Bên kia niềm mơ ước

Posted: 12/05/2014 in Minh Nguyễn, Truyện Ngắn

Minh Nguyễn

boi_qua_song_den_truong

Ngồi trong nhà lão Tam hết nhìn ra đám cỏ lau bị gió thổi nghiêng ngả ngoài bến sông, lại quay nhìn lên ngôi trường cấp hai nằm trên đồi cao, nơi có hàng chục trẻ em sắp đến giờ tan trường. Theo lão thời tiết thế này chẳng sớm thì muộn, mưa bão cũng sẽ theo nhau kéo về, càng khiến cho lão thêm lo lắng: “ Liệu nhà trường có chịu để bọn trẻ ra về sớm, hay đợi tới lúc mưa gió bão bùng mới gióng trống tan trường?”

Buồn lòng, lão ngồi buồn nhìn mặt nước đục màu phù sa, chợt nhớ những lời hứa từ miệng một số quan chức “sẽ sớm xây dựng tại bến sông một cây cầu”. Nhưng sự kỳ vọng thay thế những chuyến đò qua lại nơi bến sông mỗi ngày bằng một cây cầu, thực ra chỉ là sự đợi chờ trong viễn vông, chưa biết đến bao giờ mới được thực hiện. xem ra quá nguy hiểm đối với mọi người trong mùa mưa lũ, thực ra chỉ là sự viễn mơ mang tính phù phiếm. Cho nên, con đò củ kỷ của lão dù chắp vá nhiều mảng, song vẫn còn giá trị trong việc đưa đón mọi người qua sông đi làm, mua bán ở chợ, học hành mỗi ngày; bởi ngoài con đò là phương tiện dyt nhất ra thì không còn cách nào khác để qua sông. Hơn nữa, ai cũng biết việc chèo đò của lão là tự nguyện, là niềm vui chứ không mấy quan tâm tới chuyện làm ăn kiếm tiền, cho nên nếu có trả công cho lão bằng vài lon gạo, một mớ khoai củ, một ít mắm muối, dưa cà, lão vui lòng đón nhận không chút so bì.

– Lão Tam ơi! Có tiếng gọi tên lão ngoài bến sông.

– Lão đây!

– Gió lớn quá, lão mau ra xem lại căn nhà của lão, nó sao sao ấy . . .

Sao là sao, cùng lắm cái chòi người ta vẫn quen gọi là căn nhà của lão, có trở thành một đống phế thải cũng chẳng ảnh hưởng gì tới hòa bình thế giới. Lầm bầm một hồi, sau đó lảo cũng bước ra cửa bên dáng đi chậm chạp của người có tuổi. Điều này cũng dễ hiểu, vì chẳng ai có thể tự hào rằng mình trẻ mãi không già, do đó cái tuổi hơn tám mưoi của lão cũng không phải là ngoại lệ.

Dấm dẳng, lão đi ra gần đến giữa sân mới quay đầu lại,nhìn căn chòi trống huơ trống hoác của mình. Căn chòi thấp le te, chỉ đủ cánh cửa chui ra chui vào, chỉ đủ kê chiếc giường tre ọp ẹp, chỉ đủ đặt chiếc bàn ngồi ăn cơm hay hút thuốc; còn lại trống trơn như chính cuộc sống tạm bợ mà lão thường hay gọi “ở trọ trần gian”. Theo lão, đã xem cuộc đời là cõi tạm, thì chuyện yêu-ghét, giàu-nghèo chẳng còn nghĩa lý gì đối với bất kỳ ai khi nhắm mắt xuôi tay đi về miền miên viễn. Cuộc đời. Lão lặng lẽ bước đi trong tiếng gió rít nghe rợn người bên những hàng cây, báo hiệu một ngày giông bão sắp đến, không chỉ đe dọa cuộc sống người dân quanh bến sông, mà cả những làng mạc trải dài dưới chân núi. Bão lũ. Lão nhớ như in hình ảnh trận cuồn phong năm nào, kéo theo mưa gió cùng với việc lở đất kinh hoàng; biến vùng quê hẻo lánh yên bình, phút chốc tan thương trong cảnh nhà tan cửa nát, cây cối gảy đổ, xác người, xác súc vật, cùng lúc bị vùi lấp trong lớp dày bùn nhão. . .

Tùng! Tùng! Tiếng trống tan trường từ trên đồi vọng xuống bến sông, đánh thức giấc mơ về cây cầu, vẫn luôn là nỗi ám ảnh trong tâm trí lão. Cây cầu. Vừa đi lão vừa hướng đôi mắt u uẩn nhìn dòng nước đang chảy xiết về phía hạ nguồn. Phải, chỉ khi nào cây cầu được xây dựng thì việc hai bến sông quê nối lại với nhau, chừng đó mới hy vọng mở ra cơ hội phát triển cho vùng quê hẻo lánh này. Song điều mơ ước nhỏ nhoi ấy đến nay vẫn còn nằm đâu đó trên bàn nhậu, mà sự ngã giá quyền lợi giữa đôi bên chưa được giải quyết, có lẽ vì thế cây cầu mà bao người mong đợi sẽ trở thành chuyện cổ tích; trong khi nhu cầu bức thiết của những người dân nghèo cũng như con cháu họ, từng ngày sống bên nổi sợ hãi khi mỗi mùa mưa bão về.

Mưa. Lão vội bước tới cởi sợi dây thừng buộc con đò với thân cây gần đó. Trong lúc loay hoay với công việc, lão nghe từ phía sau lưng nhiều tiếng chân chạy sầm sập, xô đẩy, chen lấn nhau lao xuống đò, mong chiếm giữ chỗ ngồi tốt để được qua sông sớm; vô tình biến bến sông đang yên ắng bỗng trở thành một cái chợ huyên náo.

Bất lực trước cảnh hổn loạn của đám học thò, lão Tam chỉ biết cắm cây sào xuống mặt nước, cố giữ cho con đò không bị lắc lư chao đảo mạnh, sau đó mới nhẹ nhàng dùng lời lẽ thuyết phục.

– Các cháu trai khỏe mạnh nhường chỗ cho các bạn gái và em nhỏ sang sông trước được không?.

Bọn con trai nhao nhao phản đối:

– Trời mưa rồi ông không thấy sao?

– Lão sẽ mau quay lại thôi.

– Bọn cháu không chịu đâu.

– Đông như vầy . . .

– Sao ông không cố đưa bọn cháu sang sông cùng lượt cho đở mất thời gian?

– Nguy hiểm lắm các cháu biết không?

– Mấy lần trước ông cũng đã chở chúng cháu rồi, có sao đâu?

– Hôm nay khác, không khéo mưa bão lại đến.

Nghe nhắc tới bão, bọn con gái đang còn đứng xớ rớ trên bờ, đồng loạt khóc rống cả lên.

– Hu hu, chúng cháu sợ lắm, xin ông đừng bỏ chúng cháu lại.

Nhân lúc lão không để ý, bọn con gái đã nhanh chân chạy hết xuống đò, mặc cho lão can ngăn thế nào cũng không được.

Bất lực trước sự việc đã xảy ra nhanh chóng, lão chỉ còn biết đứng dậm chân than trời.

– Giữ bình tỉnh nào các cháu.

Tiếng chen lấn, tiếng cự cải, hòa trong tiếng khóc than thảm thiết, nhất là khi chứng kiến những giọt nước mắt lăn xuống má các cô gái nhỏ, khiến lão càng thêm thấy khó xử.

– Ông ơi! Đằng nào chúng cháu cũng đã lên đò, đi nhanh thôi ông ơi, chúng cháu sợ lắm.

Do dự một lúc, lão Tam ngẩng mặt nhìn lên bầu trời, tìm hiểu xem thời tiết thế nào, trước khi quyết định có nên đưa bọn trẻ qua sông hay không. Vô tình, lão để ý thấy trong số bọn trẻ có nhiều đứa ăn mặc phong phanh, đang lạnh rung bên nỗi sợ hãi. Bất nhẫn trước hoàn cảnh đáng thương của bọn trẻ vô tội, lão bỗng thấy cơn giận dồn lên ngang mày làm nóng cả mặt mũi. Lão âm thầm nguyền rủa những kẻ vô lương tâm, đã từng hứa hẹn xây dựng tại bến sông này một cây cầu; thế nhưng, trải qua bao năm tháng mòn mỏi đợi chờ, cây cầu mơ ước kia vẫn không thấy đâu trong khi sự nguy hiểm rình rập cuộc sống từng ngày nơi họ.

Cây cầu. Lão nhắm mắt, hình dung ra cây cầu vẫn thường hay xuất hiên nơi tâm trí lão. Cây cầu mà ngày ngày ở đó, lão bắt gặp hình ảnh chị em phụ nữ vui vẻ, nói cười, gồng gánh những phẩm vật do mình gieo trồng mang ra chợ mua bán trao đổi; ở đó ngày ngày có từng nhóm học trò áo trắng hồn nhiên đạp xe tới trường đi học; ở đó có từng ông già-bà lão-các cháu nhỏ thường hay kéo nhau lên cầu, vui chơi, ca hát, hẹn hò, tình tự, vào những đêm trang sáng. . .

– Ông ơi!

Tiếng bọn trẻ vô tình đánh thức lão quay về với công việc đang bị dở dang. Tội nghiệp. Lão cảm thấy thương xót cho những mảnh đời cơ nhỡ, trót sinh ra nơi vùng quê hẻo lánh lại còn phải hứng chịu thiếu thốn mọi bề. Lạ. Lão không hiểu “trong quá khứ bọn trẻ đã tạo nên nghiệp chướng gì, mà tạo hóa lại nở bắt chúng trả giá cuộc sống bằng những số phận hẩm hiu; trong khi những đứa trẻ cùng trang lứa khác, lại được sống trong các thành phố lớn, lại được ăn uống vui chơi thoải mái, lại có thừa phương tiện đi lại, đến trường học hành trên những chiếc xe hơi mắc tiền?”.

Càng nghĩ, lão càng thấy đau lòng trước cảnh bất công của sự giàu-nghèo, đang xảy ra từng giờ giữa kẻ khố rách áo ôm với người được gọi là văn minh hiện đại, nhưng lại sống ích kỷ, lệ thuộc hoàn toàn vào vật chất. Vì sao? Lão không còn cách nào để kềm chế được sự bực tức, nên lão vụt cầm lấy mái chèo, quyết định đưa bọn trẻ sang sông trở về nhà, bất chấp mưa gió nguy hiểm.

Vừa cố đẩy con đò ra thật xa bờ, lão Tam vừa chém mạnh mái chèo xuống mặt nước cho hả cơn giận, trước khi bình tỉnh lái con đò lách qua dòng nước chảy xiết. Mới đầu, con đò khởi đi còn chòng chành- chao đảo, sau nhờ kinh nghiệm tích lũy từ bao đời cha ông cộng thêm đôi tay thuần thục, lão đã khiến con đò ngoan ngoản ra đi trong êm thấm, vì vậy hơn bốn mươi con người ngồi trên con đò mới dám thở phào nhẹ nhõm. Chưa kịp vui mừng, đã thấy từ trên hẽm núi phía đầu nguồn, xuất hiện cơn lốc xoáy lao nhanh đến. Ai nấy đều hốt hoảng, sợ hãi, bám chặt lấy nhau, ngồi yên không dám hó hé lấy một tiếng. Con đò đang đi, bất ngờ bị gió quật mạnh vào bên sườn làm xoay ngang, trước khi cắm mũi xuống mặt nước. Cảm thấy sự nguy hiểm đang tới, lão Tam lấy hết sức lực mình ra ghìm chặt lấy mái chèo, giữ cho con đò nương theo hướng gió tránh không bị lật úp. Song, mọi cố gắng của lão hình như đã quá muộn, bởi bọn trẻ vì quá sợ hãi nên đã xô đẩy, chen lấn, la hét, cầu cứu inh ỏi; biến khúc sông trở thành nỗi ám ảnh kinh hoàng.

– Bình tỉnh các cháu! Ai ở đâu cứ ngồi yên ở đấy, nguy hiểm lắm.

Mặc cho lão khản giọng kêu gọi mọi người bình tỉnh, bọn con trai đánh hơi thấy sự nguy hiểm, đã vội thoát thân bằng cách nhảy bùm xuống nước. Con đò trước đó vốn bị giao động mạnh, giờ lại gặp trường hợp nhiều người cùng tập trung về một phía, khiến cho con đò bị nghiêng hẳn sang một bên, hất mọi người xuống sông trước khi lật úp.

– Cứu! Cứu! Cứu lấy chúng cháu với mọi người ơi!

Cả một khúc sông vắng lặng bỗng tràn ngập trong tiếng kêu cầu cứu cùng những tiếng chòi đạp, quẫy nước, với hy vọng mọi người nghe thấy cứu giúp.

Đang loi ngoi giữa dòng nước chảy xiết, lão tìm mọi cách rút ngắn thời gian bằng việc bơi nhanh đến những đứa trẻ ở gần, đưa từng đứa vào bờ; đồng thời hô hoán cho mọi người đến giúp sức.

Sau một hồi lặn hụp, quần thảo trong dòng nước lạnh lẽo, chân tay lão cảm giác bị tê cứng, mỏi rời, nhấc lên để xuống, quơ đạp, hay cố bơi vào bờ đều không thể. Thấm mệt, lão bắt đầu thấy kiệt sức, thở hôn hển bên từng hơi thở đức quảng. Đến lúc này lão mới thực sự hiểu qui luật cuộc đời không trừ bất kỳ ai, cho nên chuyện sống chết không còn quan trọng gì đối với lão; chỉ tội nghiệp cho những đứa trẻ vốn chưa biết chi về cuộc đời, đã phải nhận lấy những cái chết thê thảm. Lão bắt đầu thấy mình chìm xuống, chìm xuống trong mớ âm thanh nghe ong ong như có ai đang gõ bên tai. Đúng lúc đó, trước mắt lão xuất hiện cây cầu giống như cây cầu lão hằng mơ ước. Cây cầu tuy không hoành tráng, nhưng điều quan trọng là đã nối hai bến sông nghèo nàn lại với nhau, góp phần đưa cuộc sống bao người dân cũng như những đứa trẻ có cơ hội thăng hoa. Cây cầu, lão không cầm được những giọt nước mắt sung sướng, bởi nhờ có cây cầu mà mọi sự đi lại, làm ăn buôn bán thuận tiện, trẻ con đến trường không còn sợ hãi khi mỗi mùa mưa bão kéo về. Cây cầu . . .

Ai đó bỗng nhớ ra lão Tam:

– Lâu quá sao không thấy lão Tam từ dưới sông trở lên nhỉ?

Có người quả quyết:

– Rõ ràng mới trông thấy lão bơi ra giữa sông cứu bọn trẻ đây mà. Lão Tam! Lão Tam ơi! Lão đang ở đâu?

Gọi mãi vẫn không nghe tiếng ai hồi đáp, mọi người vội vã chia nhau đi tìm lão ở khắp trên bờ lẫn dưới nước. Cuối cùng, sau một hồi mò lặn dưới nước, người ta cũng đã vớt được lão dưới sông đưa lên bờ. Tội nghiệp, nhìn lão gày đét như con mắm nằm thoi thóp thở bên cạnh những cái xác xấu số của bọn trẻ, ai đó dù có giận lão đến trăm ngàn lần cũng không khỏi mũi lòng thương hại, sẵn sàng tha thứ mọi hậu quả do lão đã gây ra.

Trong lúc chờ sơ cứu, lão Tam mơ hồ nghe bên tai những tiếng khóc than ai oán, phát ra từ ai đó không hề quen biết. Ai? Trong tình trạng nửa mê nửa tỉnh, lão bỗng nhận ra cái bến sông quê buồn hiu hắt, nơi đã cưu mang nuôi nấng lão lớn khôn từng ngày. Ôi! Dòng sông gắn kết lão với biết bao kỷ niệm thuộc về tuổi thơ hồn nhiên ngày hai buổi vui đùa, chạy nhảy, ngụp lặn, tắm mát trong nó; là màu khói lam chiều quyện bay trên những mái tranh nghèo nàn; là những xanh dâu bạt ngàn trải dài từ chân núi tới tận bến sông êm đềm; là đồi sim tim tím trong trò chơi vợ chồng tím đẩm chiều hoang biện biêt; là một chút mơ mộng bay bổng nhưng không kèm phẩn lãng mạn; là . . .

Lạnh. Lão choàng tỉnh bên tiếng nổ ì ầm, để ngay sau đó nhìn ra vuông cửa, thấy một cây nấm khổng lồ mang theo bụi mù cát đá ném tung lên bầu trời. Lão cố nhớ xem lão đang ở đâu, chuyện gì đã xảy ra, vì sao lão lại nằm trên chiếc giường không phải là chiếc giường của lão? Trời ơi! Tại sao lão lại hoàn toàn không nhớ được gì, ngoại trừ sự mệt mỏi đến rả rời xâm chiếm lấy thân xác lão?

– Quân giết người! Mày phải đền tội trước những cái chết oan ức do mày gây ra!

Quân giết người! Lão xoay người sang hướng khác, bịt hai tai lại để không phải nghe những lời đay nghiến sỉ vả nhắm vào lão. Lạy chúa! Con chỉ vì yêu thương bọn trẻ đáng tuổi con cháu, nên đã vô tình gây nên hàng loạt cái chết nơi bọn trẻ. Lão thực sự cảm thấy vô cùng hối hận, đánh rơi những giọt nước mắt đau khổ xuống mớ tuổi già gần đất xa trời nơi lão. Thượng đế ơi! Sao ngài không cho lão được chết thay bọn trẻ, mà lại bắt lão phải sống vất vưởng bên sự dày vò của lương tâm, xem ra còn đau xót hơn gấp trăm ngàn lần cái chết vậy?

Quá đau khổ, lão Tam vùng thoát chạy ra khỏi phòng, hướng về căn chòi tồi tàn nơi bến sông, vất bỏ sau lưng bao lời nguyền rủa. Vừa chạy, lão vừa nhớ tới cây cầu mà các quan chức từng hứa hẹn sẽ mang lại cuộc sống tốt đẹp cho mọi người, lẽ ra đã được xây dựng ở bến sông này từ lâu, nhưng xem ra chuyện cây cầu có trở thành chuyện cổ tích hay không, khi miếng mồi béo bở đã bị những kẻ tham lam đặt lên bàn mua bán, dập tắt đi niềm hy vọng của bao dân nghèo nơi vùng quê hẻo lánh. Mệt. Lão ngồi xuống bên đường thở dốc, mắt nhìn sang bên kia sông bắt gặp đám đông phụ nữ đầu quấn khăn trắng, vừa đi vừa khóc than vật vã sau những chiếc quan tài. Bất ngờ, hình ảnh buổi chìm đò hiện ra bên tấm thảm kịch, khiến lão cảm thấy đau nhói nơi lòng. Trời ơi! Lỗi hoàn toàn thuộc về lão, bởi đã quá yếu lòng trước những giọt nước mắt của bọn trẻ, vô tình gây ra hậu quả nghiêm trọng. Càng nhắc lão càng thấy tuyệt vọng, chưa biết phải trả giá cho món nợ ấy bằng cách nào, kể cả việc ra trước tòa nhận lấy bản án tù chung thân đi nữa? Nhưng nghĩ lại, trên đời này không có loại tòa án nào quan trọng hơn tòa án lương tâm của chính mình, cho nên dù có được mọi người có sẳn lòng tha thứ, thì nổi ám ảnh về tội lỗi ấy cũng giống như một bản án vô hình, sẽ còn đeo bám theo lão suốt những tháng ngày còn lại.

Buồn. Lão mệt mỏi đứng lên, lê từng bước chân nặng nề đi về căn chòi lụp xụp của mình nơi bến sông. Trong bóng tối, lão nằm bên nỗi sợ hãi, dày vò bản thân về thứ tội lỗi do mình gây ra. Sau cùng lão rơi vào giấc ngủ với đầy ác mộng. Trong cơn mê, lão đối diện với bao ánh mắt kinh hoàng cùng những tiếng kêu cầu cứu nghe thật thảm thương, phát ra từ những gương mặt mới hôm qua ngày hai buổi lão còn trông thấy chúng chuyện trò ríu rít, bước xuống đò qua sông đến trường tìm con chữ hay ra về sau những giờ tan lớp. Vậy mà, chỉ vì buổi chiều giông gió bão bùng, lão đã liều chở hơn bốn mươi đứa trẻ lẽ ra chỉ chở được hơn ba mươi người, với hy vọng sớm đưa bọn trẻ trở về nhà khi cơn mưa chưa kịp tới. Không ngờ, chuyến đò định mệnh ấy lại dẩn tới thảm họa, khiến cho hơn mười đứa trẻ trong số những đứa trẻ vô tội phải vĩnh viễn nằm lại với bến sông. Ôi! Những gương mặt trẻ thơ hồn nhiên, những đôi mắt trong veo như muôn ngàn ánh sao lấp lánh giữa bầu trời đêm, bất ngờ đứng dậy từ những nấm mồ còn thơm mùi đất, bước tới đứng trước mặt lão kêu khóc, đòi đưa tới cây cầu mà lão vẫn thường hay kể cho bọn chúng nghe lúc cao hứng. Tiếc thay, cây cầu tốt đẹp hứa hẹn mang lại một mùa sống phong phú, giúp đở mọi người có cái đi lại, làm ăn, buôn bán, học hành, vẫn còn nằm ở Bên Kia Niềm Mơ Ước. Chính vì sự thất hứa từ một cây cầu, cộng với tay chèo già yếu như lão, đã dẩn tới thảm kịch kinh hoàng buổi chiều hôm qua, khiến bao đứa trẻ vô tội phải trả giá bằng những cái chết thật tức tưởi.

Quá sợ hãi, lão choàng tỉnh bên tâm trạng nửa tỉnh nửa mê, tự hỏi: “phải chăng những đứa trẻ hiện ra ngầm nhắc nhở tội lỗi do lão đã gây ra?”

Trong đêm tối, lão âm thầm rời khỏi căn chòi, lần dò ra bến sông tìm tới chỗ con đò bị chìm hôm qua, thắp lên một nén nhang để tưởng nhớ những sinh linh bé bỏng đã ra đi và tự hứa: “ngày nào còn sống lão nhất định tìm ra đây mỗi ngày, thắp cho bọn trẻ một nén nhang”./.

Minh Nguyễn
Nguồn: Tác giả gửi

Đã đóng bình luận.