quán cóc đầu ngõ để độ nhật cũng bị từ chối. Anh đành vai đeo chiếc ghế vải, tay xách hòm đồ bằng gỗ có hàng chữ: “Cắt tóc” thật bay bướm, đầu đội mũ tầu phở đi vào các làng phụ cận như Chùa Chiếu, Dư Hàng, Quán Nải… để kiếm ăn.

Nếu chỉ có thế cuộc đời anh vẫn chưa thật bi đát.

Chả biết duyên trời xe thế nào, hôm ấy anh vào khu Chùa Chiếu, đến nhà bác Thông như thường lệ để cắt tóc. Vô tình nhà có giỗ cụ cố, cả họ mời anh ngồi xuống dự bữa cơm với con cháu và họ mạc.

Nể quá, anh ngồi. Không ngờ anh lọt vào cặp mắt xanh của chị Vường.

Sau khi xưởng cưa của bố bị công hữu hóa, chị Vường được làm nhân viên kế toán của xưởng. Một thời gian tìm hiểu, chị chẳng nghĩ đến cái lý lịch bất hảo của anh và gia đình chị cũng không phản đối. Chị lên cơ quan xin giấy chứng nhận chưa có chồng để đi đăng ký kết hôn.

Cơ quan không cấp giấy. Chị và trưởng phòng tổ chức, thủ trưởng cơ quan đấu lý nhau.

Cuối cùng chị tuyên bố:

– Các ông có cấp giấy không thì bảo. Tôi gái chưa chồng, anh ta trai chưa vợ. Chúng tôi yêu nhau, không ai có quyền ngăn cấm. Bố tôi cấm cũng không được, huống chi các ông. Tôi sẽ kiện các ông vi phạm Luật Hôn Nhân và Gia đình 1958.

Được lắm con! Cho chúng mày đói rã họng ra xem có yêu nhau mãi không! Một túp lều tranh với hai trái tim vàng mà không có cuộn giấy bạc thì xem vuông tròn được mấy hôm!

Chị được cấp giấy và bị thải hồi sau khi anh chị làm bữa cơm thân mật ra mắt gia đình.

Con trai tay giám đốc yêu thầm nhớ vụng chị nhưng chị từ chối.

Anh vẫn theo nghề cắt tóc rong, chị đi bán rau ở chợ Cột Đèn. Nghèo nhưng anh chị rất hạnh phúc. Tôi rất quý trọng anh chị.

Một lần, sau bữa cơm rau đậu với gia đình, chị cười:

– Chú cẩn thận đấy, nhà trường mà biết chú quan hệ với anh chị thì chỉ còn cái nuớc bán sấu giầm, thuốc ê thôi.

Anh chị cấm tôi không được viết thư và anh chị cũng không viết thư cho tôi. Tôi biết anh chị cố gắng giữ gìn“trong sạch lý lịch” và “sinh mạng chính trị của tôi.”

Sau khi ra trường. Tôi công tác xa, ít khi có dịp gặp lại.

Năm 1968, tôi đưa bạn gái -vợ tôi sau này- đến thăm anh chị, nhưng anh chị đã dọn đi nơi khác.

Tên anh là Nguyễn Gia Hoàng và chị là chị Vường (tôi không biết họ). Nếu còn, anh chị đang bước sang ngoài tuổi 80.

Chuyên chính vô sản như thế đấy!

Ngoài ra Đảng và nhà nước tuyên truyền tuyệt đối đề cao cảnh giác, gây sự nghi ngờ, đố kỵ lẫn nhau trong cộng đồng, theo kế sách chia để trị.

Xin kể một chuyện có thật về tính đề cao cảnh giác, nhân vật chính là tôi.

Ra trường cầm quyết định của Bộ lên công tác tại tỉnh Hòa bình, tôi được ty phân công về bệnh viện tỉnh, nhưng chiến tranh leo thang, máy bay Mỹ hàng ngày bắn phá ác liệt thị xã, bệnh viện phải sơ tán vào rừng. Đang sống ở Hà Nội, nay chui ngay vào rừng sâu, đèn dầu nước suối, mở mắt núi cao trước mặt, xung quanh rừng xanh vắt muỗi, rắn rết, thú dữ. Chiều thứ Bảy của tuần thứ 2, buồn quá tôi theo xe bệnh viện ra thị xã cho khuây khỏa. Trên đường, tôi hỏi anh lái xe được biết ở thị xã chiều nào cũng có đổi tem gạo lấy bánh mỳ theo tỉ lệ 1 kg tem gạo đổi được 4 chiếc bánh mỳ 250 gr và phải trả 4 hào tiền công. Xuống xe ở trung tâm thị xã, trời xâm xẩm tối, tôi đi dọc theo đường quốc lộ 6 xuống ty lương thực, gặp một người đàn ông khoảng 45 tuổi, tôi lễ phép hỏi:

– Bác làm ơn cho tôi hỏi, chỗ đổi bánh mỳ ở đâu?

Người đàn ông này không trả lời, nhìn tôi từ đầu đến chân rồi lại từ chân lên đầu một cách rất chăm chú, buông ra một câu hỏi đầy nghi vấn:

– Anh ở đâu?

Hôm ấy tôi mặc bộ quần áo lính do thằng bạn cho, mũ cối mất chóp, chân di dép lê, trông thật khả nghi, trí thức chẳng ra trí thức, dân chẳng ra dân, lính chẳng ra lính. Thôi, thằng cha này nghi mình gián điệp nhẩy dù rồi. Được, cho tay này một bài học để chừa cái thói ai cũng là gián điệp. Tôi thủng thẳng:

– Tôi ở đây.

– Ở đây sao không biết chỗ?

– Ông này hay thật, không biết tôi mới hỏi, chứ biết tôi hỏi ông làm gì?

Nói xong tôi đi thẳng, đi được vài bước quay đầu lại, thấy ông ta đi theo. Được, đã thế cho mày chạy thi một mẻ. Tôi rảo bước như thể muốn lẩn trốn. Y lẵng nhẵng theo cách tôi khoảng 10 mét, rồi đột nhiên y rẽ vào một nhà ngay sát bên đường. Chỉ thoáng một lát có hai người đàn ông trong nhà theo ra đi rất nhanh về phía tôi. Thấy nhà ông trưởng ty y tế cách khoảng 30 mét, tôi quay đầu lại nhìn ba người như thể thách thức rồi cắm đầu chạy thục mạng. Họ chạy đuổi theo. Đến trước cửa nhà ông trưởng ty, tôi đứng lại lấy tư thế, rồi nói to:

– Cháu chào bác trưởng ty.

Ông đang ngồi uống nước và đang ghé sát tai vào chiếc đài Xionmao Trung Quốc ngay gian giữa, thấy tôi, ông ngửng lên, vẫy tay bảo:

– Cậu vào đây uống nước.

Tôi vừa ngồi xuống ghế, cả ba người kia cũng vừa chạy đến trước cửa. Vừa thở hổn hển vừa giương 6 cặp mắt đầy ngạc nhiên, vì không hiểu sao cái thằng giời đánh thánh vật kia lại chạy vào nhà ông trưởng ty y tế được! Trưởng ty tôi là người khá nổi tiếng, vì trước khi theo kháng chiến, ông mở trường tư thục nên cả thị xã ai cũng biết mặt biết tên. Thấy ba người vừa thở vừa chỉ chỉ chỏ chỏ, trưởng ty đi ra cửa hỏi:

– Có chuyện gì đấy các bác?

Người mà tôi gặp đầu tiên, lấy tay chỉ vào tôi ra ý hỏi.

Ông cười:

– Anh này chứ gì? Bác sĩ mới về nhận công tác đấy!

Ba người kia quay ra mắng nhau:

– Chỉ tại lão Minh khỉ gió này mới nên chuyện.

– Thì ai ngờ tay này nghịch thật.

Cả ba lủi thủi đi về. Là cựu hiệu trưởng, ông hiểu sự việc, đến gần rồi vỗ vào vai tôi, cười nhân hậu, bảo:

– Là cán bộ rồi đấy. Thôi trò quỷ sứ đi, anh bạn trẻ.”

Quản lí hộ khẩu đã củng cố địa vị độc tôn của chính quyền vô sản một cách có hiệu quả, chính vì thế dù ngày nay đã cởi mở, xóa bỏ thời kỳ ngăn sông cấm chợ, kinh tế tư bản đang phát triển, con người đã phần nào được cởi trói, nhưng nhà nước không bao giờ bỏ quản lí hộ khẩu cũng như không bao giờ bỏ điều 4 trong Hiến pháp.

Thời kỳ bao cấp thiếu thốn đủ thứ, kể cả giấy đi vệ sinh cũng tìm không ra, mua không có, chứ đừng nói những thứ cao siêu như sữa tắm, sữa gội đầu, các loại lotion dành cho phái đẹp bán đầy các cửa hàng, tung bao chiêu để dụ khách như bây giờ vẫn ế. Có nghĩa là có bất cứ cái gì dù second hand, third hand hay fourth hand… đều bán được hết. Cái thời có chiếc xe đạp cà tàng cũng phải lên đồn công an xin đăng kí, có chiếc đài thu thanh cũng phải lên ty sở bưu điện xin giấy mới được quyền sử dụng. Khi mở đài phải mở thật to để mọi người biết đang nghe gì, không phải vì khoe của, chớ có vì pin yếu, ghé sát tai vào đài mà nghe, chắc chắn được công an hỏi thăm liền. Nhẹ cảnh cáo, nặng tạm giam vài ngày và chiếc đài kia bị tịch thu. Nghe đài địch hả? Đài BBC phát thanh tiếng Việt tối phản động, nhất là tay Đỗ Văn giọng ngọt ngào, truyền cảm, ấm lắm, nhưng toàn phát những lời lẽ độc hại. Tôi có nghe trộm đài BBC từ năm 1960, đã lắm.

Hồi xưa, cộng sản Việt Nam ghét cay ghét đắng Đỗ Văn, thề tóm được sẽ trị cho ra bã! Không biết người ta đã tóm được bác chưa hay bây giờ đang trải thảm đỏ nồng nhiệt mời bác về mở vài” “cua” tiếng Anh cho con các cốp trước khi du học?

Thiếu thốn như thế đấy, ấy thế mà đồ đạc người Hoa bán ra bị chê ỉ chê eo, rất khó bán. Tìm hiểu, do kẻ xấu đồn thổi. Ai đồn thổi? Kế sách của Lê Duẩn? Chính quyền khu phố? Công an? Hay những người quá khích? Thực hư đến nay chưa có câu trả lời, nhưng những lời đồn ác độc này đã gây khốn đốn cho người Hoa rất nhiều trong thời kỳ ấy.

Lời đồn thổi nhanh như cơn lốc bay vào tai tất cả những người dân lao động Việt Nam từ thành phố đến tận các bản làng hẻo lánh, với nhiều lời ác ý và rất vô lý mà họ vẫn tin, như tin vào sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và chính phủ. Đồ đạc của của người Hoa rao bán được những kẻ xấu đồn thổi như sau:

– Chớ có mua, bọn Tàu thâm lắm, chúng bôi a-xít vào trước khi bán, mang về dùng chỉ có hỏng thôi, không những thế còn độc hại nữa! A-xít độc lắm đấy!

– Chớ có mua nhà của chúng, chúng chôn mìn ở dưới lòng nhà, mua vào có ngày nổ tung, chết cả nhà. Rẻ chả bõ, mạng người quý hơn chứ!

Căn nhà 2 tầng của gia đình bạn thân của ông chú tôi ở mặt đường rất tiện việc buôn bán ở Hàng Kênh, giá bét nhất cũng phải vài chục nghìn đồng. Tiền lương hồi ấy thấp lắm, bác sĩ, kỹ sư lương khởi điểm có 60 đ/tháng, ra trường làm việc 14-15 năm lương trong khoảng 70 đến 85 đ/tháng, thịt lợn mua chợ đen 20 đ/kg, gạo lên xuống bất thường nhưng cũng từ 22 đến 25 đ/10 kg. Ngôi nhà ấy có từ thời Pháp, ấy thế khi rao bán, bao nhiêu người đến xem ưng lắm, đồng ý mua với giá 10 ngàn (thuộc loại giá bèo), chả biết thế nào, hẹn đến chồng tiền nhưng 10 người hẹn thì đến 11 người đi mất hút.

Cuối cùng, sắp đến ngày thuyền nhổ neo, gia đình ông bạn chú tôi phải bán cho tay trưởng đồn công an khu phố ở sát vách với giá 1 ngàn 700 đồng! Thì ra tay cảnh sát này đe dọa tất cả, hễ ai đến mua nhà của ông Cảnh là đồng lõa, tiếp tay cho bọn phản động sẽ bị xử lí.

Đấy, chúng cướp không như thế đó!

Ngôi nhà này bây giờ có giá bèo nhất cũng phải 2000 đến 5000 Mỹ kim/ mét vuông chứ chẳng thấp hơn, trong khi đó diện tích không dưới 150 mét! Thảm chưa!

Như đã kể, sách tôi bán đắt hơn tôm tươi, hơn cả thịt bê mới thui, ấy thế mà mấy thứ đồ đạc như xe đạp, máy khâu, giường tủ bàn ghế, quạt điện, nồi niêu xoong chảo… rất khó bán.

Không biết sao, nhiều y bác sĩ trong bệnh viện biết chuyện tôi bán đồ bị ế, nên đã thì thầm với các cô y tá, hộ lí đang thiếu đồ đến nhà tôi để mua những thứ cần dùng. Thật may! Các anh chị đồng nghiệp đã ngầm cứu giúp tôi, mãi sau này tôi mới biết.

Thời buổi ấy, người ta không nhân tiện dậu đổ bìm leo, chó iả trèo là tốt lắm rồi, không những thế mà anh chị ấy còn giúp ngầm!

Nhân đây tôi xin thành thật cảm tạ tấm lòng nhân ái các anh chị đã dành cho gia đình tôi. Lãnh đạo Đảng và chính quyền bệnh viện mà biết cũng phiền! Vì thế so với nhiều người, tôi là diện may mắn lắm, tuy đồ đạc bán gần như cho làm kỉ niệm. Nghe tin về giá cả tiền đóng cho chủ thuyền, số tiền tôi có trong tay cũng hòm hòm để trả tiền thuyền cho cả nhà. Thế là chúng tôi đóng gói những gì có thể mang đi, số còn lại không bán được chuyển về quê vợ, gia đình tôi về Hải Phòng tìm thuyền đi Hong Kong như hàng ngàn người Hoa các tỉnh trên miền Bắc để đào tẩu!

Mời đọc tiếp: Chương [2]

Lâm Hoàng Mạnh
Nguồn: Tác giả gửi

Đã đóng bình luận.