Buồn vui đời thuyền nhân – Chương 13: Kỷ niệm ở rừng

Posted: 09/04/2013 in Hồi Ký, Lâm Hoàng Mạnh

Lâm Hoàng Mạnh
Tặng mợ và các con.

Đã đăng: Chương [Lời nói đầu, 1a], [ 1b], [ 1c], [2], [3a], [3b], [4], [5], [6], [7], [8], [9], [10], [11], [12], [13]

bia_sach_bvdtn-lhm

Một sáng Chủ Nhật chúng tôi đi chợ trời Bathgate, rẽ vào thăm vợ chồng Sinh. Gặp vợ chồng Phú -chị gái và anh rể Sinh đến chơi. Chúng tôi biết nhau từ dạo ở Wishaw. Sau vài câu chào hỏi xã giao, anh chị khoe sắp chuyển về London.

Tôi chưa hiểu mô tê gì, bởi vì gia đình anh được định cư ngay Wishaw. Không những thế còn sát trung tâm. Vợ anh làm thợ may một xưởng gần nhà. Thật lý tưởng, chúng tôi mơ cũng chẳng được. Sao lại chuyển?

Anh Phú bảo “Rất nhiều gia đình đã chuyển về London, chỉ có các anh không biết.” Tôi hỏi “Về London nhà đâu mà ở.”- “Xì, đúng là ngố. Vào hostel, sau đó xin nhà council hay đập nhà.” – “Lại còn thế nữa. Đập nhà?” – “Ừ, đập nhà chứ sao. Cứ chọn nhà nào của council, không có người ở, đập cửa kính, chui vào, mở cửa trước dọn tất cả đồ đạc. Thế là xong.”

Nghe Phú nói sao dễ vậy. Tôi hỏi:

– Không bị truy tố à?

– Có. Ra tòa bị phạt 25 bảng, rồi nhà nước cho ở luôn.

– Thật không?

– Sao không thật, dối làm gì. Tụi tôi đang rủ vợ chồng Sinh đây. Có muốn chuyển không?

– Anh chị nói như chuyện đùa, làm sao vào được hostel.

– London có vài chục hostel đang ế khách, người đi trước giúp người đi sau, chỉ cần báo trước một tuần nó chuẩn bị ngay. Hostel này chật, nó giới thiệu sang cái khác. Thiếu giống gì.

Vợ chồng S. cười “Chúng mình ở đây chả biết mô tê gì. Gia đình Hùng, gia đình Đức, gia đình Liên ở Trại Thỏ chạy về tháng trước rồi. Có thư gửi đây.”

Phú đưa tôi xem. Chịu không hiểu trời trăng, mô tê gì.

Anh chị Phú đưa cho xem giấy buồng thuê hostel, gồm 7 giường đơn vì gia đình bẩy người, bố mẹ già, 3 con nhỏ, tiền thuê 150 bảng/tuần. “Tiền ai trả?”- “Đã bảo Sở Xã hội trả mà.” –“Sao mỗi người một giường?”- “Ô hay, nhà trọ mỗi người một giường, có phải khách sạn đâu.”

Tôi vẫn chưa hiểu, hỏi thêm:

– Thế giường chiếu, tủ lạnh, máy giặt, bếp… của mình để đâu?

–  Có kho để tạm, khi nào ra nhà riêng chuyển đi.

– Không nấu nướng gì?

–  Làm gì có bếp. Mua thức ăn bán sẵn, rẻ mà. Cố chịu một thời gian, có nhà riêng tính sau. Các ông đúng là dân Mán, dân “Cơm đồ nhà gác…” chả hiểu gì hết.

Tất cả những gì anh chị Phú cho biết ngoài sức tưởng tượng của tôi. Tôi Mán Mường thật. Mán là phải. Tôi đã từng ở trong làng bản với người dân tộc địa phương Hoà Bình khá lâu.

Hai lần sơ tán, gần 5 năm trong núi cao rừng thẳm, làm sao mà chẳng Mường, Mán, nơi mà dân gian có câu: “Cơm đồ, nhà gác, nước vác, lợn thui, ngày lui, tháng tới”.

Phong tục tập quán của người Mường như thế nào, xin kể sơ qua.

Sau khi nộp hồ sơ và từ chối “thiện tình của đồng chí phó bí thư Đảng ủy”, tôi được cô nhân viên trong phòng tổ chức hành chính đưa đến tá túc một gia đình người dân địa phương trong thời gian chờ bệnh viện làm xong lán trại.

Đó là căn nhà sàn của người Mường, khá rộng, lẩn trong bìa rừng. Ngày họ đi sơ tán vào rừng sâu, dựng lều ở tạm, gọi là “Truộn”, lặn mặt trời mới về. Thời bấy giờ miền xuôi còn nghèo huống chi cuộc sống của người nông dân miền núi vùng sâu vùng xa.

 Dân ở đây rất nghèo, nghèo lắm. Tháng ba, ngày tám năm nào cũng đói. Họ lũ lượt kéo vào nhau rừng đào củ mài, củ vớn, củ nâu ăn thay cơm. Củ mài rất khó tìm, đào được một gốc dăm ki-lô, cả nhà đỡ đói vài hôm. Củ mài ngon, đông dược gọi là hoài sơn. Củ vớn, củ nâu chát xít, gọt vỏ, nạo nhỏ, ngâm nước một hai ngày cho đỡ chát, đem đồ chin. Chát và khó nuốt nhưng còn hơn bụng đói.

Người Mường xóm Thá nơi bệnh viện tôi sơ tán thời bấy giờ vẫn còn mang nhiều tập tục hái lượm. Năm nào cũng đói, nhưng họ lại không trồng khoai sắn và cũng không trồng rau hay bầu bí để cải thiện đời sống dù đồi hoang rất nhiều.

Phụ nữ Mường ra khỏi nhà, bao giờ lưng cũng đeo “chỏ” -còn gọi là gùi- đeo “màm” -giỏ bắt cua- bên hông. Gặp bất cứ rau rừng, măng, mộc nhĩ, nấm… ăn được đều hái cho vào gùi. Cua đá, cá, ếch, nhái, ốc suối… bắt được bỏ vào “màm” hay “chỏ”, đem về làm “canh.”

Bữa ăn gồm cơm, canh. Canh là món ăn như thịt, cá, rau, đậu.. thậm chí còn có món canh hổ lốn nấu bằng tất cả thứ rau hái được cùng với cua, cá, ốc… trên đường lên nương, đi củi hay làm ruộng mà họ lấy được.

Một lần tôi đem cơm tập thể về, đúng bữa cơm chiều của gia đình mế Bảo. Gia chủ, mời ngồi ăn chung. Nể quá đành mang cạp-lồng đựng suất cơm góp mâm. Mế gắp miếng măng cho vào bát của tôi. Trông thật ngon lành. Cắn vào. Chao ôi, đắng hơn ký ninh! Nuốt không nổi. Lúng búng mãi, tôi đành lấy khăn mùi-xoa vờ lau mồm, nhè ra gói lại đút túi.

Tôi hỏi:

– Măng gì thế, mế?

Mế cười:

– Măng đành hanh, tuy đắng, ăn bổ và mát lắm.

Mát hay bổ cũng chịu, đắng quá. Tất cả các loại mướp đắng, hoa đu đủ đực tôi hàng vô điều kiện.

Nhà sàn người Mường nơi nào cũng giống nhau. Khác là khác sàn nhà và vách xung quanh làm bằng gỗ hay bương tre nứa.

Cột nhà thường bằng gỗ rừng. Ngâm suối từ sáu tháng đến một năm để tránh mối mọt. Chân cột kê đá. Gầm sàn cao hơn đầu người. Nhà có hai cửa lên xuống. Cửa chính cho đàn ông và cho khách. Cửa sau dành cho phụ nữ lên xuống bếp, ra sạp phơi quần áo.

Nhà giàu, cột bằng gỗ tứ thiết -trai, sến, táu, nghiến- vách và sàn bằng gỗ, ba gian hai chái. Nhà nghèo một gian hai chái, vách nứa, sàn bương. Gian giữa bếp lửa bập bùng giữ lửa ngày đêm hoặc có chiếc đèn dầu mà tim bấc vặn thật nhỏ. Đêm khuya, ai cựa mình hay đi đâu đều nghe tiếng cọt kẹt của sàn.

Dưới gầm sàn buộc trâu bò, để chuồng gà, chuồng gia súc và chứa củi khô. Đó là nhà kho tổng hợp.

Nhà khá giả, có tấm phản gỗ to bằng chiếc giường đôi đặt lên sàn sát cửa vóng để tiếp khách. Xung quanh có cửa vóng -cửa sổ. Cửa này chỉ dành cho chủ nhà là đàn ông ngồi nhìn ra ngoài. Còn vợ, con gái và con rể không được ngồi sát cửa vóng. Đêm trải chiếu lên sàn thành giường ngủ. Vợ chồng có buồng riêng ở sát cửa sau, ngăn cách bằng tấm liếp.

Nằm trên sàn, có khi nằm ngay trên lưng trâu, mùi hôi và tiếng thở phì phò dưới lưng, tìm chỗ khác thật khó. Vì không được nằm chắn ngang lối đi.

Được hai tuần, một đêm khuya tôi đang ngon giấc. Đột nhiên vang tiếng thanh la, tiếng mõ gõ liên hồi. Choàng tỉnh. Tôi hỏi cậu Bảo con gia chủ:

– Gì thế Bảo?

– Cọp về bản.

Tiếng thanh la, tiếng mõ đuổi cọp bên trại nuôi trâu bò xóm Thá vẫn vang lên liên hồi. Cả nhà tỉnh. Lửa bếp bùng sáng. Cửa trước cửa sau, cửa vóng buộc chặt, cài thêm then.

Mế Bảo chìa lưng cho tôi xem một vệt sẹo dài gần 20 cm, sâu hoắm. Mế nói:

– Cọp cào đấy.

Mế kể, lâu lắm rồi, đêm ấy cọp về bản. Hồi ấy mới đôi mươi, mế ngủ say. Cọp về bản vào tận nhà, dưới gầm sàn mà không ai biết. Cọp luồn móng qua khe sàn bương, cào qua chiếu vào lưng. Mế mất hẳn mảng thịt dài, đắp thuốc hàng tháng mới lành. Mế bảo “Mỗi lần động rừng, cọp về bản bắt trâu bò, lợn thường xuyên.”

Mế tiếp “Trước kia ở đây nhiều cọp lắm. Từ khi chính phủ làm đường 12B năm 1960, cọp sợ tiếng mìn phá đá, chạy sâu trong rừng. Bây giờ ít rồi.”

Nghe chuyện kể mà tôi thót tim, dựng tóc gáy. Từ đấy, đêm đêm tôi không dám đi đâu một mình.

Một lần, từ thị xã về bệnh viện sơ tán trong rừng. Đang đẩy xe đạp lên dốc Cun, gần đến đỉnh dốc nhìn thấy cửa rừng có biển thông báo nước sơn còn tươi, “Có cọp xuất hôm qua ở khu này. Bà con đi đường lưu ý.”

Sợ quá, tôi vội lên xe cố leo dốc. Tới đỉnh, thở không ra hơi. Trời lại nhập nhoạng tối, tôi đành ngủ nhờ anh bạn ở Hạt Giao Thông.

Thế mà hơn năm năm sống trong rừng tôi chưa gặp cọp, báo, gấu bao giờ. Mấy năm sau, sống trong rừng quen, tôi dám vác súng hai nòng, theo người địa phương đi săn đêm.

Nhà sàn có nhiều tiện lợi:

–  Sàn nhà bằng bương hay gỗ, ban đêm giải chiếu, thành giường.

–  Tránh được thú dữ, trăn, rắn… bò vào.

–  Gầm sàn thành chuồng trâu bò, lợn gà, chứa củi… Một loại kho tổng hợp mà chủ nhân có thể theo dõi quản lý dễ dàng.

– Tất cả đất cát, bụi bặm, rác trên sàn… quét ngay qua khe, đẩy xuống gầm sàn khỏi phải hốt.

Nhà sàn người Mán -Dao- khác người Mường. Người Dao ở vùng cao hơn, sống du canh du cư, nay đây mai đó, nên nhà làm sơ sài, không kiên cố.

Nhà người Thái ở Mai Châu to rộng hơn nhà người Mường. Mái tranh lợp rất dầy, 30 cm trở lên. Người Thái có hai sắc tộc: Thái Trắng và Thái Đen. Không phải vì khác nhau màu da mà khác nhau chút ít về họa tiết hoa văn váy áo nên chia ra như vậy. Người Thái Trắng ở Sơn La, Điện Biên. Thái Đen ở Mai Châu, Hòa Bình.

Văn hóa Hoà Bình nổi tiếng với điệu múa xòe. Múa Xòe nguồn gốc của người Thái. Quan lang người Mường Đinh Công Huy lập đội con gái học múa xòe của Thái rồi cải biên, dịp lễ Tết và có khách đội xòe nhà lang múa góp vui.

Người H’Mông -Mèo- ở hai xã Hang Kia và Pa-Cò ở huyện Mai Châu. Nhà người Mèo là nhà đất, rất rộng.  Mỗi thung lũng có một xóm -bản- gồm dăm nhà.

Nhà đất rất to, vách xung quanh là ván bằng gỗ lát hoa, lát chun, đẽo bằng rìu chứ không xẻ ghép lại, dưới to trên nhỏ hình nón như lều ngưòi Da Đỏ châu Mỹ. Nhà không có cửa sổ, có một cửa ra vào, trong nhà không có giường hay phản. Cột nhà bằng gỗ sến, táu, trai, lim… toàn gỗ quý hiếm, trăm năm cũng không mối mọt. Lợn, gà, bò… thả rông, chúng lẩn quẩn quanh sân. Thấy người, chúng ùa theo đòi ăn, đuổi cật lực mới có lối vào nhà.

Trong nhà tối om, mờ mịt khói bếp. Sau vài phút, quen bóng tối mới nhìn thấy rõ. Giữa nhà, bếp lửa bập bùng ngày đêm. Trên bếp có giàn rộng để phơi ngô bắp, hong thịt. Món thịt sấy khô này là món đặc sản của người H’Mông, khách quý mới lấyra đãi. Thịt khô nấu xong, gắp bỏ mồm, mùi ám khói nồng nặc, mùi thum thủm của thịt thối tiết ra, ói muốn chết. Ngày ấy người H’Mông được phép trồng cây thuốc phiện -cây anh túc- để sử dụng và bán thuốc phiện cho chính phủ. Ngô xay là món ăn chính hàng ngày. Ngô xay đồ chín gọi là mèn mén, ăn với thịt sấy và cây anh túc non làm rau. Người H’Mông ăn nhạt. Thiếu muối, họ đốt cỏ gianh, dùng thay muối vì tro cỏ gianh hơi mằn mặn.

Nhà nào cũng vài ang to -20 đến 50 lít- chứa nhựa thuốc phiện sống. Mỗi gia đình trồng vài héc-ta nương thuốc phiện trên nương rẫy. Hầu hết ông già H’Mông nghiện thuốc phiện. Có người dậy từ 3, 4 giờ sáng, hút 30 đến 40 điếu mới đã cơn thì đã là 9 hay 10 giờ sáng. Đàn ông săn bắn. Đàn bà, thanh niên lên nương làm rẫy trồng ngô hay cạo mủ quả thuốc phiện. Váy áo đều tự dệt, tự nhuộm và cắt, khâu thêu lấy.

Thời ấy, miền Bắc có hai khu tự trị, Tây Bắc và Việt Bắc. Nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà có chính sách ưu đãi người dân tộc, đặc biệt người Dao, Mông, thanh niên không phải đi bộ đội. Họ được trồng và hút thuốc phiện. Chỉ cần cai thuốc là được vào Đảng. Phải chăng nhà nước ưu đãi để người H’Mông Việt Nam không theo người H’Mông Lào do tướng Vàng Pao làm thủ lãnh, ngay sát biên giới Việt-Lào? Hiện nay tướng Vàng Pao định cư ở Hoa Kỳ.

Con trai H’Mông thổi khèn trong ngày hội. Giai điệu khèn cứ í lên ộ xuống, trầm bổng cao thấp như đường về bản lên đèo xuống dốc. Đàn ông mặc quần đen rộng ống, thắt dây rừng, áo hở rốn, tay áo vân hoa từng vòng từ khuỷu xuống cổ tay. Rượu ngô uống bát, không biết say. Gái H’Mông dậy thì khá sớm, mười bốn, mười lăm má đã ửng hồng, như trái đào rừng chín, mắt sắc như dao, thổi khèn lá, khèn môi tìm bạn tình mỗi khi xuống chợ phiên.

Nhà nước thu mua thuốc phiện để chế tạo thuốc cho ngành y tế. Lái xe, con buôn vào bản mua chui. Dân bản bán xong, đi tắt đường mòn qua dẫy núi đá đến huyện còn nhanh hơn xe ô tô đi đường quốc lộ, báo công an huyện bắt để lĩnh thưởng. Do bị chỉ điểm, hơn 90% con buôn và lái xe bị công an Mai Châu tóm gọn. Nhẹ tù chung thân, nặng dựa cột. Buôn thuốc phiện lãi quá lớn, mua 50 đồng/kg tại bản -thời điểm 1971. Về Hà Nội giá 2500 đồng/kg, biết chết vẫn ham.

Năm 1968 và 1971 đoàn chúng tôi đã đến khám sức khoẻ cho dân bản ở hai xã Hang Kia và Pa Cò. Hồi ấy đường vào bản rất khó khăn. Đào rừng và cây anh túc đầy hai bên đồi. Bây giờ, du khách khắp nơi đổ về. Con gái H’Mông nói tiếng Anh như gió, sử dụng điện thoại thuộc hàng độc. Trong xã xuất hiện nhiều trẻ da trắng, mắt xanh mũi lõ, tóc vàng như trong các bản ở Sa Pa theo phóng sự báo VietNamNet đưa tin.

Thời xưa, dân địa phương không có giầy dép thường đi chân đất. Khách đến nhà người Mường, trước khi lên cầu thang phải rửa chân. Gáo đựng nước bằng đoạn nứa con cưa ngắn, cán tre dài. Mỗi lần múc nước, khách khua thành ang kêu lanh canh như báo cho chủ nhà biết có khách. Chân sạch bùn đất, khách bước theo từng hòn đá sạch dẫn đường đến cầu thang cửa nhà.

Nhà mế Bảo chỉ có hai mẹ con. Cậu con trai khoảng 17 tuổi, nhanh nhẹn, vui tính. Ngày hai mẹ con vào “truộn” trốn máy bay Mỹ, đêm mới về nấu ăn, cho trâu, lợn gà ăn.

Lần đầu tiên tôi tắm suối. Con suối khá rộng ngay sát bài rừng. Nước không sâu chỉ ngang ngực, trong vắt, nhìn rõ cá bơi tung tăng, từng hòn đá to nhỏ dưới đáy.

Xin được mở đóng ngoặc nói thêm. Suối thường có con tấc -một loài vắt cực nhỏ- như sợi long bò, bám trong rêu đá. Ai vô tình vốc nước rửa mặt có nó, con tấc nhanh chân chui vào mũi, làm tổ bám ngay xương cuốn, hút máu để sống. Mỗi năm, khoa Tai Mũi Họng bệnh viện tôi gắp được vài con trong hốc mũi bệnh nhân. Có con gắp ra to bằng đỉa hẹ rất nguy hiểm.

Tìm được bụi khá kín đáo, nhìn trước nhìn sau không có ai, cời quần áo xuống tắm. Nước mát rượi, quên hết chuyện bực mình với lão phó bí thư. Từ xa tiếng líu lo, cười đùa của sơn nữ từ lối mòn ven rừng vọng xuống. Ngửng nhìn, bốn cô gái trẻ, váy áo Mường, đi lên đầu suối, cách tôi chừng 5 hay 6 mét rồi lội dần xuống. Nước đến đâu các cô nâng váy cao đến đó, rồi buộc túm lại, đội lên đầu, ngâm mình xuống dòng suối trong.

Tôi ngượng quá. Lần đầu tiên trong đời gặp sơn nữ tắm khỏa thân ngay trước mặt. Các cô thật vô tư, coi như chẳng có chuyện gì. Còn tôi vô tư sao được. Đối với người thày thuốc, ai cũng học giải phẫu cơ thể người, hàng ngày tiếp xúc với bệnh nhân, có gì là bí mật đâu. Nhưng đây là những cô gái tuổi trăng tròn. Tất cả ngồn ngộn một tòa thiên nhiên trước mặt, làm sao mà không cảm xúc. Tôi vội trườn dần xuống phía dưới về phía bụi kín, nơi để quần áo. Không dám thay, mặc cả quần ướt đi về.

Bước ra đường cái, đã thấy ngay bốn cô đi về phía tôi. Cả bốn cô tươi cười, líu lo tiếng Mường, trong như chim hót. Thấy tôi ngơ ngác, chẳng hiểu. Bốn cô cười rũ rượi, một cô nói tiếng Kinh:

– Chào cán bộ, cán bộ mới về công tác phải không?

Đi chậm lại, chờ, tôi hỏi:

– Chào các cô. Sao các cô biết tôi mới về?

Bốn cô lại ôm nhau cười:

– Chúng em biết hết các cán bộ ở đây mà.

– Các cô đi đâu đấy?

– Chúng em họp dân quân về.

Tối hôm ấy, trăng sáng vằng vặc, tôi ra kho hợp tác, nơi “đóng quân” của các gia đình bệnh viện. Ngồi xuống bực thềm, nghe hát đối đáp của trai gái bản. Tiếng hát vang giữa đêm thanh vắng dội vào vách đá, như tiếng vọng của núi rừng.

Ti no, mả vọi mả vang
Chan đap phái đà, chan quang phái day
Thung thang nhu chung en đay,
Chang đap phái đà, chang day nao quang

(Đi đâu mà vội mà vàng,
Chân đạp phải đá, chân quàng phải dây,
Thủng thẳng như chúng em đây,
Chẳng đạp phải đá, chẳng dây nào quàng.)

Dân ca Mường

Chẳng hiểu gì, tôi vẫn ngồi đến khuya. Sáng hôm sau, chi Dục, y tá có tuổi, bảo “Cả đêm, mấy cô tỏ lời với chú, chú có hiểu không?” Hiểu sao được, các cô hát tiếng Mường, chịu. Tình sơn nữ trong sáng như thế đó. Thích ai, tỏ tình đến nơi đến chốn, chẳng vòng vo, hết ngoại thành vào phố cổ c ác cô gái Hà Thành vẫn lặng thinh.

Hễ anh cán bộ nào tán tỉnh, dính vào. Hôm sau khoe cả xóm, chạy đằng trời. Cô nào cũng thích cán bộ, người xuôi. Con trai Mường, Mán thích con gái xuôi, hỏi “Tại sao thích?” bảo “Đít nó có gân!”

Con gái xuôi mặc quần lót, đôi khi thấy rõ. À ra thế!

Mỗi gia đình người Mường đều có một dụng cụ để đồ cơm, đồ xôi, bằng gỗ thân cây mềm, khoét rỗng ruột, đáy có vỉ tre, đổ gạo không lọt, phía dưới đẽo thắt một chút, tạo dáng, nẹp tre vòng quanh hai đầu để khỏi nứt. Chõ đồ, gọi là cốp, nồi đáy bằng đồng thau, gọi là viềng. Ngày xưa nấu cơm họ đồ, không nấu như ngày nay, sợ nhão hay khô.

Người ta làm nhà cách xa suối để tránh mùa lũ, không có thùng gánh, họ cắt từng đoạn bương, dài 4 đến 5 đốt, đục xuyên ruột, một đầu cắt vát, làm ống lấy nước. Nước đầy, vác về đổ vào ang hay vại to.

Giỗ Tết, mổ lợn, họ không cạo long ho ặc cạo nhưng vẫn đốt lửa thui như thui chó. Món dồi tiết họ cho thêm đỗ xanh, như dồi chó ở miền xuôi.

Người Mường tính ngày âm lùi một ngày so với lịch âm miền xuôi. Đêm 30, giao thừa, họ bảo là 29. Nhưng họ vẫn cúng giao thừa và ngày mồng 1 Tết nhưng ười Kinh. Lý do vì sao, tôi chịu không biết.

Có phải ngày xưa người Mường có lịch riêng, nay đã thất truyền? Còn tháng tới (sớm 1 tháng) tôi không thấy làng bản nào thực hiện.

Câu ca “Cơm đồ, nhà gác, nước vác, lợn thui, ngày lui tháng tới” là như vậy.

Trở lại chuyện vợ chồng Phú. Hostel theo đúng nghĩa là thứ nhà trọ rẻ tiền, mạt hạng, dành cho những người nghèo lỡ độ đường. Khách du lịch không ai bước chân tới.

Không biết ai làm “quân sư” vạch đường đã giúp tỵ nạn Việt Nam vào tạm trú các hostel này. Chủ hostel tính đầu người, chứ không tính theo phòng. Nhà 7 người, kê 7 giường một, n ăm người kê năm giường…. Vải trải giường, gối đệm cũ rích, hôi mù, chẳng ai dám sử dụng, lấy của nhà ra dùng. Quần áo, chăn màn hàng tuần đem ra tiệm tự giặt.

Một hostel ít nhất cũng chứa được 40 chục người lớn bé, già trẻ. Tất cả “khách trọ” đem thẻ ký thất nghiệp -U40- trình báo. Chủ hostel sẽ giúp điền form, chỉ nơi đến ký tiền thất nghiệp và nộp form xin tiền trợ cấp.

Chuyện tưởng như rất phức tạp thế mà lại thật dễ dàng bởi chính sách của nhà nước Anh hồi ấy ưu đãi người thất nghiệp, kẻ vô gia cư.

Cái bất tiện ở hostel ai cũng giấu biệt. Đó là sự lộn xộn, xô bồ của một đám đông tứ xứ, vô tổ chức. Chủ hostel chỉ biết thu tiền, còn chuyện trật tự trị an mặc chúng mày tự quản. Chính vì lẽ đó, thư từ, séc (cheque) trợ cấp gửi, thường bị kẻ xấu lấy cắp, kiện cáo cãi nhau loạn xạ.

Phòng ở như nhà hoang, ra vào dễ dàng y như các trại tỵ nạn Hong Kong. Mất đồ có giời tìm. Bởi vì hầu hết người sống trong hostel có người quen ở ngoài. Đồ ăn cắp gửi nhà bạn, ma biết.

Vì thế, phòng ở chẳng có gì đáng giá ngoài chiếc ti vi màu, máy thu thanh cát-sét, còn tiền và đồ trang sức giấu kỹ.

Tôi gọi điện hỏi, chú Thịnh xác nhận, thông tin của Phú đúng 100%. Dân tỵ nạn Việt nam ở Port Glasgow, Glasgow và các vùng phụ cận chạy về London từ năm 1983. Đa số vào hostel “tránh bão.” ChúThịnh bảo “Tiện mà không tiện. Hay mà không hay. Chán ở trại, bây giờ lại chui vào “trại tỵ nạn” lần nữa. Chịu sao thấu, con cái học hành ra sao. Bạn em, dân Hà Nội, trước ở gần nhà, cũng chạy về, đi làm báo thuế, thuê nhà riêng, được council giúp một phần tiền nhà, đang đợi list, khoảng 6 tháng, lâu nhất 1 năm sẽ được phân nhà.”

“Ắn cỗ đi trước, lội nước đi sau.” Vợ chồng Sinh chưa đi. Chờ xem tình hình anh chị Phú xuống hostel ra sao và xem tôi chuyển về theo hướng của Thịnh như thế nào. Hàng tuần, bỏ túi 120 bảng, vẫn lĩnh tiền trợ cấp, nhà cửa đàng hoàng, vừa mua xe hơi, tuy second hand nhưng trông còn khá lắm, máy chạy ngon ơ. Tại sao phải rủ nhau chui vào hostel xô bồ, lộn xộn hay phải đi làm báo thuế, è cổ đóng tiền nhà?

Tháng 4-1984, truyền hình BBC1 phát chương trình về người tỵ nạn Việt Nam sống trong các hostel ở London, lộn xộn, bẩn thỉu, so sánh với người tỵ nạn ở Mỹ cuộc sống khá ổn định. Khu Tiểu Sài Gòn nhiều siêu thị ra đời, làm ăn phát đạt.

Xem mà thấy ớn cuộc sống ở hostel.

Khi về London gặp những người sống trong hostel, họ vui như Tết, đâu có như phóng viên BBC đưa tin. Hàng tuần lĩnh trợ cấp, ngày làm chui ở các xưởng may, ví mỗi ngày một căng, đói mua Chinese Take-away, fish & chips, khát có Coca, Pepsi, Lager, vừa ăn vừa xem film Hong Kong, Đài Loan. Đời vui phơi phới. Con cái đi học hả? Lo gì. Chỗ nào mà chả có trường. Trường nào cũng giống nhau. Học gì lắm. Làm vương làm tướng gì ở đất này. Lĩnh trợ cấp, làm chui sướng chán. Mai kia có tiền mở xưởng may, nhà hàng. Tiền là Tiên là Phật. Có tiền có tất tần tật.

Số người đập nhà cũng khá nhiều. Đa số gia đình có bố mẹ già, đông con nhỏ mới đủ gan. Hỏi một ông, có thâm niên đập nhà, cho chính ông và hai người bạn. Sau 25, ông cười, bảo:

– Hồi ấy em ở Liverpool. Thằng bạn rủ xuống London cho ở nhờ, tìm nhà council nào bỏ hoang thi đập. Vợ chồng em đưa hai đứa bé xuống trước, đứa lớn ở lại với ông bà. Thằng bạn chỉ điểm. Đêm, kiếm hòn gạch, em choang luôn cửa sổ phòng khách. Vợ con em thuê taxi, dọn va-ly, túi xách vào ở. Hôm sau, thằng bạn gọi thợ chữa kính, thay khóa cửa, dắt lên sở xã hội xin ký thất nghiệp, khai địa chỉ nhà đập. Cụ em vẫn ở Liverpool, đề phòng khi bị đuổi, còn có chỗ về. Hơn tháng sau em phải ra tòa, bị phạt 25 bảng. Tòa cho ở vì không thể đuổi con em ra ngoài đường. Tuần sau, đón cụ xuống, bỏ luôn Liverpool.

Tôi hỏi:

– Sao anh lại đập 2 cái nữa làm gì?

– Ấy, một thằng bạn cũng ở Liverpool, xuống nhờ. Nó sợ, em đập giúp nó. Thế là xong.

– Không sợ ra tòa à?

– Ai biết mà tố cáo.  Có tố chăng nữa em chối biến. Hồi ấy, dễ ợt. Gặp anh chị, chắc em dám đập nhà hộ. Ít người đi làm và thuê nhà như anh chị. Vừa tốn kém và chờ nhà council rất lâu.

Chuyện người Việt tỵ nạn khắp nơi chuyển vào hostel và đập nhà là lý do có thể trả lời vì sao ở London có nhiều quận rất đông gia đình người Việt. Bởi vì hostel đa số ở quanh khu đó, hội đồng quận giải quyết nhà càng sớm càng đỡ gánh nặng chi trả cho hostel.

Cuối tháng 5-1984, Chú Thịnh báo tin “Được council cấp nhà, anh chị xuống gấp.”

Ngày 16-6-1984, gia đình tôi chuyển về quận Croydon, South East London, thuê lại buồng cũ của chú Thịnh.

Cuộc đời chúng tôi sang trang mới sau hơn 4 năm 2 tháng ở Scoltland.

Mời đọc tiếp: Chương [14]

Lâm Hoàng Mạnh
Nguồn: Tác giả gửi

Đã đóng bình luận.