Buồn vui đời thuyền nhân – Chương 3b: Hải-phòng, những ngày cuối

Posted: 05/03/2013 in Hồi Ký, Lâm Hoàng Mạnh

Lâm Hoàng Mạnh
Tặng mợ và các con.

Đã đăng: Chương [Lời nói đầu, 1a], [ 1b], [ 1c], [2], [3a], [3b]

bia_sach_bvdtn-lhm

Thuyền của tôi dài chừng 20 mét, trọng tải 25 tấn. Có buồm và có máy nổ 25 mã lực, thế mà kể cả gia đình tôi là 212 người lớn nhỏ! Đến Bắc Hải, sau 3 tuần sửa thuyền, lão chủ thuyền nhận thêm 22 người nữa với lý do lấy tiền trang trải và thuê tầu kéo. Tổng số thuyền tôi khi đến Hong Kong 234 người! Có nghĩa là nếu vì chuyện gì đó, tất cả mọi người ngồi trong khoang thuyền chỉ đủ chỗ ngồi bó gối!

Đêm 17-6, chẳng hiểu ví lý do gì, chủ thuyền bắt mọi người phải xuống khoang, không được lên boong. Tôi bị ép ngồi bó gối dưới hầm sát máy nổ, ngạt thở tưởng chết sau gần 2 tiếng đồng hồ.

Sáng hôm sau, lão tài cống mới lôi ra một cái cờ đen có hình đầu lâu xương chéo và những hình thù kỳ quái, định kéo lên cột buồm. Tôi hỏi:

– Các bác làm gì thế?

– Treo lên để làm tín hiệu, tầu thuyền nước ngoài trông thấy họ sẽ cứu.

– Nhưng các bác có biết cờ này là cờ của bọn cướp biển không? Treo lên, tầu thuyền nước ngoài tưởng thuyền mình là cướp biển họ không cứu mà còn bắn nữa là khác.

Tất cả đàn ông thuyền tôi tranh cãi hăng lắm, mãi sau họ cho ý kiến của tôi hợp lý. Hú vía, thuyền chạy tị nạn, tự nhiên treo cờ biến mình thành cướp biển! Lạ thật!

Không biết có phải công an Sở Ngoại kiều Hải phòng xúi mua cờ cướp biển để ăn đạn giữa biển Đông hay không? Phải có người xúi khôn xúi dại chủ thuyền mới bỏ tiền mua chứ! Đến nay tôi vẫn chưa hiểu lão chủ thuyền và lão tài cống nghĩ gì lại đi mua cờ cướp biển rồi định dán mác cho mình!

Thuyền đông như thế nhưng chưa kể gạo vài tấn, 7 thùng phi 250kg dầu ma-zút. Nước ngọt 3 thùng phi, nồi niêu xoong chảo của nhà bếp và đồ đạc của các gia dình cộng lại thì đã vượt trọng tải! Mặt nước lúc nào cũng xấp xỉ cách mạn thuyền khoảng 30 cm, sóng to một chút nước ào cả lên thuyền. Chỉ gia đình anh chị Sâm, chủ thuyền và họ hàng chủ thuyền có những xốp hình khối chữ nhật 20cm x 30cm buộc lại làm phao bảo hiểm. Như vậy gần 40 hộ gia đình chỉ có 4 gia đình có phao cứu hộ. Còn chúng tôi, nếu thuyền đắm hay vỡ sẽ được Đại Dương Thần Nữ đón về thủy cung liền! Chúng tôi đã đi biển bao giờ đâu mà biết mua phao cứu hộ, chẳng ai bảo, cũng chẳng nghĩ đến, cứ tưởng lên thuyền như lên xe đò, xe chết máy hành khách xuống, chờ nhà xe chữa xong đi tiếp. Đi biển, thuyền hỏng nhìn thấy tử thần đang vung lưỡi hái đứng ngay trước mặt!

Mới bẩy giờ sáng ngày 15-6-1979, mặt trời đã gay gắt, ba thuyền được xuất cảnh đã neo ngay bến Máy Chai, tất cả chúng tôi phải lên bờ chờ công an ngoại kiều của Hải phòng đọc lệnh. Gọi là bến Máy Chai không phải bến này bán chai mằ gần nơi đây có nhà máy sản xuất chai lọ từ thời Pháp thuộc, năm 1960 đổi tên, Nhà máy Thủy Tinh, nhưng người ta vẫn quen gọi Nhà Máy Chai. Cả bến có mấy cây bàng mới trồng, cao chưa đầy 2 thước, gần ngàn người đứng dưới gốc tránh nắng chờ công an.

bvdtn-hinh-8

Gần 8 giờ sáng, chiếc xa-lan đỗ xịch ngay trước bến, năm sĩ quan công an lấy bàn ghế đưa xuống sát bến. Một bàn kê sát ngay lối lên xuống dưới tán che của cây dù to, một chiếc ghế để giữa.

Năm sĩ quan công an ngoại kiều dưới sự chỉ huy của đạI úy Hùng làm thủ tục đọc lệnh trục xuất (cảnh) người Hoa, tống khứ ra biển Đông.

Thuyền chúng tôi là thuyền cuối.

Gần trưa, nắng như đổ lửa, từng hộ gia đình đọc theo danh sách. Đến lượt gia đình tôi nộp giấy xuất cảnh, hộ khẩu, sổ gạo, chứng minh thư, tem phiếu, thiếu úy Minh hỏi:

– Anh chị phải nộp hết giấy tờ nhà nước Việt nam kể cả giấy khai sinh trẻ em, bằng cấp anh chị có.

Tôi vặn lạI:

– Tại sao chúng tôi phải nộp bằng cấp và giấy khai sinh các con tôi?

Đại úy Hùng, người ngồi ghế dưới bóng dâm của tán dù, lên tiếng:

– Đây là quy định, tất cả giấy tờ chính phủ cấp thuộc tài sản quốc gia, chúng tôi phải thu hồi lại.

Anh chị Sâm đứng sau tôi nói nhỏ:

– Cần đéo gì mấy tờ giấy ấy, mạng còn chả thiết, thiết gì đám giấy lộn.

Vợ tôi móc trong túi xách tay lấy hết giấy tờ để lên mặt bàn, tên thiếu úy Minh xem từng giấy, vứt ngay vào chiếc nón đặt ngửa trên bàn, y như đám giấy lộn.

Thế là xong.

Lên thuyền, chúng tôi không có bất cứ giấy tờ tùy thân nào, như đàn gia súc không tên tuổi, không nghề nghiệp, không quê hương bị tống khứ ra biển khơi làm mồi cho cá mập. Tôi cõng thằng con út trên lưng, một tay cầm chiếc can 10 lít nước đun sôi từ đêm qua, một tay xách túi đồ ăn vừa mua ở bến cho bữa trưa, lội qua bùn bước chậm chạp, nặng nề lên chiếc cầu bằng ván lên thuyền. Hai đứa lớn cầm tay mẹ, ngơ ngác bước theo.

Đứng trên sạp thuyền, nhìn xuống bến, cảm giác nao nao buồn khó tả ập đến, từ giờ phút này, chúng tôi là người nước ngoài, không được phép đặt chân xuống mảnh đất Hải phòng thân thương này nữa, nơi tôi sinh ra, lớn lên, nơi mồ mà ông bà cha mẹ tôi vẫn nằm đây.

Thôi thế là hết, thế là xong. Vĩnh viễn xa Việt nam, xa tất cả những kỷ niệm buồn vui. Chúng tôi phải bỏ tất cả, phảI ra đi, đau đớn lắm. Nhìn xung quanh, nắng hè chang chang, gay gắt, không một cơn gió, tôi muốn ngửa mặt lên trời kêu lên:

Xanh kia thăm thẳm từng trên
Vì ai gây dựng cho nên nỗI này? 

bvdtn-hinh-9

Làm thủ tục xuất cảnh xong, gần 3 giờ chiều mới có con nước, ba thuyền chúng tôi rời bến Máy Chai do xà-lan công an ngoại kiều Hải Phòng kéo ra phao số Không, tống ra biển Đông.

Hơn 24 giờ lên lênh đênh trên vịnh Bắc Bộ, khoảng 6 giờ tối ngày 16-6-1979, chúng tôi đến phao số Không (Zero), họ cắt dây. Trước khi xà-lan quay mũi lái, tên đại úy Hùng vét hết những đồng tiền Việt trong hầu bao, chúc một câu xanh rờn:

– Chúc bà con lên đường ăn cá, đừng để cá ăn!”

Tất cả chúng tôi căm lắm, chửi thầm.

Đẩy người ta ra biển, sống chết cách nhau gang tấc, thế mà chúng nỡ mở mồm nói gở như vậy.

Sà-lan cảnh sát quay mũi rẽ sóng hướng về đất liền. Tất cả chúng tôi đứng trên sạp nhìn theo. Có lẽ ai cũng như ai, nỗi buồn sâu lắng tận đáy lòng hiện lên nét mặt từng người, tất cả buồn xé ruột, im lặng trong nắng chiều giữa biển khơi.

Tôi đứng trên sạp, vòng tay ôm lấy vợ và 3 đứa con rất lâu để an ủi vợ con hay an ủi chính mình. Tôi biết vợ tôi buồn, buồn lắm lắm, bởi từ giờ phút này, hy vọng được nhìn thấy cha mẹ già, các dì các cậu lần cuối cùng, thăm mảnh đất quê hương nghèo khó, nơi có mồ mả ông bà tổ tiên, nơi có bờ tre, ruộng lúa, con trâu của một thời thơ ấu gắn bó trước khi rời Việt nam chấm hết.

Ngày ấy, không ai dám hy vọng và nghĩ rằng sẽ có một ngày trở về Việt nam thăm quê hương, bởi vì từ tháng 4-1975, những người vượt biên đều bị chính phủ Việt nam lên án, chửi rủa rất tàn tệ bằng đủ những từ xấu xa, bẩn thỉu nhất. Họ gọi tất cả người Việt sống ở nước ngoài là bọn phản động lưu vong, lười biếng bám đít đế quốc, cặn bã của xã hội.

Giờ đây thuyền chúng tôi ra đi theo hướng của bọn lưu vong cực kỳ phản động, vậy ai dám hy vọng có ngày về, trừ khi chế độ ấy sụp đổ.

Trời bắt đầu chạng vạng, màn đêm ập xuống. Chủ thuyền, tài công không dám mạo hiểm ra khơi. Đêm ấy, ba thuyền thả neo gần đảo Ngọc nghỉ lại, sáng mai sẽ ra đi. Khoảng nửa đêm, chúng tôi đang ngủ, bỗng nhiên tiếng xuồng ca-nô từ đâu dội lại, sóng đánh vào mạn thuyền, thuyền tròng trành, chao đảo, tất cả bừng tỉnh, chưa hiểu đầu cua tai nheo, đã thấy 6-7 tên sï quan và lính biên phòng đảo Ngọc từ xuồng máy nhảy lên thuyền, một tay lăm lăm khẩu AK, một tay chiếc đèn pin soi vào mặt từng người chúng tôi với giọng nạt nộ:

– Điện khẩn chúng tôi vừa nhận được (?) có 3 thuyền vượt biên trái phép, tất cả phải ngồi im, chống cự sẽ bị bắn. Chúng tôi kiểm tra giấy tờ!

Làm gì còn giấy tờ tùy thân, lên thuyền tất cả là con số không: Không tên tuổI, không tổ quốc, không nghề nghiệp, chỉ là rác rưởi bị chính phủ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt nam quét ra biển. Bây giờ chúng tôi trở thành kẻ vượt biên bất hợp pháp. Trẻ con sợ hãi, co rúm, bám chặt, nép sát vào cha mẹ. Người lớn ngơ ngác, vừa sợ vừa căm phẫn, nhưng không biết làm gì hơn, đành ngồi yên. Ba tên công an vũ trang biên phòng đứng chặn mũi thuyền và buồng lái, 4 thằng còn lại xuống khoang, soi đèn pin vào mặt từng người, quát:

– Giấy tờ đâu?

– Ai là chủ thuyền?

Khoang thuyền chật ních, tất cả chúng tôi ngồi bó gối, ôm đàn con, ồn ào như ong vỡ tổ, trẻ con khóc thét lên, nhiều cụ già chắp tay cầu trời khấn phật phù hộ độ trì tai qua nạn khỏi.

– Công an ngoại kiều thu hết giấy tờ trước khi lên thuyền.

– Làm gì còn giấy tờ mà kiểm tra.

– Hỏi đại úy Hùng, ông ta là người thu giấy tờ.

– Chủ thuyền đâu?

– Dạ, tôi đây.

– Theo chúng tôi lên gặp ban chỉ huy.

Chủ thuyền, A Sùi-A Thụy- phải theo chúng lên đảo, “thương thuyết” gần một tiếng chúng mới chịu “ăn” 5 chỉ vàng mà chủ thuyền “nôn” ra để chúng tôi được “coi như có giấy tờ, vượt biên hợp pháp!”  Số vàng này, sau đó, nhà thuyền lại bổ vào đầu thuyền nhân.

Sáng sớm hôm sau, 17-6, mới gần 5 giờ, mặt trời đỏ như hòn than hồng từ từ nhô dần lên khỏi mặt biển, to tròn như cái nong. Phương đông hửng sáng, giát vàng trên nền trời. Vài dải mây trắng mỏng như lụa vắt ngang, báo hiệu một ngày đẹp trời. Khung cảnh thật đẹp, nhưng tâm trạng đâu mà ngắm bình minh trên biển.

Thuyền nhổ neo giã từ hải phận Việt Nam, bồi hồi khôn tả. Thế là hết. Vĩnh biệt! Vĩnh biệt những kỷ niệm vui buồn, vĩnh biệt mồ mả tổ tiên, vĩnh biệt những ngày xưa thân ái. Vĩnh biệt!

Ba thuyền, chỉ có thuyền tôi có buồm và có chiếc máy nổ 25 mã lực. Tiếng máy nổ bành bạch, đẩy nước, đưa thuyền tôi về phía trước chậm chạp như con ốc sên bò giữa biển khơi. Chậm còn hơn không, đến 2 giờ chiều, hai chiếc thuyền buồm rớt lại phía sau chỉ còn như một chấm nâu trên mặt biển. Tài công, một ông già ngườI Việt, ngoại 60, sâu rượu và khó tính, tất cả thuyền nịnh ông hơn nịnh bố già. Biết tính mạng hơn 200 con người trong tay, ông vòi vĩnh, chẳng ai dám trái ý.

Trưa ngày 18-6-1979, vợ con tôi cũng như nhiều phụ nữa và trẻ con khác say sóng, nôn mửa, nằm bệt dưới khoang, tôi đang loay hoay lau chùi dọn dẹp, lấy thuốc chống say cho vợ con, bỗng nhiên nghe tiếng loa phóng thanh oang oang:

– Không được vi phạm hải phận của chúng tôi.

Tất cả mọi người choàng tỉnh.

Tôi vội lên sạp thuyền xem sự thể ra sao.

Một tàu chiến hải quân Trung Quốc đang áp sát dần thuyền chúng tôi, trên boong tàu, thủy thủ Trung Quốc trong quân phục hải quân, lăm lăm tiểu liên, một dàn đại liên, đại bác chĩa nòng vào thuyền, một sĩ quan tay cầm loa phóng thanh nói bằng hai thứ tiếng Việt và Quảng rất rành rọt:

– Yêu cầu thuyền các ông không được xâm phạm hải phận chúng tôi. Phải rời ngay hải phận, không sẽ bị tiêu diệt.

Tôi không thể tin được tai mình.

Đây, đồng bào, đồng chí của tổ quốc Trung Hoa vĩ đại của chúng tôi ư? Mới ngày 15-6 khi chưa rời bến Máy Chai, chúng tôi vẫn được chính quyền Đặng Tiểu Bình trên Đài phát thanh Bắc Kinh khoác cho chiếc áo Hoa kiều yêu nước với biết bao mỹ từ tươi đẹp, kêu gọi hồi hương.

Giờ đây thuyền chúng tôi mới mấp mé hải phận “tổ quốc vĩ đại, thân yêu”, chính hải quân của Đặng Tiểu Bình đe dọa nổ súng, tiêu diệt nếu thuyền không rời xa lãnh hải. Hơn 200 người trên thuyền là người dân vô tội, đàn bà trẻ con, không tấc sắt trong tay.

Khi tàu hải quân Trung Quốc áp sát, chúng tôi già trẻ lớn bé hơn 200 người đứng lố nhố trên sàn thuyền, tất cả đăm đăm nhìn bọn họ. Những mũi súng máy của lính hải quân chĩa thẳng vào chúng tôi như sẵn sàng nhả đạn.

Trước khi ra đi, chúng tôi thường nghe BBC Việt ngữ, anh Đỗ Văn đưa tin, rất nhiều thuyền tỵ nạn gặp tàu nước ngoài đuợc cứu trợ, đưa đến nơi an toàn.

Không ngờ, thuyền chúng tôi gặp tàu hải quân Trung Quốc. Họ không cứu giúp lại tìm mọi cách đẩy chúng tôi ra xa hơn giữa trùng dương nguy hiểm.

Họ là ai? Họ chính là người Trung Quốc, là đồng bào, trong huyết quản họ và chúng tôi có chung dòng máu Trung Hoa. Sao họ tàn ác đến như vậy?

Họ là người hay loài mãnh thú?

Chủ thuyền bảo, “Chúng tôi, Hoa kiều Việt Nam tỵ nạn đi Hong Kong, vì thuyền mỏng, nhỏ bé, đông người, sợ đắm, chỉ xin được chạy sát bờ, chứ không dám xâm phạm đất liền.” Loa phóng thanh vẫn sa sả đuổi và đe dọa. Tài công đành phải lái thuyền xa bờ, sợ sóng tàu làm thuyền chìm. Tất cả chúng tôi căm lắm, chửi rủa chúng cùng bè lũ Đặng Tiểu Bình thậm tệ sau khi chúng đi xa.

Mùa mưa bão ờ Vịnh Bắc bộ bắt đầu từ tháng 5 đến hết tháng 10 dương lịch.

Chúng tôi vượt biển giữa tháng 6, đúng mùa giông bão, vì thế hầu hết các thuyền đều gặp bão. Nửa đêm ngày 19-6-1979, thuyền chúng tôi gặp cơn giông.

Gió rít, mưa xối xả, quất từng đợt áo ào như thác đổ lên thuyền. Những đợt sóng lớn đổ ập lên sàn, lòng thuyền đầy nước. Thuyền chao đảo, nghiêng ngả, trồi lên, ngụp xuống. Tôi cùng ba người thi nhau tát nước ngập dưới khoang. Mưa vẫn xối xả, gió vẫn lồng lộn, cột buồm kêu răng rắc như muốn gãy. Các cụ bà trong khoang thắp hương, đốt vàng mã, đốt tiền, thả gạo xuống mặt biển qua cửa sổ, cầu Trời khấn Phật phù hộ độ trì tai qua nạn khỏi. Tiếng trẻ con khóc thét, tiếng gọi nhau í ới, nước tràn xuống khoang, khói hương khói vàng mã của các bà các cụ tạo lên cảnh hỗn loạn xô bồ khủng khiếp trước giờ thuyền đắm. Tất cả các bà mẹ ôm chặt con trong vòng tay, họ đều nghĩ, nếu thuyền đắm, cùng chết chứ không xa nhau.

Thuyền vẫn chao đảo, nghiêng ngả, mũi thuyền chồm lên, chúi xuống như người say rượu vấp ngã trong cơn giông, đàn ông lên hết sạp thuyền ứng cứu.

Tiếng tài công hét trong gió bão:

– Chặt cột buồm mau.

– Rìu ở đâu? Tiếng ai đó thét lên.

Lại có tiếng thét trong gió bão:

– Chặt dây, hạ buồm trước.

– Dao ở đâu?

Chúng tôi hoảng loạn, thuyền sắp đắm, tưởng như vô vọng. Vừa lúc đó một thuyền đánh cá Trung Quốc ào tới, áp mạn thuyền, 2 người đàn ông lực lưỡng nhảy sang tay cầm dây chão bằng ni-lông giúp thuyền chúng tôi áp sát vào thuyền họ. Sau nhiều phút vật lộn, họ đã kéo thuyền chúng tôi thoát ra khỏi cơn giông. Kéo đến gần thị xã Bắc Hải, nhìn thấy ánh đèn biển mới cắt dây. Họ yêu cầu trả công 5 chiếc đồng hồ Liên-xô và 2 thùng phuy 200 lít dầu ma-dzút. Không có họ, chắc chúng tôi đêm ấy đã làm thần dân của Thần Nữ biển Nam Hải, đâu có ngày được tuyên thệ làm thần dân của Nữ Hoàng Elizabeth đệ Nhị tại London.

Thuyền chúng tôi đậu lại, tất cả ngủ vùi, sau một đêm hoảng loạn.

Sáng hôm sau, một chiếc ca-nô hải quân Trung Quốc chạy đến, hai sĩ quan lên làm việc với chủ thuyền. Họ đưa tập giấy, yêu cầu chúng tôi phải khai tên tuổi, nghề nghiệp, số người trong gia đình trên thuyền. Khai xong, họ kéo chúng tôi vào bến.

Bờ biển Bắc Hải đầy người và gần 10 thuyền người Việt đang neo đậu chờ sửa chữa nằm la liệt trên bến. Tôi gặp gia đình chị Thủy, quen từ hồi còn vật vạ ở bến Tam Bạc. Thuyền anh chị xuất cảnh trước chúng tôi cả tháng, tưởng đã đến Hong Kong, không ngờ gặp ở đây, ngay bến Bắc Hải này. Anh chị kể, thuyền cũng gặp cơn giông, được thuyền đánh cá kéo, cũng phải sửa thuyền, 2 tuần trước, xuất bến đi được 2 ngày, va phải đá ngầm, may không đắm, lại thuyền đánh cá kéo về bến. Vừa kể, chị vừa chắp tay như thể vái Trời Phật đã rủ lòng thương, cứu gia đình anh chị tai qua nạn khỏi.

Anh chị dắt chúng tôi về lán. Gọi là lán, thực ra là 4 mảnh vải mưa đem từ Việt Nam, kiếm mấy cái cọc cũ của người xuất bến bỏ lại, buộc túm quây 3 bên làm chỗ che mưa che nắng cho đàn con. Chiếc chiếu đôi trải ngay xuống nền đất làm giường. Anh chị nhường tôi một khoảng đất sát bên, làm lán. Chị bảo, dân đây cũng nghèo, bán bất cứ thứ gì họ cũng mua. Riêng gạo, thực phẩm bán tự do đầy chợ, mua bao nhiêu cũng được, khác Việt Nam ghê lắm. Bến Bắc Hải này đắt nhất là củi đun, tằn tiện ngày nấu 2 bữa cũng mất 50 xu (1 tệ =100 xu). Cuối bãi có xưởng cưa, xẻ gỗ đóng và sửa thuyền nhưng họ không cho dân tị nạn mình kiếm củi và lấy mùn cưa.

Chị ghé sát vào tai nhà tôi thì thào:

– Buổi trưa chúng nghỉ, mấy cháu nhà cô chú có thể lấy trộm mùn cưa và củi vụn được đấy. Mai thuyền anh chị xuất bến, bếp đun mùn cưa anh chị cho, khỏi phải tìm.

Tất cả thuyền chúng tôi đều là thuyền vận chuyển, thuyền đánh cá của các hợp tác xã thanh lý. Đồ thanh lý không đảm bảo an toàn hoạt động, họ đem bán cho chúng tôi. Các chủ thuyền tham rẻ, mua, làm phương tiện chở người vượt biển. Chính phủ và công an ngoại kiều Hải Phòng biết thuyền không an toàn, nhưng làm ngơ. Tính mạng hàng vạn người vượt biển không là gì với nhà nước CHXHCN Việt Nam. Chính vì thế, hầu hết thuyền ở miền Bắc chỉ sau vài ngày trên biển đều phải sửa chữa không thể tiếp tục cuộc hành trình.

Những ngày thuyền tôi sửa chữa ở bờ biển Bắc Hải cũng nhờ hai thằng con đỡ được khá tiền. Chủ thuyền chỉ phát gạo, một thứ gạo mọt mua từ Hải phòng, còn thực phẩm tự túc. Trước khi đi, tôi mua 10 kg lạp-xường dự trữ. Những ngày ở Bắc Hải, ăn nhiều lạp-xường đến nỗi hơn chục năm sau hễ ngửi thấy mùi lạp-xường là muốn ói.

Hơn 3 tuần nằm vật nằm vạ ở Bắc Hải, gia đình tôi bán nốt những gì còn sót lại. Dân Bắc Hải thời ấy cũng nghèo, cái gì họ cũng mua, từ đồng hồ, máy ảnh, kể cả quần áo cũ, chăn màn, giày dép… và họ cũng tìm cách mua với giá thật rẻ.

Thời bấy giờ, Đặng Tiểu Bình đã có những đường lối kinh tế đổi mới, mở cửa, nền kinh tế thị trường bắt đầu phát triển. Lương thực thực phẩm đã bán tự do bên cạnh các cửa hàng phân phối theo tem phiếu, nhiều mặt hàng mua chợ rẻ hơn mua cửa hàng mậu dịch rất nhiều. Riêng bến Bắc Hải này đắt nhất là củi. Đúng theo nghĩa “củi quế”. Nhà tôi, 5 mạng, chỉ tính tiền thức ăn thật tiết kiệm một ngày 1 Nhân dân tệ thì tiền củi phải 5 hào, có nghĩa là nàng nửa số tiền ăn. Bán nốt chiếc máy ảnh Zennit của Nga, đồng hồ đeo tay của vợ, màn tuyn, chiếc mũ cà tàng và chiếc va-li cùng chiếc áo len cho cậu Lý A Sinh, cái gì bán được đều bán sạch.

Cả nhà nằm bờ nằm bụi chờ sửa thuyền, ngày nào cũng đảo qua xem thuyền sửa đến đâu. Hơn hai tuần, thuyền vẫn chưa sửa xong, xem ra có khi hàng tháng, lâu nữa tiền đâu ra. Cuộc sống khốn khổ trăm bề.

Dân miền Bắc ai cũng biết bếp đun mùn cưa hay đun vỏ trấu, nhưng có thể bà con miền Trung hay miền Nam có thể chưa hiểu. Bếp đun mùn cưa hay vỏ trấu như sau:

Một hộp sắt tây tròn (hoặc đắp đất) đường kính tối thiểu cũng phải từ 18 đến 20 phân (cm) trở lên, một đầu còn nguyên đáy, đục khéo phần thân sát đáy 1 hình chữ nhật hay hình vuông để cho những thanh củi chẻ nhỏ làm mồi lửa. Lấy 1 vỏ chai để chính giữa, đổ mùn cưa hay vỏ trấu xung quanh, nén thật chặt, rút vỏ chai, khoét 1 lỗ ngay phần cửa của lon hộp. Đặt kiềng lên trên hay kê gạch sao cho cao hơn miệng hộp là thành chiếc bếp. Đây là cách làm thông thường của dân thị xã, thành phố miền Bắc khi cuộc sống thiếu đủ thứ trong một xã hội Xếp Hàng Cả Ngày – XHCN-.

Túng phải làm liều, khi xưởng nghỉ trưa, vợ tôi đưa mỗi đứa con cầm cái rá, xúc trộm mùn cưa, con chị đi kiếm xung quanh, nhặt vài miếng gỗ vụn rồi ù té chạy. Coi như một ngày không phải mua chất đốt, tiền ấy bù vào bữa cơm đạm bạc của đời tỵ nạn. Đứa lớn mới lên hơn 6 tuổi, đứa bé lên 4 đã phải hành nghề ăn trộm mùn cưa! Thật là đau đớn! Đến nay, ôn lại chuyện cũ các con tôi vẫn nhớ. Con chị bảo, có lần đang lò mò tìm củi, bị một bà túm áo, sợ quá, phát khóc. May có anh thanh niên nói gì với bà kia nên tha. Từ đó trước khi nghỉ, người thanh niên kia vẫy tay gọi 3 đứa con tôi lại, cho lấy 2 rá mùn cưa và dăm que gỗ vụn.

Bến Bắc Hải có lúc đông hơn ngàn người, nằm vật nằm vạ, mưa nắng bất kỳ nên nhiều người ốm. Ngay đầu bến, chính phủ địa phương lập trạm y tế. Sau thời gian ăn ở mất vệ sinh, vợ tôi bị mắc bệnh viêm gan siêu vi trùng. Trước khi rời Việt Nam, tôi chuẩn bị khá đầy đủ thuốc, từ kháng sinh, sinh tố, cảm cúm, thuốc chống say đếu có, kể cả ống nghe, dụng cụ tiêm chủng. Bệnh do siêu vi trùng không có thuốc đặc trị, chỉ cần nâng cao thể trạng ăn uống đầy đủ, sau 2 tuần bệnh sẽ thuyên giảm. Tưởng trạm y tế dựng lên để giúp đỡ dân tỵ nạn, tôi mang thuốc bổ và sinh tố đến nhờ họ tiêm, ai ngờ tiêm xong hai mũi, họ đòi 4 hào tiền công. Một chiếc bánh bao nhân thịt có 2 xu, giúi 2 mũi tiêm chưa đầy 2 phút, 4 hào, 20 cái bánh bao! Đắt quá! Ấy mới chỉ tiêm hộ, nếu cả thuốc nữa, có lẽ “nhổ cả răng” cũng không đủ tiền trả! Hai mươi chiếc bánh bao nhà tôi ăn sáng 4 ngày. Cạch, chẳng bao giờ đến trạm xá nữa!

Hơn ba tuần, thuyền tôi mới sửa xong.

Kỳ này lão chủ thuyền A Sùi –A Thụy- nhận thêm bảy gia đình nữa nại cớ lấy tiền trả công sửa chữa và thuê kéo đi Hong Kong. Thuyền đã chật, nay chật thêm, nhưng đành chịu, vì có tàu kéo, vừa an toàn vừa đi nhanh hơn, nên chúng tôi không phản đối. Cơn giông đêm 19-6 chúng tôi vẫn nhớ, sợ đến hôm nay.

Nhờ có tàu kéo, thuyền chúng tôi gặp 2 cơn bão lớn bán đảo Lôi Châu và Tam Quang mà không đắm. Đến gần Ma Cao, thuyền kéo cắt dây, chúng tôi không rẽ vào Ma Cao đi thẳng Hong Kong.

Nửa đêm 30-7-1979 nhìn thấy ánh đèn Nê-ông nhảy múa trên các tòa nhà cao tầng ở Hong Kong.

Chúng tôi đã sống, đã đến chân trời tự do.

Mời đọc tiếp: Chương [4]

Lâm Hoàng Mạnh
Nguồn: Tác giả gửi

Đã đóng bình luận.