Sông lấp: môt bài thơ toàn bích

Posted: 10/01/2014 in Biên Khảo / Phê Bình, Phạm Đức Nhì

Phạm Đức Nhì

tu_xuong
Nhà thơ Tú Xương (1870-1907)

Sau buổi nhậu cuối tuần, mấy thằng bạn ngồi uống trà, cà phê bù khú chuyện văn chương. Được một lúc, câu chuyện lan man đến thơ: làm thơ nên làm thơ dài hay thơ ngắn? Một ông bạn, sau khi nói một câu ba phải để vừa an toàn (khỏi sợ sai) vừa hợp lòng mọi người: “Thơ dài hay ngắn hoàn toàn tùy sở thích của thi sĩ”, rồi có lẽ do thúc đẩy của hơi men, bỗng nổi hứng tuyên bố thẳng thừng:

“nhưng những bài thơ ngắn quá (4 câu hoặc ít hơn) không đủ để tác giả bày tỏ lòng mình; nó giống như mấy thằng cha mắc chứng sậu tinh, chưa nhập cuộc đã khóc ngoài quan ải, chưa đi đến chợ đã hết tiền, để người bạn tình nằm tô hô, thất vọng trên giường.”

Vâng! Tôi nhiều khi đọc thơ, cũng có cái cảm giác thất vọng như cô gái “nằm tô hô trên giường.” Một bài thơ ngắn quá, chỉ giống như một màn đá phạt trong bóng đá, một pha phối hợp nhỏ của 2, 3 cầu thủ phe mình để vượt qua một cầu thủ đối phương. Ở đây kỹ thuật cá nhân được tận dụng tối đa; cầu thủ có thể phô diễn tài đi bóng, che bóng, lừa bóng, hoặc sút bóng bay theo đường vòng cung vào lưới. Nhưng người ta không thấy được sự lên xuống nhịp nhàng của cả 11 cầu thủ trên sân, không có cơ hội để thấy được tài của huấn luyện viên trong việc tổ chức, phối hợp đấu pháp toàn đội. Trong một bài thơ ngắn thi sĩ phải chắt lọc từng chữ, từng câu để tự nó tạo được âm vang, hình ảnh đặc biệt, hầu lưu lại một chút dấu ấn trong lòng người đọc, bởi, với số chữ giới hạn, ông không có chỗ, không đủ thời gian đào con mương, trút cảm xúc trong lòng mình xuống để nó cuồn cuộn chảy thành dòng, sóng sau dồn sóng trước như thác đổ, khuấy động tâm hồn người đọc. Trong một bài thơ quá ngắn người đọc không có dịp để thấy cái bề thế của trận địa chữ nghĩa. Nó chỉ như một cuộc phục kích, đột kích cấp tiểu đội, trong đó người chỉ huy không có dịp để nghe tiếng rít xé trời của phản lực, tiếng gầm của hải pháo và pháo binh diện địa, tiếng ầm ì của thiết giáp, và đặc biệt, không có dịp để thấy từng đoàn quân, từng đoàn quân, hàng hàng lớp lớp tiến lên chiếm lĩnh mục tiêu.

Với Sông Lấp của Tú Xương, một bài thơ rất ngắn, chỉ có 4 câu lục bát 28 chữ, người ta phải xem nó là một ngoại lệ rất hiếm hoi.

Trước khi quay lại cái giai đoạn lịch sử cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 để tìm hiểu bối cảnh văn hóa, xã hội của Việt Nam lúc tác giả viết Sông Lấp rồi phân tích để tìm cái hay của bài thơ, tôi xin kể một kinh nghiệm đã trải qua để làm thí dụ so sánh.

Có một dạo tôi bị nhốt xà lim ở A20, Xuân Phước. Chế độ ăn uống ở xà lim cực kỳ hà khắc. Mỗi ngày 2 bữa. Mỗi bữa chỉ có 2 muỗng cơm và 2 muỗng nước. Đến ngày thứ 20 trở đi, vì không có chất bổ dưỡng và mất nước, các tế bào nằm chết xếp lớp trên người tôi, tạo thành những lớp da cứ bong ra như vẩy cá. Tôi ngồi bóc hết lớp da này đến lớp da khác và nhìn thân người mình cứ teo tóp đi một cách rõ ràng. Đến ngày thứ 40 thì mông và bắp đùi đã gần như không còn thịt nữa….Đến ngày thứ 50 thì toàn thân chỉ còn một lớp da mỏng bọc xương, ngực thì có thể nhìn thấu từng mảnh xương sườn, đầu thì như một cái sọ dừa khô. Lúc ấy, thỉnh thoảng mê thiếp đi, tôi đã thấy thần chết, tay cầm lưỡi hái, từng bước đến gần bệ nằm của mình mà chân thì bị cùm, cửa xà lim thì đóng kín, khóa chặt, không làm sao chạy thoát được. Cái cảm giác ấy thật đáng sợ đến rùng mình.

Với Tú Xương thì lại khác. Nỗi sợ đến độ ám ảnh của tôi là sự suy kiệt thể xác. Với ông, là sự mất mát tinh thần. Ông không có cái vinh dự đỗ đầu cả 3 kỳ thi như Tam Nguyên Yên Đỗ, hoặc khiêm nhường hơn, đỗ Giải Nguyên (đầu thi Hương) như Nguyễn Công Trứ để được bổ quan, đem tài sức của mình phục vụ quê hương, đất nước. Ông chỉ đỗ Tú Tài (Tú rốt bảng trong năm Giáp Ngọ), không được vua ban áo mão, vinh quy bái tổ, sau đó được bổ quan cửu phẩm, như những ông Nghè, ông Cống. Nhưng ở làng Vị Xuyên quê ông, ông cũng được tiếp rước long trọng, nở mày, nở mặt với bà con, thôn xóm. Trong những buổi hội họp, tiệc tùng, đình đám, ông lại còn được vinh dự ngồi chiếu tiên chỉ (1). Hơn nữa, với sự tự tin vào văn tài của mình, với một tinh thần minh mẫn trong một thân thể khỏe mạnh của tuổi trung niên, đường thi cử của ông vẫn còn rộng mở. Ông có lý do để hy vọng. Hy vọng một ngày nào đó đỗ đạt cho bõ công đèn sách, đền đáp công lao của bà vợ đảm đang, đem tài sức phục vụ đất nước.

Nhưng thời thế không đứng về phía ông. Những năm cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, nước Việt Nam đã bị người Pháp hầu như nắm toàn quyền cai trị. Triều đình bù nhìn nhà Nguyễn chỉ có quyền bổ nhiệm một số chức quan “hữu danh vô thực”, còn những chức vụ có thực quyền lèo lái guồng máy hành chánh của đất nước, đại đa số đều do người Pháp chỉ định. Ở miền trung và miền bắc, thi Hương chưa bị chính thức bãi bỏ nhưng số người học chữ Nho đã thưa giảm rất nhiều. Chính Tú Xương đã phải lên tiếng xác nhận:

Cái học nhà Nho đã hỏng rồi
Mười người đi học chín người thôi.
(Cái Học Nhà Nho)

Ngay cả việc thi cử cũng không còn cái vẻ nghiêm trang, long trọng như ngày xưa

Lọng cắm rợp trời, quan Sứ đến,
Váy lê quét đất, mụ đầm ra.
(Vịnh Khoa Thi Hương)

Mà dù có đỗ đạt đi nữa cũng đâu còn cái vinh dự, cái niềm tự hào như thời đất nước còn độc lập, tự chủ

Một đàn thằng hỏng đứng mà trông
Nó đỗ khoa này có sướng không
Trên ghế bà đầm ngoi đít vịt,
Dưới sân ông cử ngỏng đầu rồng !
(Giễu Người Thi Đỗ)

Thêm vào đó, người Pháp cũng đã mở trường huấn luyện và một số kỳ thi riêng của họ để chọn người làm việc. Và cũng chính Tú Xương đã phải cay đắng than thở:

Nào có ra gì cái chữ Nho
Ông Nghè, ông Cống cũng nằm co
Chi bằng đi học làm thầy Phán
Tối rượu sâm banh, sáng sữa bò.
(Chữ Nho)

Từng ngày, từng tháng trôi đi. Khung cảnh chính trị, văn hóa, xã hội không ngừng đổi thay trước mắt theo chiều hương xấu. Kho kiến thức sau bao năm đèn sách của ông – như đồng tiền trong một nền kinh tế lạm phát phi mã – ngày càng giảm giá trị. Con người sinh học của Tú Xương vẫn còn lây lất sống, nhưng trong tâm hồn ông, niềm hy vọng, niềm tin vào tương lai, đang đi dần đến cõi chết, không còn phương cứu vãn. Bài thơ Sông Lấp đã được viết trong hoàn cảnh đó.

SÔNG LẤP

Sông xưa rày đã nên đồng
Chỗ làm nhà cửa, chỗ trồng ngô khoai
Vẳng nghe tiếng ếch bên tai
Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò.

Tứ : Nghe tiếng ếch vọng lại từ khu nhà, vườn tược được xây dựng ngay trên lòng sông Vị Hoàng (nay đã bị lấp), tác giả giật mình tưởng tiếng gọi đò vọng lại và nhớ đến bến đò cũ, con sông xưa.

Ý: Tác giả nhớ thương, tiếc nuối cái thời Nho học – mà tác giả là một sĩ tử – còn được coi trọng.

Năm 1832, sau khi triều đình cho đào sông Đào thay thế vai trò của sông Vị Hoàng, nhằm rút ngắn lộ trình đường thuỷ. Sông Vị Hoàng trở nên kém tác dụng và bị phù sa lấp dần. Cuối thế kỷ XIX, do cần đất để xây dựng các công sở, người Pháp đã lấp sông Vị Hoàng, vì thế con sông này không còn nữa. Nhiều người gọi là sông Lấp, ấy là gọi để nhớ thế thôi, chứ sông đã lấp rồi thì sao còn sông nữa (2).

Dựa vào 2 câu cuối của bài thơ tôi có thể suy luận ra mấy điều sau:

  • Khúc sông Vị Hoàng chảy qua khu nhà của Tú Xương thuộc làng Vị Xuyên không có cầu bắc qua sông.
  • Nhà ông Tú không ở sát, nhưng cũng không xa bến đò ngang lắm; ở đấy có thể nghe được tiếng gọi đò vọng lại.
  • Ông rất nặng lòng với khúc sông đầy kỷ niệm, với quãng đời lúc con sông chưa bị lấp, đến nỗi chỉ “vẳng nghe tiếng ếch bên tai” ông cũng giật mình tưởng tiếng gọi đò từ những năm xưa cũ.

Nhưng nếu “vẳng nghe tiếng ếch bên tai” mà người đọc chỉ tưởng “tiếng ai gọi đò” để từ đó nhớ đến bến đò ngang cạnh nhà ông và rồi đến con sông Vị Hoàng ngày xưa (nay đã bị lấp) thì … bất công với Tú Xương quá. Nếu dòng liên tưởng chỉ dừng ở đấy thì bài thơ đã bị giảm đi ít nhất 90% giá trị nghệ thuật. Nếu chỉ có thế người ta đâu có gọi Sông Lấp là “tiếng thở dài thế sự” của Tú Xương. Dĩ nhiên, ông cũng nhớ đến con sông mà vợ ông đã “quanh năm buôn bán” ở đó để nuôi sống một gia đình đông đúc “năm con với một chồng”. Nhưng con sông chỉ đóng vai chiếc cầu để ông trở về cái thời tạm gọi là vàng son của ông, cái thời còn ngồi chiếu tiên chỉ của làng Vị Xuyên, cái thời mà mọi người gọi ông là Ông Tú với giọng kính trọng một nhà nho có văn tài, cái thời ông còn tràn trề hy vọng khi nghĩ đến kỳ thi sắp tới, và trong lòng ông, niềm tin ở quê hương đất nước vẫn còn rực sáng.

Còn cái lúc ông viết Sông Lấp, ách cai trị của người Pháp đã lan tỏa, đã xâm nhập vào mọi ngõ ngách của cuộc sống người dân Việt, nền Nho học đang lụi tàn, con đường tương lai của ông đang đi vào ngõ cụt. Ông đành quay lại nhìn, nuối tiếc cái thời xa xưa ấy để rồi buông “tiếng thở dài thế sự”.

Nhận Định Nghệ Thuật

Dù bằng con mắt của người đọc thơ khó tính, dù áp dụng cách nhìn nhận, đánh giá thơ ca của thời đại mới, tôi tin rằng người đọc vẫn khó tìm ra khuyết điểm của bài thơ. Nhưng cái hay của bài thơ thì lại khá nhiều và độc đáo.

  1. Không có hội chứng nhàm chán vần – Những thể thơ truyền thống, đặc biệt là thơ lục bát, rất dễ mắc phải hội chứng nhàm chán vần. Sông lấp chỉ có 4 câu, quá ngắn, nên thoát khỏi chứng bệnh này.
  2. Tứ thơ mạch lạc, thủ pháp “show, not tell” áp dụng rất thành công, từ liên tưởng này đến liên tưởng khác theo một trình tự hợp lý, người đọc rất dễ cảm nhận.
  3. Câu chữ đắc địa, khó thay đổi hoặc thay thế

    Chúng ta thử đọc bài thơ Không Đề, đã được nhà phê bình văn học Nguyễn Hưng Quốc khen là “một trong những bài thơ hay nhất, hoàn chỉnh nhất của Nguyễn Bính” (3)

    Hôm nao dưới bến xuôi đò
    Thương nhau qua cửa tò vò tìm nhau
    Anh đi đấy, anh về đâu?
    Cánh buồm nâu, cánh buồm nâu, cánh buồm…

    Câu thứ 4 của bài thơ thật tuyệt vời. Đúng như Nguyễn Hưng Quốc nhận định:

    Người con gái vẫn còn đứng đó, bên thành cửa sổ, vời vợi nhìn theo. Câu thơ cắt thành ba nhịp, tưởng như mỗi nhịp ngắt là một làn sóng đột nhiên trào lên, che khuất cánh buồm. Bao nhiêu lần khuất rồi hiện. Lần cuối cùng, đã xa lơ xa lắc, người con gái chỉ còn nhìn thấy, mờ thật mờ, hình ảnh cánh buồm thấp thoáng, nhòa đi trong khói sóng bập bềnh. Không còn thấy màu sắc nữa: chữ “nâu” ở nhịp cuối biến mất (3).

    Câu thứ 4 của bài thơ hay như thế, nhưng còn 3 câu đầu thì sao? Theo tôi, không đắt lắm. Một thi sĩ nào đó có thể khá dễ dàng thay thế 3 câu đầu bằng 3 câu khác để có những hoàn cảnh chia tay khác nhau; mẹ chia tay con, bà chia tay cháu, vợ chia tay chồng, hai người bạn chia tay nhau… miễn sao chữ cuối của câu 3 có vần au hay âu để vần với “cánh buồm nâu” ở câu cuối.

    Trong Sông Lấp mỗi chữ, mỗi câu, mỗi ý tưởng, mỗi hình ảnh đều được xếp đặt, nối kết như một thế trận. Thật khó có thể thay chữ này bằng chữ kia hoặc câu này bằng câu khác mà không làm giảm giá trị nghệ thuật của bài thơ. Riêng chữ “vẳng” và 2 chữ “giật mình” thì phải nói là đắt như kim cương. Không phải là tiếng sấm, tiếng sét, tiếng súng nổ, tiếng cãi nhau to tiếng mà chỉ là “vẳng” nghe tiếng ếch từ xa vọng lại, cũng đủ làm ông Tú “giật mình” nhớ đến một chuỗi những hình ảnh của quá khứ xa xưa. Tâm hồn ông chắc phải thẳng căng như sợi dây đờn nên chỉ một chạm nhẹ cũng rung lên bần bật, tạo nên “tiếng kêu khắc khoải” làm tái tê lòng biết bao nhiêu người đọc thơ ông.

    Hơn nữa, cái hay của Không Đề chỉ ở câu thứ 4, giống như đội bóng có một cầu thủ siêu sao. Cái hay của Sông Lấp là cái hay tổng thể, cái hay toàn bài; ở đây, đội bóng có một huấn luyện viên tài ba, xếp đặt 11 cầu thủ vào từng vị trí phù hợp với sở trường và lối chơi riêng của họ, tạo được sự phối hợp gắn bó, nhịp nhàng của toàn đội. (Nếu hoán chuyển vị trí của các cầu thủ hoặc thay thế một cầu thủ trong đội bằng một cầu thủ khác thì hiệu quả của đấu pháp toàn đội sẽ giảm sút)

  4. Có lẽ cái hay nhất của Sông Lấp, có thể tôn giá trị nghệ thuật của bài thơ lên nhiều nhất, là phép ẩn dụ, đúng hơn phải nói là sự kết hợp tài tình giữa thủ pháp “show, not tell” và phép ẩn dụ để diễn đạt ý của tác giả.

Cái thú khi đọc một bài thơ có phép ẩn dụ – tác giả nói về cái này mà ngụ ý cái kia – là lần theo tứ thơ để tìm, để khám phá ý của tác giả. Phép ẩn dụ càng kín thì, khi người đọc, bằng khả năng liên tưởng của mình, hiểu được, cảm thông được tâm tình mà tác giả muốn chia sẻ, sự ngạc nhiên và thích thú càng gia tăng, bài thơ càng được đánh giá cao.

Phép ẩn dụ trong Sông Lấp rất kín, kín đến nỗi ngay cả có người bình bài thơ ấy cũng không thấy được, cảm được ẩn ý của tác giả. (4) Có thể nói Sông Lấp không phải là một đoàn quân trùng trùng, điệp điệp, nhưng lại có bề thế của một mặt trận, một điệp vụ tình báo siêu đẳng, đưa được những điệp viên thượng thặng, bí mật nằm giữa bộ chỉ huy của quân địch. Phép ẩn dụ ấy được kết hợp một cách tài tình với thủ pháp “show, not tell”, tạo ra một chuỗi những chiếc cầu liên tưởng, dẫn người đọc đi từ hình tượng này đến hình tượng khác. Từ tiếng ếch kêu, trong hoàn cảnh riêng của mình, trong tâm tình riêng của mình, nhà thơ “tưởng tiếng ai gọi đò”. Đây là một liên tưởng rất riêng tư; nếu ông không bộc bạch, bày tỏ thì người đọc khó có thể đoán ra được. Biết thế nên ông đã đưa tay dắt chúng ta bước lên chiếc cầu đầu tiên. Đến 2 chiếc cầu liên tưởng kế tiếp thì người đọc đã có thể tự mình qua được; từ tiếng gọi đò nhớ bến đò ngang, từ bến đò ngang nhớ con sông Vị Hoàng ngày xưa, nay đã bị lấp. Khi từ con Sông Lấp đặt chân lên chiếc cầu sau cùng, bằng vốn kiến thức về lịch sử, văn học sử, cộng với một chút trực giác thi ca, người đọc sẽ bắt gặp nỗi lòng sâu kín của nhà thơ: nhớ thương, tiếc nuối cái thời tạm gọi là vàng son của mình, cái thời Nho học vẫn còn chỗ đứng khá trang trọng trong đời sống người dân Việt. Và người đọc sẽ tròn xoe mắt “À” lên một tiếng khoái trá.

Với Trương Kế, tiếng chuông chùa Hàn San chính là chữ Duyên của đạo Phật, là chiếc phao giúp ông bơi vào bờ bến thi ca, để lại cho đời một bài thơ bất hủ: Phong Kiều Dạ Bạc. Với Trần Tế Xương, tiếng ếch giữa đêm khuya đã khiến ông giật mình thảng thốt nhớ đến bến đò cũ, con sông xưa, và rồi từ con sông ấy đã quay lại để thương, để nhớ, để tiếc một quãng thời gian đầy kỷ niệm của đời mình. Nhờ tiếng ếch ấy, nhờ nỗi nhớ thương, tiếc nuối ấy, ông đã đóng góp vào kho tàng văn chương của Việt Nam và của thế giới một tuyệt tác thi ca, một bài thơ toàn bích: Sông Lấp.

Chú thích:

1) Người đứng đầu hội đồng kỳ dịch trong làng.

  • Nếu làng xét ngôi thứ trong hội đồng theo “thiên tước” thì ai cao tuổi nhất là tiên chỉ.
  • Nếu làng xét ngôi thứ trong hội đồng theo “nhân tước” thì ai đỗ cao nhất hoặc có phẩm hàm cao nhất thì ngồi chiếu tiên chỉ. (Wikipedia Tiếng Việt)

Tú Xương tuy chỉ đỗ Tú Tài nhưng có lẽ làng Vị Xuyên xét ngôi thứ trong hội đồng theo “nhân tước” và lúc ấy chưa có người đỗ đạt nên ông được trọng vọng mời ngồi chiếu tiên chỉ.

2) mobile.vietgle.vn

3) Tứ Thơ, Tìm Hiểu Nghệ Thuật Thơ Việt Nam, Nguyễn Hưng Quốc

4) Về Bài Thơ Sông Lấp Của Trần Tế Xương, Vũ Bình Lục, lethieunhon.com

PHẦN VIẾT THÊM

Khoảng cuối năm 2011, một người bạn văn chương ở trong nước gởi cho tôi 4 bài thơ kèm theo một câu hỏi như kiểu đánh đố: “Ai hoài cổ hơn ai?” Tôi hiểu ý anh bạn, nhưng theo tôi, cách đặt vấn đề của anh không được chính xác lắm. Với một người thích đọc thơ và thỉnh thoảng cũng làm thơ như tôi, câu hỏi đó phải là: “Trong 4 bài thơ thể hiện tâm tình hoài cổ, bài thơ nào hay hơn? Hoặc tài thơ của tác giả nào cao hơn?” Đến khi tra cứu để bình bài thơ Sông Lấp tôi lại đọc được bài Về Bài Thơ Sông Lấp Của Tú Xương (1) của Vũ Bình Lục, trong đó tác giả cho rằng: “… Tú Xương và Nguyễn Khuyến, căn cốt vẫn là những nhà thơ trữ tình đặc sắc của dân tộc. Phải nói thêm là cả hai cụ, đều trữtình ngay cả trong trào phúng và ngược lại. Riêng về thơ, về tài thơ thì tôi cũng muốn xếp cụ Tú Xương cao hơn một tí. Cụ Nguyễn Khuyến kinh điển hơn, uyên bác hơn, nhưng đó lại chính là chỗ gây khó cho nhà thơ nổi tiếng này.”

Với tôi, thi sĩ, ngay cả trong cùng một loại thơ, như thơ trữ tình chẳng hạn, không phải lúc nào cũng sáng tác đều tay như một cỗ máy sản xuất một món hàng công nghệ. Có khi cao hứng, chữ nghĩa, ý tứ từ trên trời rơi xuống, viết được bài thơ rất hay. Nhưng cũng có khi, bài thơ viết ra chỉ muốn vứt vào sọt rác, hoặc giả đem trình làng, thì chỉ như viên sỏi vứt xuống biển, chẳng thấy tăm hơi gì cả. Có thi sĩ chỉ viết có vài bài mà nổi danh, nhưng cũng có người in hết tập này đến tập khác mà khi xưng tên thì chả ai biết ngài là ai cả. Bởi vậy, tôi không dám dùng phương cách đem “gia tài thơ” của cả hai thi sĩ đặt lên bàn cân rồi kết luận ai tài hơn ai. Công việc ấy không phải là không làm được, nhưng phải cần một ê-kíp những nhà phê bình văn học có tài, phải ra công tra cứu ngọn ngành, phân tích chi li, kỹ lưỡng, phải có óc tổng hợp, phải cân nhắc đủ chiều, đủ mặt. Mà dù có làm được việc ấy, kết luận đưa ra vẫn còn đầy tính chủ quan, còn gây nhiều tranh cãi. Thôi thì “mèo bé bắt chuột con”, thỉnh thoảng tôi chỉ dám đem bài thơ này so sánh với bài thơ kia (nhưng chỉ giới hạn scope của việc so sánh vào một đặc điểm nào đó thôi). Theo tôi, nếu chọn hai bài thơ thuộc loại “những con tương cận”, nghĩa là có chung một đặc điểm nào đó (chung một đề tài, chung một thủ pháp nghệ thuật…) thì việc so sánh sẽ dễ hơn. Hồ Trường của Dương Bá Trác và Cảm Hoài của Đặng Dung là “những con tương cận” vì có chung một đề tài, một tâm sự; đó là hào khí của một sĩ phu trước cảnh nước nhà nguy biến. Dĩ nhiên, khi so sánh, có người coi trọng cách dùng chữ, có người coi trọng cái thâm trầm, sâu sắc, người khác lại thích cái hào sảng, phóng khoáng, hơi thơ nóng bỏng, dòng chảy cuồn cuộn như thác đổ. Và từ đó họ có sự đánh giá cao thấp khác nhau.

Trong tinh thần đó tôi thấy việc tìm câu trả lời cho câu hỏi của anh bạn về 4 bài thơ là khả thi, là tương đối dễ dàng. Bốn bài thơ đó là:

  1. Nhớ Quy Nhơn của Vương Linh.
  2. Thăng Long Thành Hoài Cổ của Bà Huyện Thanh Quan.
  3. Ông Đồ của Vũ Đình Liên.
  4. Sông Lấp của Tú Xương.

Hoài cổ là nhớ thương, tiếc nuối một thời đã qua. Như vậy, Nhớ Quy Nhơn, đúng ra, là tâm tình hoài hương chứ không hẳn là hoài cổ. Dĩ nhiên, trong hoài hương đã ẩn chứa hoài cổ (Nhớ Quy Nhơn là nhớ cả cái thời gian mình đã sống ở Quy Nhơn); tuy nhiên, ở đây khung trời quê hương mới chính là tâm điểm của bài thơ. Ba bài còn lại thì đúng là hoài cổ; nhớ thương, tiếc nuối đều xoáy vào “một thời đã mất”.

NHỚ QUY NHƠN (2)

Không đủ ban ngày để nhớ nhau
Tối nằm chợp mắt đã chiêm bao
Nửa đêm trở dậy hương rừng thoảng
Tương biển Quy Nhơn gió thổi vào.
(Vương Linh, 1921-1992)

Không rõ trước khi rời quê hương miền trung, tập kết ra bắc (1954), chàng thanh niên Lê Công Đao (Vương Linh) có được đọc và học thơ Trần Tế Xương không, chứ đọc Nhớ Quy Nhơn của ông tôi thấy rất đậm mùi … Sông Lấp. Tuy không sử dụng phép ẩn dụ, Nhớ Quy Nhơn cũng dùng cách bày tỏ, diễn tả chứ không kể lể, biện giải dài dòng (show, not tell), cũng ngửi cái này, tưởng cái kia. Riêng mức độ tài năng thì cao thấp rất rõ nét. Thôi thì cứ cho hoàn toàn là do tình cờ mà hai bài thơ có hơi hướm giống nhau, chỉ riêng thủ pháp “show, not tell” đã cho người đọc thấy rõ sự “không khéo” của Vương Linh. Trước hết, thay vì dùng hình ảnh khác để người đọc liên tưởng đến Quy Nhơn thì Vương Linh lại bí bách đến độ ôm hai chữ Quy Nhơn, rất vụng về, nhét vào câu thứ tư:

Tưởng biển Quy Nhơn gió thổi vào

rồi cái tựa Nhớ Quy Nhơn của bài thơ thì lại “lạy ông tôi ở bụi này”, khiến cái phương cách “show, not tell” trở thành “half-show, half- tell”, nửa đời, nửa đoạn.

Nhớ Quy Nhơn đưọc chọn đăng trong tập Thơ Việt Nam Thế Kỷ XX, Thơ Trữ Tình và được Nguyễn Bùi Vợi khá mạnh miệng ngợi khen. (2)

Với tôi, giá trị nghệ thuật của Nhớ Quy Nhơn chỉ ở mức trung bình. Không kể cái “tội” na ná vóc dáng của Sông Lấp, mà chỉ riêng cái thủ pháp “half-show, half-tell” nửađời, nửa đoạn cũng đủ xếp bài thơ ở cuối bảng trong số 4 bài thơ mà tôi được “yêu cầu” bình phẩm.

Với Nhớ Quy Nhơn của Vương Linh ở hạng tư, vị trí hạng ba sẽ dành cho Thăng Long Thành Hoài Cổ của Bà Huyện Thanh Quan. Lý do: TLTHC là một bài thơ Đường luật hay, ngôn ngữ sang cả, cảm xúc dạt dào nhưng có hai khuyết điểm mang tính thời đại là hình ảnh khuôn sáo và thể thơ gò bó. Còn Ông Đồ và Sông Lấp đều là tuyệt tác, đều có những “tuyệt chiêu” trong thơ ca. Việc chọn lựa vị trí hạng nhì và hạng nhất cũng làm tôi có một chút đắn đo, suy nghĩ. Sau đây là một vài điểm so sánh, cân nhắc:

  • Cả hai đều áp dụng thủ pháp “show, not tell” thành công.
  • Cả hai đều có phép ẩn dụ hoàn hảo, kín kẽ (không sơ hở); tuy nhiên, phép ẩn dụ của Sông Lấp tài tình hơn, sâu kín hơn.
  • Tứ thơ của cả hai bài đều mạch lạc; cảm xúc, hình ảnh tuôn chảy theo một trình tự hợp lý.
  • Trận địa chữ nghĩa của Ông Đồ lớn hơn, bề thế hơn; nhưng câu chữ, âm thanh, hình ảnh, cảm xúc của Sông Lấp được xếp đặt, nối kết như một thế trận chặt chẽ hơn.
  • Ông Đồ có “tuyệt chiêu” thư trung hữu họa; Sông Lấp không có.
  • “Tuyệt chiêu” thư trung hữu họa của Ông Đồ không hoàn hảo; bức tranh thứ năm vẫn cồm cộm chữ nghĩa.
  • Sông Lấp không có hội chứng nhàm chán vần; vị ngọt thơ ca của Ông Đồ hơi đậm.

Dựa vào những phân tích trên đây, tôi, với cái nhìn chủ quan của mình, chọn Sông Lấp vào vị trí hạng nhất. Như vậy, thứ tự (từ cao xuống thấp) của 4 bài như sau:

  1. Sông Lấp.
  2. Ông Đồ
  3. Thăng Long Thành Hoài Cổ
  4. Nhớ Quy Nhơn.

Nếu có ai trong số người đọc có cái nhìn khác, nhận định khác, cách xếp hạng khác xin e-mail cho tôi biết. Tôi sẽ thêm vào phần “ý kiến bạn đọc”.

Phạm Đức Nhì
Galveston, đầu năm 2014

Rất mong nhận được chỉ điểm, bổ khuyết, phê bình của những người yêu thơ. (nhidpham@gmail.com)

Chú thích:

(1) lethieunhon.com

(2) Thơ Việt Nam Thế Kỷ XX, Thơ Trữ Tình, Nhà xuất bản Giáo Dục 2004, trang 418.

(3) Xin xem thêm Đọc Thăng Long Thành Hoài Cổ Nghĩ Về Vị Trí Của Thơ Đường Luật

(4) Xin xem thêm Ông Đồ: Những Bức Tranh Thơ.

Nguồn: Tác giả gửi

Đã đóng bình luận.