Nhà Mai Lĩnh ở quê hương Xuân Mai, Kim Anh, Phúc Yên

Posted: 07/03/2013 in Truyện Ngắn, Đỗ Ngọc

Đỗ Ngọc

dau_to_cai_cach_ruong_dat

Làng Xuân Mai, quê hương nhà Mai Lĩnh, nằm theo Quốc lộ số 2 đi từ Hà Nội đến Lào Cai, Bắc có núi Thọ Sinh, dân địa phương gọi là núi Thằn Lằn xa trông như con rắn thằn lằn bò xuống uống nước sông Đại Lải.

Năm 1959 dãy núi Thằn Lằn được dùng làm con đập khổng lồ, xây dựng hồ Đại Lải chứa nước tưới cho cánh đồng huyện Kim Anh. Ngày nay, hồ Đại Lải còn là nơi du lịch, nghỉ mát của nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc và Hà Nội. Xa hơn nữa là dãy núi Tam Đảo cũng là môt nơi nghỉ mát, an dưỡng có tiếng. Phía Đông là con sông Cà Lồ, uốn quanh gấp khúc. Đoạn sông này chưa đầy một cây số mà phải ba lần uốn khúc, bên lở bên bồi… Phía Nam có núi Nghĩa Lĩnh, còn gọi là núi Thanh Tước. Phía Tây là thị xã Phúc Yên, cách làng Xuân Mai chừng 2 cây số.

Những năm đầu thế kỷ 20, khách đi từ Hà Nội theo quốc lộ 2, qua cầu Xây, đến cột cây số 41, nhìn về bên trái bên bờ đê, cách đường chừng trăm mét thấy môt cái cổng xây rất to, có hai chữ Mai Lĩnh màu đỏ, đấy là cổng tiền của nhà Mai Lĩnh, còn cổng hậu đi về phía trong làng.

Nhà Mai Lĩnh ở làng Xuân Mai đang hình thành như một thứ trang tri. Chủ nhân là cụ Đỗ Văn Phong thuộc dòng họ Đỗ Phúc Lương ở làng Xuân Mai, huyện Kim Anh, tỉnh Phúc Yên. Cụ Đỗ Văn Phong và cụ bà Lê Thị Nhu sinh được bảy người con trai thì sáu người đi gây dựng cơ sở kinh doanh ở khắp nơi trong nước từ Hà Nội đến Sài Gòn, còn người con thứ tư là Đỗ Như Phượng được gia đình giao cho trọng trách ở lại quê hương đại diện cho Nhà Mai Lĩnh trước xóm làng, trông nom mẹ già, quản lý nhà cửa ở quê, nơi hội tụ các con cháu của Đại gia đình Mai Lĩnh trong những ngày Giỗ, Tết hằng năm.

Ông Đỗ Như Phượng, bà Ngô Thị Tôn và bà Ngô Thị Oanh sinh được một con trai là Đỗ Như Lân.

Ông Phượng xứng đáng là người đại diện cho nhà Mai Lĩnh ở Xuân Mai. ông không làm chức vụ gì trong làng, hiền từ, ít nói, nhân hậu và đô lượng, ông lại là con thứ tư cho nên làng xóm thường gọi ông môt cách trìu mến là ông Tư Lân. Tôi cũng gọi ông theo làng xóm là ông Tư Lân. ông bảo ban anh em con cháu trong họ như anh em con cháu mình sinh ra.

Công việc đầu tiên của ông là tổ chức sản xuất nông nghiêp. Số đất ruộng vườn trong trang trại chừng 4 mẫu Bắc Bộ. Đầu những năm 50, số nhân khẩu từ 6 đến 8 nhân khẩu, có 5 lao động chính; thực sự làm việc có 4 người còn bà Tư Lân thường ở bên làng Trung Na vì ở đó cũng còn môt dinh cơ nữa.

Trang trại được trồng tre xung quanh và có hào sâu để phân cách lũy tre với ruộng vườn. Từ nhà ra cổng chính có đắp môt con đường ô tô ra vào thuận tiên. Hai bên đường trồng nhãn. Trên vườn có trồng cây ăn quả như nhãn, soài, khế, sấu… từ cổng chính ra đường quốc lộ có trồng những cây bông gòn cao vút, bóng toả ngày hè lấy chỗ nghỉ ngơi, tránh nắng. Cây bông đã trở thành địa danh, nhân dân trong vùng gọi là “gốc bông nhà Mai Lĩnh”, nơi hẹn hò của các cô gái, chàng trai, nơi hóng mát của cụ già, em nhỏ.

Mùa màng thu hoach hằng năm, cùng với tiền bạc của 6 anh em ở các nơi gửi về, nhà cửa trong trang trại đã dần dần được nâng cấp: nhà thờ tổ tiên, nhà kho sân phơi, nhà gác cùng các công trình phụ ngày càng hoàn chỉnh.

Trong khu trại có môt phần đất của Cụ Chánh (anh ruột cụ Phong), cụ không có con trai, nhà Mai Lĩnh được sự phân công của Họ, có trách nhiêm cúng giỗ. Khu đất này đầu tiên được xây dựng một trường học do nhà Mai Lĩnh đứng ra mời thầy giáo đến dạy cho con em trong làng. Nhờ ngôi trường ấy nhiều con em trong làng được học hết bậc sơ học, ít nhất là thoát nạn mù chữ. Về sau trên mảnh đất này được dựng nên “Nhà thờ Cụ Chánh”. Trong hậu cung là nơi thờ cúng hai Cụ, phía ngoài là 5 gian nhà lớn, nơi sum họp con cháu những ngày Gĩô, Tết. Tiếp đến là vườn cây ăn quả, bên trái là dãy nhà 10 gian gồm các công trình phụ, nhà chế biến thóc gạo buồng ngủ của các bà, các chị…

Một toà nhà 5 gian dựng trên đất nhà Mai Lĩnh. 3 gian chính giữa là nhà thờ của nhà Mai Lĩnh; hai bên buồng thì một bên là buồng ngủ, một bên là phòng khách cũng dùng làm phòng ăn. Cách một cái sân con là nhà bếp và nơi chế biến thức ăn. Mặt trước toà nhà 5 gian là một cái sân to, bên trái là nhà gác 2 tầng, hướng Đông-Nam, tầng trệt làm phòng khách, trên gác là chỗ ngủ và học hành cho con cháu; bên phải là dãy nhà 1 tầng, hướng Tây-Bắc, dùng làm kho thóc và nơi chứa nông sản mới thu hoạch, tiếp đến là cổng ra đường làng. Trước sân là ao sâu thả cá ngăn cách với ruộng đồng trong trại, bên bờ có trồng khế, muỗm, dừa…

Khoảng những năm 39-45, đất nước ta còn là thuộc địa của Pháp, làng ta còn nghèo, người dân cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc nhiều người trong họ, trong làng đến nhờ ông Tư giúp đỡ, cũng có người đến xin làm con nuôi ông cho khỏi bị chết đói như anh Hùy, anh Thủy, anh Khơi, cháu Nha, cháu Sáp, cháu Son, chị Lẹm… đều được ông Tư nuôi, tìm công ăn việc làm; khi các cháu lớn lên được ông dựng vợ gả chồng cho, xây dựng gia đình riêng hạnh phúc, công ơn ấy đến nay vẫn còn nhiều người cao tuổi cảm phục nhớ mãi. Anh Giảng, anh Đường, anh Yêm…đều đã trưởng thành, gia đình hạnh phúc.

Một trung tâm nhà Mai Lĩnh đang làm ăn phát đạt ở quê hương Xuân Mai, thế rồi năm tháng trôi qua, cách mang tháng Tám năm 1945 thành công, nước ta đã giành lại được độc lập nhưng thiên tai lại ập đến, nạn đói ở châu thổ sông Hồng, đê sông Hồng bị vỡ, ngập nước 3 tỉnh, lúa mầu làng Xuân Mai bị mất trắng, dân làng đói khổ; ông Tư mở kho thóc nhà mình ra phát chẩn cứu đói cho dân. Ông còn mua một số thuốc chữa bệnh thông thường, dưới sự hướng dẫn của người cháu của ông, để cấp cho bà con xóm làng; nhiều người được ông cho thuốc khỏi bệnh vẫn nhớ mãi đến bây giờ. Cuối năm 1946, cuộc chiến tranh Việt Pháp nổ ra, toàn dân đánh giặc, trang trại Mai Lĩnh trở thành cơ sở ép dầu, cất tinh dầu giun, thu mua rượu cồn, vận chuyển thuốc men lên chiến khu Việt Bắc: Thái Nguyên, theo đường thủy ngược sông Hồng, sông Lô lên Tuyên Quang. Cơ sở chế biến nguyên liệu dược phẩm hoạt động từ năm 1947 đến năm 1949 thì quân Pháp từ Hà Nội đánh chiếm Phúc Yên, Vĩnh Yên lập nên tỉnh Vĩnh Phúc. Nhà Mai Lĩnh bị đốt phá tan hoang. Làng Xuân Mai trở thành làng tề…

Cuôc kháng chiến 9 năm kết thúc thắng lợi, nước Viêt Nam bị tạm thời chia cắt làm 2 miền có chế độ chính trị khác nhau, anh em nhà Mai Lĩnh cũng chia 2 ngả: kẻ Bắc người Nam !

Các thành phố, làng mạc ở miên Bắc dần dần được giải phóng, từ tháng 7-1954 đến tháng 11-1954 dân làng Xuân Mai đón mừng chính sách Giảm tô Cải cách ruộng đất (GTCCRĐ). Khi được học tập chính sách GTCCRĐ, nhân dân hiểu ra rằng mục tiêu của cách mạng là đánh đổ chế độ phong kiến vua chúa, địa chủ cường hào. Ở nông thôn có các thành phần sau:

Các thành phần được ưu tiên chiếu cố gọi tắt là nông dân gồm:

– Cố nông là những người nghèo không có ruộng đất,
– Bần nông là người nghèo có ít ruộng đất,
– Trung nông là những người có đủ ruộng đất làm ăn.

Các thành phần có tội với nông dân là:

– Địa chủ cường hào là những người có thế lực trong chế đô cũ, hà hiếp, bóc lột sức lao động của nông dân,
– Địa chủ giầu có là những người có ruộng đất phát canh thu tô,
– Địa chủ kháng chiến là những người giầu, có ruộng đất nhưng lại đi theo và phục vụ cho cách mạng giải phóng dân tộc,
– Phú nông là những người có nhiều ruộng đất, tự mình không làm hết phải thuê mướn người làm.

Bốn thành phần này, theo lý thuyết, tùy theo tội nặng nhẹ mà bị xử án từ tử hình, chung thân, tù giam có thời hạn đến án treo, cải tạo tai chỗ. Tài sản, nhà cửa, ruộng đất cũng tùy theo tội nặng nhẹ mà tịch thu, trưng thu, trưng mua để chia cho nông dân. Nói tóm lại là “tịch thu của nhà giầu chia cho người nghèo”. Chính sách GTCCRĐ hợp với lòng dân được toàn dân nô nức hưởng ứng. Nhưng khi thực hiện, những người thừa hành đã làm sai lệch; có nơi, có chỗ sai lầm nghiêm trọng. Đến nỗi ở Xuân Mai quê tôi, bần cố nông là thành phần ưu tiên mà đến 80 phần trăm cũng phải run sợ. Trong dân gian truyền tụng câu ca “nhất đội, nhì giời” (đội công tác phát động quần chúng). Ban ngày đi làm đồng, tối tối nem nép đi học tâp, vắt óc tìm tội của địa chủ.

Thế là nhà Mai Lĩnh, đai diện là ông Tư Lân chỉ được hưởng hoà bình có 3 tháng trời, anh em kẻ Bắc người Nam, nay lai phải tội “địa chủ cường hào gian ác”. Ôi cái oan trái, cay đắng của ông Tư Lân bây giờ đem ra mà cân đong đo đếm làm sao cho hết được !

Ông Tư là môt người dân lương thiện, không một lần tham gia chính quyền cũ, ăn ở rất tốt với dân làng nay bi quy tội là địa chủ bóc lột, có tội ác với dân thât là khủng khiếp. ông bị người ta bắt trói tay, cùm chân, đóng “hàm thiếc” rồi nhốt vào xó tối ! Từ thủơ bé đến giờ tôi cũng không biết cái cùm nó như thế nào, đóng hàm thiếc ra làm sao. Tính tò mò khiến tôi phải hỏi và được giải thích là: cùm làm bằng 2 khúc tre dài khoảng 50 phân, mỗi bên đục môt bán nguyệt, khớp với cổ chân; môt đầu khúc tre làm như cái bản lề, cho chân người tù vào, xập khúc tre xuống, đầu kia có chốt sắt để khoá lại. Thế là người ta bắt ông Tư Lân ngồi duỗi thẳng, đưa hai cổ chân vào 2 lỗ tròn của cùm xong dập cùm xuống rồi đóng khoá. Như vậy là không đi, không đứng được. Hai tay bị trói bằng dây thừng, quặt về sau lưng. Còn đóng hàm thiếc là thế nào ? Người ta lấy môt khúc tre, bắt tù nhân há mồm ra, răng cắn vào khúc tre rồi buộc dây vào 2 đầu khúc tre, kéo ra sau gáy buôc chặt lại khiến cho không thể cắn lưỡi tự vẫn ! Tôi vừa nghe vừa hình dung ông Tư Lân bị cùm chân, trói tay, mồm đóng hàm thiếc mà người tôi nó rờn rợn từ gáy xuống tận bàn chân. Cô Sửu, cháu ông Tư mang cơm cho ông hàng ngày, bữa nào mang đến cổng người ta bắt cô phải ăn mỗi thứ một miếng rồi mới mang vào cho ông ăn, sợ cơm và thức ăn có thuốc độc chết mất thì không nhục hình ông được. Chưa hết, mỗi lần ông đi đại tiểu tiện thì người ta mở cùm chân cho đi, còn tay thì vẫn trói dòng cái dây thừng dài để kéo hoặc giữ như trâu bò. Thời gian nhục hình ông Tư như thế chừng 3 tháng. Chúng ta thử hình dung sự chịu đựng của con người ghê gớm chừng nào? Gía mà người có tội đã đành, đây lại là môt người bị oan, tôi không biết chọn ngôn từ nào để nói được.

Cổ xưa có câu “nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoai”, nhưng đây lại là người chưa phải tù mà đã chịu cực hình gấp nghìn lần người đã thành án !

Sau 3 tháng hỏi cung luận tội ông Tư, cũng là phần kết của cuộc vận động “long trời lở đất”, đầu mùa Xuân năm 1955 người ta mở phiên toà lưu động công khai ở sân chùa làng Xuân Phương. Dự phiên toà có đông đảo nhân dân toàn xã và thị xã Phúc Yên. Các nhân chứng, với lý luận sắc bén, chuẩn bị công phu, vach trần những tội ác của anh, em, con cháu, người quen, ban bè của ông Tư Lân đã gây ra, đứng lên buôc tội ông. Tiếng hô đả đảo sự ngoan cố khi ông không nhận những tội của người khác đã làm mà ông không biết hoặc cho là bịa đặt, vang lên nhiều lần. Sau phần nghị án, toà kết án ông 15 năm tù giam, tịch thu toàn bộ tài sản và đuổi gia đình ông ra nhà môt cố nông ở rìa làng, bên cạnh một khoảng đất trống sau này hợp tác xã xây dựng thành nhà chứa phân bón ! Đánh dấu chấm hết cho chế độ phong kiến, nửa thuộc địa suy tàn ở làng quê Xuân Mai.

Thời kỳ đầu ông Tư Lân được giam giữ ở Nôi Phật, sau chuyển lên Thái Nguyên. Một ông già bị kìm kẹp, nhục hình liên tục 3 tháng, khô kiệt sức sống lê bước chân lên trại giam với bao mối lo toan: gia đình ở lại sẽ sống ra sao? Anh em con cháu sẽ làm gì để vượt qua nỗi gian nan trước mắt ? Ông có nghĩ rằng 30 năm trước đấy, cha đẻ của ông, tù chung thân, đã lê bước chân đi đầy biệt xứ ở Guyane vì tham gia Đông Kinh Nghĩa Thục, anh ruột của ông (ông Ba: Đỗ Văn Kỳ), mười năm “khổ sai” ở nhà tù Sơn La vì tội “chống lại chính phủ thuộc địa Pháp “, các cháu của ông có người đã hy sinh, có người vẫn 9 năm trời kiên trì theo cụ Hồ đi kháng chiến ?

Tinh thần bị ức chế, thể xác bị suy kiệt, ông lâm bệnh và tháng 9 năm 1955 ông từ trần trong nhà tù tỉnh Thái Nguyên.

Đến bấy giờ nhà Mai Lĩnh ở Xuân Mai còn lại bà Ba già, bà Ba trẻ, bà Tư Lân và cô Sửu, con út của bà Ba. Môt thiếu nữ với 3 bà già, tất cả là 4 nhân khẩu của hộ Mai Lĩnh được cho ra ở rìa làng và 2 sào ruộng để canh tác ở Xứ Đồng Thù. Môt cánh đồng “chiêm khê mùa thối”, “đỉa ho cò gáy” ở ven đầm nước. Bà Ba trẻ đi nhận ruộng, mới bẳn quần bước chân xuống bị môt đàn đỉa bám lấy chân, bà vội chay lên trượt chân, ngã chẹo đầu gối, cắn răng tập tễnh về nhà. Bà ngửa mặt lên trời kêu: “Ôi trời đất ơi ! Tôi biết đi đâu, về đâu để mà sống bây giờ ! Bây giờ tôi mới hiểu thế nào là “Đồng Thù” !….

Ba bà già phải bàn cách làm ăn sinh sống để tồn tại : môt là đi ăn xin, hai là đi mót những bắp ngô kẹ, củ khoai con người ta bỏ cho chó, cho lợn, cho gà ăn, còn sót lại ngoài đồng đem về nấu ăn cho qua ngày. Đi ăn xin thì không thể làm, hơn nữa xin ai và ai dám cho, chỉ còn cách thứ hai là đi mót.

Nhiều người làng vẫn nhớ ơn xưa, thương tình muốn cho nhưng không dám vì sợ “liên quan với địa chủ” đành giả vờ để sót cả vầng khoai, cả bắp ngô to rồi ngầm ra hiệu đến lấy. Nhưng khi về qua cổng làng lại bị dân quân bắt, khép vào tội ăn cắp, ăn trộm tịch thu hết ! Trói lại, giam cho đến tối. Cô Sửu không thấy mẹ về đi tìm mới biết sự tình, đành gạt nước mắt đón các mẹ. Đi mót không được, cô Sửu bàn với mẹ hôm sau theo người làng đi hái củi. Viêc kiếm củi đâu có dễ. Từ nhà đến rừng gần 15 cây số, phải ra đi từ sớm tinh mơ. Củi cô lấy được cái to, cái bé, cành ngắn, cành dài, cành tươi, cành khô. Có củi rồi, viêc bó lại để đem về nhà lại là cái khó nhất. Mỗi bên phải bó bằng 2 sợi dây: sợi trên phải bó bằng chiều cao của người gánh mới đi được. Vì mới là lần đầu nên cô bó bên cao bên thấp, khi xiên đòn gánh vào, bên thấp nó quay ngang, bên cao nó quết đất, vừa đi vừa kéo, gánh củi lạc lè trên vai ! Đến chiều, bà Trẻ đi đón, gặp cô bà oà lên khóc vì thương con vất vả, hai mẹ con thay nhau gánh, tối mịt mới về đến nhà… Những thành viên nhà Mai Lĩnh ở Xuân Mai kéo dài những ngày sống cơ cực bằng đi củi, đi mót, làm hàng xáo khoảng 3 năm đằng đẵng. Nhà Mai Lĩnh coi như bị xoá sổ ở làng Xuân Mai.

Đến năm 1957, nhà nước có chính sách sửa chữa những sai lầm trong Cải cách ruộng đất. Đối chiếu với chính sách, nhà Mai Lĩnh mà đại diện là ông Tư Lân ở Xuân Mai, môt gia đình có truyên thống yêu nước, nhiều người tham gia kháng chiến, ít nhất là Địa chủ kháng chiến nếu không là một Gia đình cách mạng vì có nhiều người cống hiến cả cuộc đời mình cho giải phóng dân tộc trong khi bao người còn ngoi ngóp trong vũng bùn nô lệ. Ở địa phương lúc ấy nhà Mai Lĩnh chỉ có 4 người phụ nữ bị vùi dâp, họ như “con chim phải tên”, ai dám đứng ra xin minh oan ?! Như thế là cái “ách địa chủ” vẫn quàng lên nhà Mai Lĩnh, ba bà già và cô con gái vẫn phải lội ngược dòng đời thác lũ, bươn chải làm ăn để tồn tại. Có chính sách sửa sai, con cháu nhà Mai Lĩnh mới được thăm hỏi nhau, anh Đỗ Như Lân đang học ở Hà Nôi mới dám về thăm nhà; những năm gia đình anh bị quy là địa chủ, anh vẫn phải trốn tránh ở Hà Nội vừa đi làm kiếm sống, vừa đi học…

Sau khi tốt nghiệp Đai Học Bách Khoa Hà Nội, giữ lại làm cán bộ giảng dạy, năm 1961, anh Lân đã làm đơn xin sửa lại thành phần cho gia đình và đã được chấp nhận là thành phần trung nông theo quyết định của ủy ban tỉnh. Việc làm này thực ra chỉ có tính chất thủ tục vì không sửa lại thành phần thì gia đình anh đã là nông dân từ lâu rồi, ruộng vườn chẳng còn gì ngoài số ruộng được chia, nhà thì vẫn ở nơi “được” đuổi ra và đã được làm lại do chính sức lao động của các bà, ông Tư Lân sau khi cải táng đã được đem về nghĩa trang Xuân Mai, yên nghỉ ngàn thu bên mẹ và các anh, chị em con cháu họ hàng gần xa.

Năm 1996, một sự ngẫu nhiên hay hồn thiêng khí phách của các cụ tổ tiên đã sui khiến các con cháu nhà Mai Lĩnh mua lại được căn nhà của một nông dân được chia trong Cải Cách Ruộng Đất, trên nền nhà gác cũ của nhà Mai Lĩnh năm xưa để xây dựng nên Nhà Từ Đường Mai Lĩnh ở quê hương Xuân Mai. Ngôi Từ Đường được sửa chữa khang trang để thờ cúng tổ tiên, cho các con cháu ở trong nước cũng như nước ngoài về chiêm ngưỡng hằng năm. Nó khẳng định sự tồn tại của nhà Mai Lĩnh, nó còn là một công trình văn hoá để lại cho muôn đời con cháu mai sau, cho họ hàng, làng xóm xa gần.

Hồi tưởng lại chỉ còn ít tháng nữa là hết thế kỷ 20, tôi vội vàng ngồi viết một mạch hồi ức này, không tô hồng cũng không bẻ cong ngòi bút, chỉ nói lên được một phần trong trăm nghìn việc muốn nói, về nhà Mai Lĩnh ở Xuân Mai, để nhớ lại quá khứ và nhìn về tương lai, xem thời thế con tạo xoay vần ra sao.

Chiều hôm ấy, một ngày cuối đông, tôi còn đi ngắm lại trang trại Mai Lĩnh cũ rồi Ngôi Từ Đường Mai Lĩnh mới mà cũ, từ phía Tây lên phía Bắc sang phía Đông, lại bắt gặp con sông Cà Lô, bốn mùa dòng nước mải miết chảy về xuôi, tôi vô tình nhìn theo dòng sông “một đoạn sông chưa đầy cây số mà ba lần uốn khúc”, mặt sông khói sóng, gợi buồn cho ai.

Đỗ Ngọc
Nguồn: Nguyễn Khôi giới thiệu và chuyển bài

Đã đóng bình luận.