Buồn vui đời thuyền nhân – Chương 16: Học nghề

Posted: 20/04/2013 in Hồi Ký, Lâm Hoàng Mạnh

Lâm Hoàng Mạnh
Tặng mợ và các con.

Đã đăng: Chương [Lời nói đầu, 1a], [ 1b], [ 1c], [2], [3a], [3b], [4], [5], [6], [7], [8], [9], [10], [11], [12], [13], [14], [15], [16]

bia_sach_bvdtn-lhm

Lớp học Radio, Television & Electronics Servicing có 15 người trong đó có 3 người nước ngoài, 2 Ấn Độ và tôi. Đa số dưới 30, tôi và anh chàng Patel, người Ấn, nhân viên hãng Phillips, tuổi ngoại tứ tuần. Toàn bộ tài liệu khóa học hơn 500 trang A4, in 2 mặt, nhiều thuật ngữ kỹ thuật làm tôi vã mồ hôi. Vừa học lý thuyết, vừa thực hành, ngày nào cũng như ngày nào, từ 8.45 am đến 3.45 pm; phòng học khá rộng, chia làm 2, bên có bảng đen, 4 dãy bàn học; bên workshop đầy radio hỏng, ti-vi đen trắng & màu to nhỏ, cũ kỹ để thực hành. Sau 5 tuần, kiểm tra lý thuyết và thực hành, anh chàng Patel điểm dưới trung bình, bị loại. Còn lại, một thày, 14 trò, học 12 tháng.

Chương trình học, từ cơ bản điện lực, đi dần lên cấu trúc, sự hoạt động của đèn điện tử (valve), bán dẫn (transistors), tổ hợp vi điện tử (microelectronics, chips), tụ điện (capasitors), điện trở (resistances), đi-ốt (diodes), đèn hình (cathode-ray-tube, C.R.T). Sáng, lý thuyết, sau bữa ăn trưa, thực hành. Học từ cách đấu dây phích cắm đến hàn linh kiện (components) trong các mạch, cách đọc sơ đồ mạch (circuit diagram), cách phát hiện nguyên nhân hỏng (fault finding) từ máy thu thanh (radio), thu hình (television) (đen trắng và màu). Nguyên lý phát và thu sóng âm thanh và hình (sound and vision). Thực hành, sửa chữa radio, television, video từ đơn giản đến phức tạp, lắp ráp tầng thu, tầng tăng âm, hoàn chỉnh một radio sóng trung và sóng ngắn.

Workshop có nhiều đồ cổ, máy thu thanh thời sơ khai, từ năm 1920, ti vi đen trắng màn hình tròn, những năm 1940, đèn điện tử 5 chân, bằng cổ chân đến những chips 24 chân hiện đại. Theo Mr. Morrison, năm 1950 ti-vi đen trắng vẫn đắt lắm, cả London khoảng hơn trăm gia đình có. Đầu thập niên 1960, phát truyền hình màu, giá 1 chiếc ti vi màu 25 inch hơn ngàn bảng, trong khi đó 1 căn nhà 3 buồng ngủ, sáu ngàn.

Ngày ấy mấy ai có ti vi màu.

Phải nói, khóa học rất thú vị, tôi mê lắm.

Học được 6 tháng, thỉnh thoảng chiều chủ nhật 3 bố con đi nhặt ti vi hỏng, đem về tập sửa.

Sơ đồ mạch mượn thày, mò mẫm chữa tại nhà.

Sau vài tháng tôi có tới 6 chiếc ti-vi màu, từ 20 inch đến 26 inch, âm thanh và hình ảnh khá lắm. Tặng cô chú Thịnh 2 cái, bán được 1 cái 26 inch, giá hữu nghị £40 bảng, buồng nào nhà tôi cũng có. Hỏi thày về chiếc Grundid cũ mất màu, ông lấy circuit diagram, chỉ hỏng ở chips chuyển màu (colour signal) và cho biết ít khi hỏng đèn hình (C.R.T). Hóa ra anh thợ chữa tivi ở Knightsridge chẩn bệnh trật lấc.

Mãn khóa, vừa làm vừa học thêm 2 năm lớp ban đêm ở South London College, nâng cao kiến thức về Video và C.D.

Ngày xưa, tôi quen anh Đức, kỹ sư điện tử ở Ty Bưu Điện hòa Bình, tốt nghiêp Đại học Bách khoa Hà Nội 1964. Anh làm gì ở ty? Xin thưa, chẳng làm gì, ngồi chơi xơi nước. Lạ thật, kỹ sư điện tử lại phân công về ty bưu điện. Ty có đồ điện tử đâu mà sửa chữa, bảo dưỡng. Phòng kỹ thuật của anh, vài bộ tổng đài điện thoại, vài chục phích cắm.

Nhiệm vụ chính ngành bưu điện thời ấy, như sau:

– Nhận chuyển, phát thư, bưu kiện, tiền…

– Nhận và chuyển điện tín (telegram)

– Cấp giấy quyền sử dụng máy thu thanh điện tử và bán dẫn. Giấy đăng ký ghi rõ: “Nghe đài phát thanh Hà Nội”. Ai không có giấy hoặc nghe đài khác, công an kiểm tra, bị tịch thu liền. Giấy đăng ký này nghe đâu tồn tại cho đến năm 1990 (?)

– Kéo đường dây điện thoại và mắc điện thoại cho các cơ quan nhà nước. Thời ấy dân chưa có điện thoại.

– Tổng đài, nối phích cắm cho các cuộc gọi điện liên tỉnh và trung ương.

Thời bấy giờ, điện thoại đơn giản lắm, hình khối thang cụt, trong ruột có chuông điện, trên, có giàn đỡ ống nghe, bên phải, có cần quay, không có mặt chữ số, như hòm nhỏ sơn đen, thô kệch.

Muốn gọi, cầm tay quay, quay vài vòng như quay phim, xong, nhấc ống nói, “A-lô, tổng đài phải không?” Nếu đầu dây bên kia không trả lời, lấy tay ấn ấn vài lần vào giá đỡ, gọi tiếp “A-lô, tổng đài phải không?”- “Vâng, tổng đài đây.”- “Cho xin nói chuyện với…”

Cơ quan, xí nghiệp có từ 3 điện thoại trở lên, bắt buộc phải có tổng đài, trực máy 24/24, không thể tự động muốn gọi ai cũng được như ngày nay. Hệ thống này vẫn còn tồn tại ở bệnh viện đến năm 1979, khi tôi rời Việt Nam.

Anh kỹ sư Đức như lọ hoa, trang trí trong phòng khách của ty, đẹp và sang trọng, thế thôi. Dưới tay anh, phòng kỹ thuật có hơn 10 trung cấp điện tử, gần chục công nhân đường dây, họ hơn anh là có việc làm, trực máy tổng đài, công việc chỉ cần học 1 ngày là hiểu, không cần 3 năm mài đũng quần trường trung cấp Bưu chính – Viễn thông.

Hè 1966, một đêm giông, cô Bắc trung cấp mới ra trường, thiếu nữ Hà thành, đẹp gái, trực tổng đài.

Gần 1 giờ sáng, đang ngủ ngon.

Reng… reng… reng… chuông điện đổ hồi.

Giật mình thức giấc, mắt nhắm mắt mở, mắt nọ hiếp mắt kia, cô cầm máy:

– A-lô, ai đấy?

Đầu dây bên kia:

– Kín đây.

– Ai?

– Kín đây, Kín đây.

Cô quát to:

– Nói to lên, kín kín hở hở cái gì. Không nghe thấy gì cả.

Đầu dây bên kia, rụp một cái, cúp máy. Ngoài trời, gió vẫn rít, mưa vẫn xối xả đập vào cửa, sấm chớp liên hồi. Nằm xuống giường, Bắc vẫn còn tức, chửi thầm, thằng ma cà bông nào chơi khăm, đang ngon giấc, dựng dậy. Kín kín với chả hở hở. Đồ mất dạy! Kéo chăn, ngủ tiếp.

Bảy giờ sáng hôm sau, đầu giờ làm việc, toàn phòng kỹ thuật họp khẩn cấp, trưởng ty H. chủ trì:

– Ai đêm qua làm nhiệm vụ trực tổng đài?

– Dạ, báo cáo trưởng ty, đồng chí Bắc.

Ông quay sang, hỏi:

– Cô Bắc đâu?

– Dạ, trực đêm nên nghỉ bù rồi ạ.

Trưởng ty nghiêm giọng, hỏi:

– Tất cả các đồng chí có biết, vì sao có cuộc họp khẩn cấp sáng nay không?

Hơn ba mươi người, từ nhân viên đến trưởng phó phòng nhìn nhau, chịu, không hiểu.

– Đêm qua, đồng chí Kín (bí thư tỉnh uỷ), gọi tổng đài, yêu cầu nối đường dây xuống các huyện, người trực tổng đài đã quát trong máy Kín Kín Hở Hở Cái Gì.

Tất cả lặng người.

Cô Bắc, lính mới, đâu có biết tên ông bí thư tỉnh. Tưởng nửa đêm có thằng ma cô nào tán tỉnh, trêu chọc, yêu cầu giữ kín (bí mật). Trình bày, giải thích thế nào cũng không hết tội hỗn. Văn bản quyết định kỷ luật thải hồi, ngay hôm ấy, đích danh trưởng ty ký.

Bùi văn Kín nguyên là giáo viên cấp I của huyện Kim-Bôi, tỉnh Hoà Bình, 15 năm giữ chức bí thư tỉnh. Hoà bình là một tỉnh miền núi sát Hà Đông, Hà Nội nhưng phát triển quá kém về mọi mặt vì thế đời sống nhân dân rất khó khăn. Năm 1969, Ban bí thư Trung ương đảng cử Nguyễn Văn Hoàng Đạo (1) làm cố vấn cho Bùi văn Kín. Trên chuyến xe com-măng-ca đít tròn đón về Hoà Bình, Hoàng Đạo hỏi Bùi văn Kín ngồi bên:

– Trung ương cử tôi về làm cố vấn cho anh. Vậy tôi nói ai nghe? Anh nói ai nghe?

Bùi văn Kín nói ngay, không cần suy nghĩ:

– Thì tôi nói anh nghe. Anh nói nhân dân các dân tộc tỉnh Hoà Bình nghe.

Nguyễn Văn Hoàng Đạo thở dài, không nói gì. Sau một tuần ở Hòa Bình, ông bỏ về Hà nội.

Tỉnh ủy Hoà Bình trong vòng sáu tháng gửi rất nhiều công văn và thư yêu cầu ông lên công tác. Nguyễn Văn Hoàng Đạo không trở lại, trong khi đó tỉnh vẫn phải trả lương. Ban Thường Vụ Tỉnh ủy Hòa Bình mở phiên họp bất thường, dưới sự chủ toạ của Bùi Văn Kín ra quyết định khai trừ Nguyễn Văn Hoàng Đạo ra khỏi đảng và bãi nhiệm chức cố vấn.

Lê Đức Thọ mời Nguyễn Văn Hoàng Đạo đến văn phòng Ban Tổ chức  Trung ương đưa quyết định của Tỉnh ủy Hoà Bình cho ông đọc. Nguyễn Văn Hoàng Đạo đọc xong cười, nói với Lê Đức Thọ:

– Anh cử tôi làm cố vấn cho cậu Kin. Khi tôi hỏi, “tôi nói ai nghe, anh nói ai nghe.” Cậu ta trả lời, “tôi nói nhân dân các dân tộc tỉnh Hòa bình nghe, còn cậu ta nói tôi phải nghe.” Vậy tôi là cố vấn hay là cậu ta là cố vấn?

Nguyễn Văn Hoàng Đạo tiếp:

– Tôi và anh tham gia cách mạng từ những năm 1929, cùng ngồi tù hết trại này đến trại khác. Vậy anh tin tôi hay tin cậu ta? Hơn nữa tuổi đảng của tôi sấp sỉ tuổi đời của nó.

Lê Đức Thọ phủ quyết đề nghị của Ban thường vụ tỉnh ủy Hòa Bình và giải quyết cho ông về hưu.

Nhắc lại chuyện này với các anh Nhật Quang, Nắng Mai Hồng và tôi trong bữa liên hoan mà ông vẫn còn bực mình.

Nhà văn Nắng Mai Hồng tên thật là Bùi Xuân Dục. Năm 1965 Mỹ ném bom miền Bắc, Bộ Văn Hóa sơ tán cán bộ bằng cách đưa các nhà văn xuống cơ sở tỉnh làm việc. Anh được chuyển về Ty Văn Hoá tỉnh Hoà Bình, phụ trách phòng văn hoá nghệ thuật. Ngoài sáng tác, biên tập cho tập san Văn hóa của tỉnh 3 tháng ra một số, anh còn là người chấp bút viết các bài diễn văn khai mạc, tổng kết hội nghị cho bí thư Bùi văn Kín và chủ tịch tỉnh Nguyễn Văn Hậu. Nhờ thế những bài phát biểu của bí thư và chủ tịch tỉnh mới có tiếng vang trong nhân dân.

Anh coi tôi như em, một lần tôi hỏi:

– Sao bút danh của anh kêu như chuông thế.

Anh cười:

– Đầu tiên mình ký Mai Hồng. Không ngờ trong khu tập thể Bộ Văn Hoá cũng có cậu tên Mai Hồng, vì thế thư từ của mình mất thường xuyên. Mình đổi Nắng Hồng. Ai ngờ lại có người tên Năng Hồng, mình lại mất thư. Ký luôn bút danh Nắng Mai Hồng xem còn cậu nào có cái tên kêu hơn mõ làng nữa không.

Anh cười, kéo một hơi thuốc lào, sửa lại cặp kính cận, bảo:

– Từ đó thư từ của mình không bị mất.

Hoàn cảnh các nhà văn thời ấy nghèo lắm. Gia cảnh anh còn tệ hơn. Mỹ ném bom vùng Nam Hà, anh phải đưa bố mẹ từ Hà Nam lên khu sơ tán Hoà Bình. Hai cụ ở quê không có sổ gạo và tem phiếu, vì thế lương bậc 5 viết văn của anh nuôi vợ và 2 con đã khó nay càng khó hơn. Anh phải cặm cụi ngày đêm dịch và viết để kiếm thêm nuôi gia đình. Gạo mua chui rất đắt, để khỏi thiếu hụt, mẹ anh thường phải lấy cân cân gạo mỳ từng bữa. Đến thăm thấy cảnh ấy thương lắm. Không ngờ anh bị nhồi máu cơ tim tại Hà nội trước khi chính thức làm việc cho Đài phát truyền hình Việt nam năm 1972. Hưởng thọ 52 tuổi.

Một lần tôi đến Đài Truyền Thanh tỉnh, cậu Bảo bạn thân, trung cấp điện tử, phụ trách kỹ thuật, đang quấn biến áp (transformer) tầng tăng âm của máy thu thanh, bằng ba bao diêm, dí vào tai tôi, hỏi:

– Nghe thấy tiếng gì không?

Chả nghe thấy gì, biến áp vừa quấn xong, làm sao mà có tiếng. Lắc đầu, chịu.

Cậu ta cười:

– Tiếng ò ó… o… bé lắm. Nghe cho kỹ.

– Chịu, chả có tiếng khỉ gì.

Cô Quỳnh Thông, người đọc bản tin của đài, cười, bảo:

– Cái anh này, ngố thế.

Hóa ra, mỗi lần phòng truyền thanh huyện máy hỏng, đội quân sửa chữa của tỉnh xuống giúp, được đãi cơm gà ngập chân răng.

Cuối năm 1979, tỵ nạn Việt Nam ở Hong Kong bắt đầu đua nhau gửi hàng về cho thân nhân. Từ đây, chuyện gửi hàng, gửi tiền, kéo dài cho đến hôm nay và còn dài dài như thể một thứ thuế thân (tự nguyện) của người tỵ nạn, đóng cho thân nhân trong nước.

Không những thế, năm sau tăng hơn năm trước, từ hơn tỷ những năm 1990, nay con số lên đến bảy, tám tỷ Mỹ kim, theo đường chính ngạch, còn tiểu ngạch (gửi chui), chịu, ngoài vùng phủ sóng.

Thế kỷ XXI, người trong nước chỉ nhận Mỹ kim, Anh kim, Úc kim và Âu châu… kim, tiền tươi thóc thật, nhanh gọn dễ cất, chả ai muốn nhận thùng đồ, vừa cồng kềnh vừa khó bán. Sức mạnh chất xanh, chất xám của “bọn lưu vong, phản động”, mạnh đến nỗi, Đảng Cộng sản Việt Nam phải ra nghị quyết 36, chăm sóc “khúc ruột ngàn dặm” tận tình, mở rộng cánh cửa, trải thảm đỏ, giang rộng đôi tay đón “Xanh, Xám”.

Gần tết ta 1980, sau khi gửi hàng, thím tôi nét mặt vui lắm, cười thật tươi, hỏi, “Anh chị đã gửi hàng chưa?” Tôi cười gượng, “Dạ, chưa!” Bà hỉ hả, tết này chắc các cụ, các cậu, các dì vui lắm. Trời ạ, sao lại không vui, tự nhiên nhận được thùng lớn thùng bé từ trên trời thả xuống, sướng gì bằng. Bà vui một, song thân và các em bà vui mười.

Đời sống cơ cực, khốn khó, nay hàng từ thiện miễn phí đổ vào, thân nhân vui như tết, nhưng chính quyền cộng sản mừng ít, lo nhiều. Thủ đoạn diễn biến hòa bình, bọn lưu vong phản động, nhiều mưu lắm kế, hàng gửi về phải có mục tiêu chính trị. Phải cảnh giác! Hạn chế nhận hàng, đánh thuế 100%. Vẫn thùng lớn thùng bé, từ khắp các nước tư bản già cỗi, đế quốc suy tàn, ùn ùn đổ vào. Mọi người, bo bo không có đổ vào nồi, nhà bên, xóm dưới, ai có thân nhân vượt biên đua nhau nhận hàng, sốt cả ruột. Từ năm 1980, phong trào vượt biên rầm rộ, thuyền đánh cá lớn nhỏ ra khơi, đi một mạch đến Hong Kong, Mã-lai… không thèm quay lại.

Năm 1981, chúng tôi gửi đài cát-sét.

Năm 1982, gửi chiếc ti vi đen trắng 14 inch, mác Ferguson. Mới cứng, £50 bảng, tiền gửi gần £50 bảng. Tiền bò ngang tiền thừng. Ấy thế, bưu điện tỉnh “ngâm tôm” gần hai năm mới nhận được, phụ kiện gửi kèm mất sạch.

Gửi ti-vi mới toanh đến khi nhận được rỉ sét, nộp thuế 100%, phảI đem đi chữa mớI xem được. Thư cậu em kể, “các cụ vui lắm, đêm nào cũng đông nghịt bà con sang xem, như họp thôn.” Thời bấy giờ, đài phát thanh và truyền hình Việt Nam chưa phát hình màu, tivi đen trắng hợp thời trang. Vợ tôi cười sung sướng. Trẻ con còn thích khen, huống chi “người nhớn”!

Đài truyền hình miền Bắc bắt đầu thành lập năm 1970, địa chỉ 58 Quán Sứ Hà Nội. Năm 1971, phát thử, một tuần 2 buổi, Thứ Năm-Thứ Bảy, mỗi buổi 2 giờ, theo hệ SECAM (Système Electronique Couleur Avec Mémoire, Pháp, Nga), sau đổi sang hệ PAL (Phase Alternation Line, Anh). Hệ PAL hồi ấy 405 mành (line) hình không nét, màn ảnh toàn ruồi dù cần ăng-ten cao gần chục mét. Hệ Mỹ N.T.S.C, 525 mành, trong Nam hình ảnh đẹp hơn. Năm 1974, Anh quốc tăng hệ số mành lên 625, hình đẹp, chất lượng cho đến nay. Tháng Tư năm 2012, toàn quốc sẽ chuyển sang kỹ thuật số (Digital), bỏ hệ cũ.

Công xuất thấp, hầu như chỉ Hà Nội và mấy huyện ngoại thành thu được hình, các huyện quanh Hà Đông cũng chịu.

Cậu Đế lái xe cấp cứu bệnh viện tôi, quê Thanh Trì, Hà Nội, có thằng em rể du học Nga, đem về chiếc tivi 15 inch đen trắng, cống bố vợ. Đến giờ thu hình, làng trên xóm dưới vây quanh đông như kiến, mặc dù chỉ phát 2 tối, mỗi buổi 2 giờ, toàn tin thời sự.

Đài truyền thanh tỉnh tôi, Hòa Bình, có 10 nhân viên, một đài trưởng, ông Ngôn, một trung cấp điện tử, cậu Bảo em vợ ông, ba cô phát thanh viên, Quỳnh Hoa, Quỳnh Thông và Thu Hiền, năm công nhân sửa chữa, lắp ráp, kéo dây, hệ thống loa phóng thanh thị xã. Nhà đài có hai chiếc radio điện tử, Rigonda II của Nga, làm phương tiện thu đài Hà Nội, qua máy tăng âm, phát lại qua mạng loa phóng thanh thị xã.

Sáng sáng, 5.45 a.m, nhạc hiệu:

Te… te te… tí tò te te…

(Nhanh… chân lên… anh chị em ơi…!)

Te… te te… tí tò te te…

Tiếp theo, tiếng hô nhịp tập thể dục dõng dạc:

Một, hai, ba, bốn…
Hai, hai, ba, bốn…
Ba, hai, ba, bốn…

Toàn dân bắt buộc phải dậy tập thể dục. Già trẻ, con nít mới đẻ đều được điệu kèn Te te te, tí tò te thét vào tai, thúc vào đít. Ai ốm yếu, làm đêm về không muốn dậy vẫn phải nghe.

Trưa từ 11.30 a.m đến 13.30 p.m loa lại lên tiếng.

Chiều, 5.30 lại ầm ầm cho đến 23.30 p.m, loa phóng thanh mới nghỉ, bà con mới hết bị tra tấn. Thời ấy tôi có bài thơ tả cảnh đời công chức:

Ăn cơm tập thể, ngủ nhà công
Một tháng hai phiên, mấy chục đồng
Sớm dậy theo đài, đêm theo kẻng
Cuộc đời như thế, sướng hay không?

Bây giờ gọi là loa phường, ngoài nhiệm vụ chuyển tiếp đài Hà Nội còn có nhiệm vụ thông tin của phường, họp, khen che bà con lối xóm. Nó ra đời từ năm 1956, sống thật dai, loa phơi nắng, phơi sương đã rỉ sét, tiếng phát ra ọ ẹ như người cảm cúm nặng, vẫn ngày 3 buổi, cần mẫn tra tấn dân lành. Lâu nay, có người lên tiếng khai tử, nhưng vẫn có người hoài cổ, tranh cãi trên báo, bất phân thắng bại.

Năm 2004, vợ chồng tôi về Việt Nam, lên thăm anh em, ở hotel, không ngờ phòng sát cột loa phóng thanh, đang ngủ ngon, bất thình lình: Te te te… tí tò te te, y hệt mấy chục năm trước. Hôm sau, đổi phòng ngay tắp lự.

Thị xã tôi, sau năm 1975, lác đác có một vài chiếc ti vi đen trắng cũ mèm từ miền Nam vác ra. Thời ấy, bộ đội miền Bắc, người miền Nam tập kết về quê thăm thân nhân, khi ra Bắc, hành trang 100 người như một: con búp bê to buộc sau chiếc ba-lô, khung xe đạp vác vai, chiếc đài bán dẫn đeo hông, mở oang oang, nét mặt hớn hở, tự hào và sung sướng lắm.

Thủy điện Hòa Bình khởi công 1978 do Liên Xô tài trợ và xây dựng. Số kỹ sư, công nhân Xô Viết, tăng chóng mặt, cao điểm, hơn 3000 người, lập làng Nga. Làng Nga, nằm bên kia sông Đà, phố Đúng, xóm Rè, xã Thịnh Lang, nơi đây có trường học, bể bơi, nhà văn hóa, giải trí… riêng biệt. Bất cứ họ là ai, kỹ sư, kiến trúc sư, công nhân, giáo viên, kế toán, thủ quỹ… đều có tên chung, Chuyên Gia Liên Xô. Những chuyên gia này cũng “phân biệt chủng tộc, phân hóa đẳng cấp dữ lắm”. Anh chàng bác sĩ Nga, dân gốc St. Petersburg (Leningrat), cố đô thời Sa hoàng, coi thường dân Moscow, thủ đô mới, bảo, bọn Moscow dân nhà quê.

Người Nga coi thường người Latvia, Lithuania, Ucraina… nhưng cùng trong Liên Bang Xô Viết cùng có một điểm chung: Buôn lậu.

Dân thị xã Hòa Bình muốn mua tivi, radio, quạt điện (tai voi), bàn là (ủi)… cứ hỏi mấy anh thông dịch, mua được liền. Lương tối thiểu công nhân Nga 1200 VN đồng/tháng, (lương kỹ sư Việt Nam mới ra trường 60 đồng/tháng, bậc I, 70 đồng/tháng) lương tổng công trình sư >3000 đồng/tháng, chính phủ Việt Nam trừ tất cả các khoản: nhà ở, điện nước, ăn… 600 VN đồng/tháng, không đóng thuế thu nhập, họ để dành 600 đ/tháng. Hối đoái năm 1978, 1 rúp = 2,7 VN đồng, hàng tháng để dành 200 rúp. So với khung lương người Việt mức lương ấy rất cao. Vậy mà mỗi năm về nghỉ phép, trở lại, bao giờ cũng có đài, quạt, bàn ủi… mỗi thứ 1 chiếc theo quy định, đem bán chui. Tôi mua được chiếc quạt tai voi, 30 đồng, rẻ hơn giá nhà nước 6 đồng. Anh chàng phiên dịch, bảo, bên Liên Xô, khoảng 10 đồng tiền Việt, lãi 1 gấp 3.

Đồ điện tử Liên xô chóng hỏng kinh khủng, cậu thông dịch có chiếc tivi đen trắng 17 inch, tháng nào cũng phải chữa, hết hỏng tụ (capasitor) lại cháy điện trở (resistance) hay đi-ốt (diode), hàng tháng, ít cũng tốn 1/4 lương. Thợ chữa radio, tivi thời bấy giờ toàn chữa mò, không có sơ đồ mạch (circuit digram), chữa một tivi ít nhất vài ngày, radio cũng vậy. Thợ Anh Quốc chúng tôi, một ngày buộc phải chữa 8 chiếc tivi hay radio, bởi vì có sơ đồ mạch, đầy đủ dụng cụ đo, chỉnh và sẵn các linh kiện thay thế.

Từ năm 1998, nghề sửa chữa tivi, video, C.D và DVD suy thoái, hàng điện tử quá rẻ, rẻ hơn cả tiền công sửa. Chả ai dại gì đem sửa, hết bảo hành, hỏng, bỏ, mua cái mới. Các cửa hàng sửa chữa, công ty lớn như Radio Rental, Master Care… chuyên bào hành, sửa chữa đồ điện tử, phá sản, thợ sửa chữa thất nghiệp.

Năm 1981, vợ gửi quần áo và radio cát-sét, năm 1982 gửi vải và tivi đen trắng biếu các cụ. Năm 1983, thư cậu em gửi sang, bảo, thày muốn anh chị gửi chiếc xe mô-tô. Nhận được tin này, cười gần như mếu.

Một chiếc xe máy loại thường, second hand, 4 năm cũ, khoảng trên dưới hai trăm bảng, tốt chán, gửi hàng phải tiền nghìn. Đơn giá £5/kg, chiếc xe máy + thùng gỗ phải hàng trăm kí. Tiền thừng quá tiền bò. Thời bấy giờ, chiến tranh lạnh đang nóng dần, quan hệ giữa Anh và Việt Nam như tảng băng Bắc cực, hàng hóa chuyển về, qua nước thứ 3. Tài khoản ngân hàng chưa tới 400 bảng, tiền đâu ra. Nhà tôi bảo, đây là ý cậu Bẩy thôi, chứ cụ trên 70, xe pháo gì.

Thôi, lờ như không nhận đượcc thư.

Năm 1983, bà mẹ thím tôi bị ung thư. Thư các em bà ở Việt Nam gửi sang tới tấp, như bươm bướm. Lệnh ra, phải khẩn cấp mua thuốc gửi về cứu mẹ. Họ cứ nghĩ ở Anh mua thuốc dễ như mua thịt cá không bằng. Quy chế quản lý thuốc ở Anh rất chặt, tất cả các loại thuốc chữa bệnh đều phải có đơn bác sĩ, không thể mua chui được. Bác sĩ không kê đơn khống, họ không muốn mất cần câu cơm và ngồi tù. Giải thích thế nào cũng không tin. Chú thím tôi họp gia đình, bắt đàn con đóng góp. Đợt đầu “thu thuế” được khá nhiều, gần 400 bảng, gửi khẩn cấp. Hai tháng sau, thư sang, cậu em vợ xúi, anh chị đến ngay đại sứ quán Việt Nam ở London vào Hội Việt Kiều Yêu Nước, có thế gia đình nhận tiền và quà dễ dàng.

Chú tôi cười gằn. Đồ dở hơi!

Không hồi âm, coi như thư thất lạc.

Hầu hết các gia đình người Việt gốc Hoa, có vợ người Việt, cha mẹ anh em bên vợ còn kẹt ở Việt Nam, tâm trạng giống nhau: Sợ nhận thư Việt Nam.

Thư nào cũng theo công thức:

– Mở đầu: hỏi thăm sức khỏe. Cha mẹ, anh chi em bên nhà thương nhớ lắm.

– Thân bài: cha già mẹ yếu, sức khỏe ngày càng giảm sút, cần thuốc, cần tiền tẩm bổ. Cháu A sắp lấy chồng, cháu B. sắp lấy vợ, cháu C. có lẽ phải đi bộ đội, vài “vé” chắc hoãn được.

– Kết luận: Cả nhà mong tin và sự trợ giúp của anh chị, cô chú v.v…

Mời đọc tiếp: Chương [17]

Lâm Hoàng Mạnh
Nguồn: Tác giả gửi

(1) Nguyễn Văn Hoàng Đạo, đảng viên cộng sản 1930, cựu trưởng Ty Công An Thanh Hóa, tình báo cộng sản, trá hàng Pháp 1949, làm Quốc Vụ Khanh cho Quốc trưởng Bảo Đại. Năm 1951 đã lừa được chính phủ Bảo Đại cướp 1 tàu hải quân đem về cho Việt Minh. Bị thất sủng sau khi ông Hồ qua đời.

Đã đóng bình luận.