Bên bờ ruộng

Posted: 11/06/2014 in Truyện Ngắn, Đặng Kim Côn

Đặng Kim Côn

nong_dan_4

Anh Quỳnh kể là do không rành việc đồng áng, cứ phải nấn ná chờ người ta xong ruộng của họ, mới có thể nhờ người sạ giùm 5 sào ruộng của của mình, đó là phần ruộng ếch nhái cũng không sống nổi với nước phèn, mà hợp tác xã chia cho hộ gia đình mười nhân khẩu của anh, coi như gia đình phải chịu đổi một mẫu ruộng của tổ tiên ở Đồng Thủy để nhận phần ruộng vừa xa vừa xấu này.

Sạ muộn hơn người ta một tuần, ngay khi cơn mưa dầm cuối mùa đổ xuống, những đám ruộng chung quanh thì đã lên mạ, ruộng anh thì nguyên một đám mầm mộng ngâm nước phèn, tiêu điều hết. Rồi nghe người này bày kiểu này, người kia vẽ kiểu khác, đi đến quyết định, tìm đến một cánh đồng gieo muộn hơn, mua mạ về cấy. Vậy là, đến vụ, người ta gặt về nhà, rung đùi bên những bữa cơm lúa mới, thì anh vẫn còn ngày hai bữa đu bám đám ruộng lúa vừa nằm đồng, cắm bù nhìn đuổi chim chóc.

Đuổi chim chóc cũng không dễ, nhưng còn có thể, khổ nỗi, rầy bọ thì không sao đuổi nổi, rầy bọ của cả cánh đồng hết nguồn sinh sống đã áp hết vào thửa ruộng anh, mà thời buổi thuốc men mua phân phối, hết vụ rồi, hợp tác xã chả còn thèm hợp tác với anh, coi như xong đám ruộng.

Anh nói là chắc cũng vơ về được vài giạ làm giống, ruổi đâu, một trận lụt trắng đồng, đám lúa đang chín tới của anh nằm rạp hết xuống biển nước.

Cho nên, Hiên không khó để tìm gặp anh nơi cánh đồng mênh mông vắng ngắt này. Anh đang cố nhặt nhạnh được gì hay nấy, Hiên thấy xúc động mạnh khi mới vừa thấy dáng anh từ xa, đang lom khom, lúng túng cắt hớt một cách cẩn thận những ngọn lúa nằm trên nước bạc.

Hiên xoắn ống quần, lội nhanh xuống chỗ Quỳnh, hơi bất ngờ, nhưng Quỳnh cũng nhận ra Hiên, sau lời chào thân quen cũ:

– Thiếu úy…

Hiên gọi như nghẹn lời.

Quỳnh cười thản nhiên:

– Úy tá gì, sao em ở đây?

Hai thấy trò cùng nhau lên bờ, trong sự im lặng để cùng lắng xuống chút ngỡ ngàng xúc động. Hơn năm năm ấy, có thực sự quá xa như khoảng cách của những kiểu tình cảm tiểu tư sản cũ, khoảng cách ngỡ như vô biên của sự trở về từ mất còn, sống chết. Hiên rót ly nước trà mới pha ở nhà Quỳnh mời anh:

– Em tìm nhà anh, đang lúc má anh chuẩn bị đem cơm trưa cho anh, em nói để em đi, Má anh nói cũng dễ tìm, cả cánh đồng, chỉ còn ruộng nhà là còn nguyên lúa. Mà… một mình anh làm sao gặt cho hết? Em giúp anh.

Quỳnh châm điếu thuốc:

– Không cần đâu, ngậm nước hư hết rồi, vớt được nhiêu vớt, lúa thóc kiểu này, kêu công thì chả ai muốn giúp, mà nhà đâu còn ai, khẩu ăn thì đông, toàn con nít, làm sao?

– Để em làm, thấy anh làm thảm quá, cắt chưa được nửa sào thì nguyên đám nứt mộng hết rồi…

– Em ra đây cắt lúa hở?

– Em gốc rạ chuyên nghiệp mà, còn được giúp anh là em mừng rồi. Cắt ngọn kiểu này, em hớt chừng hơn ngày là xong, có điều… có điều…

– Thôi ăn cơm đi, tính sau.

Bữa cơm! Hiên nhớ…

Ngày ấy, thi hỏng tú tài 2, mọi cánh cổng tương lai đều khép lại ở đây, là con trai duy nhất, sau một người chị trong gia đình, nên ba Hiên không muốn Hiên đi sĩ quan, chỉ muốn anh chui đụt đâu đó gần nhà để được đi về với cha già, năm ấy đã hơn sáu mươi, ở một mình, mẹ Hiên đã mất, người chị lại có chồng xa.

Thế mà, cũng vì quá gần nhà mà Hiên bị coi như một người lính ba gai, dù là những phút giây về thăm cha ấy, đơn vị đang hoàn toàn bình yên và rất rảnh. Vậy là chưa được sáu tháng gần nhà, Hiên bị thuyên chuyển đến đơn vị của Thiếu úy Quỳnh, một trung đội pháo binh ở một tỉnh thuộc Tây nguyên, xa quê Hiên đến hơn năm trăm cây số xe đò.

Trong pháo đội này, Hiên gặp nhiều anh em đồng hương, có cả bạn cùng trường, bây giờ họ là hạ sĩ quan có, sĩ quan có, lính như Hiên cũng có. Lúc đầu tay bắt mặt mừng, sau, một phần vì mặc cảm thua kém, một phần vì quan cách trong quân đội, Hiên dần dần né những người bạn cũ, lầm lũi làm việc, cũng có đôi khi, thấy mấy khẩu trưởng, thường vụ hách dịch (tất nhiên Hiên chỉ muốn nói tới mấy người này, vì sĩ quan mà có hách dịch thì, nếu Hiên là sĩ quan, cũng chỉ là sĩ quan cấp dưới của họ), lóe lên trong đầu cái ý, sao mình không nộp đơn vào Thủ Đức nhỉ.

Đơn vị mới của Hiên không sôi động như các đơn vị tử sinh máu lửa khác, nhưng cũng không được yên ổn như đơn vị cũ. (Ít nhất có một lần thiếu úy Quỳnh cũng đã lãnh một quả đạn pháo kích sập đài tác xạ, bất tỉnh, và nếu anh em không đã xông vào lửa cõng anh ra, thì chắc chắn là cái thân thể đó đã cháy đen thay vì đầy máu me thương tích).

Có lẽ vì thấy trong hồ sơ Hiên có bằng tú tài I, nên Thiếu úy Quỳnh kéo Hiên lên cho phụ truyền tin, nói là tương lai nếu có lớp học sẽ cho Hiên theo học, hoặc truyền tin, y tá, tác xạ gì đó để Hiên có cơ hội về trường gần nhà, thăm cha.

Sau 75, Quỳnh bị đi học tập cải tạo xa quá, mà điều kiện Hiên thì có giới hạn, nên mãi đến nay, nhờ tình cờ gặp Nhị, một binh sĩ ở đơn vị cuối của Quỳnh, nói là cũng đã lén lút đến thăm Quỳnh, và đã cũng như Hiên lần này, mò ra tận ngoài ruộng, Nhị nói với Hiên, anh Quỳnh bảo, có việc hay không có việc, anh cũng thích ở ngoài ruộng hơn, tránh phải nghe, phải thấy, phải tiếp xúc nhiều với xã hội mới lạ chung quanh anh.

Bữa cơm, ở đơn vị xưa, anh em ăn cơm chung nhau cũng thường, nhưng Hiên nhớ nhất là bữa cơm đặc biệt hai anh em ngồi ở một quán cơm ngoài phố trước giờ chia tay. Trước đó, ba Hiên đau nặng nằm bệnh viện, Hiên xin phép về nuôi ba, bệnh tình càng ngày càng nặng, Hiên ở nhà đến trễ phép mười bốn ngày, thời hạn trễ tối đa mà đơn vị chưa thể báo cáo đào ngũ. Sau khi trở lại trình diện, thì Hiên lại lặng lẽ đi tiếp mười bốn ngày nữa, làm tất cả anh em trong đơn vị đều không còn thông cảm nổi, coi Hiên như một gã không biết điều, chỉ dựa bắp cày ăn cỏ, Quỳnh vừa bực mình, vừa thương Hiên, lay hoay chống đỡ, nghĩ không ra giải pháp nào tốt nhất để che chở cho Hiên.

Hiên lại trở về đơn vị để cứ rầu rầu ngồi đuổi ruồi không bay, với cái lệnh phạt mà Quỳnh định là chỉ ký rồi để đó thôi. Đang lúc có tiếng ra tiếng vào xầm xì là Quỳnh thiên vị, bất công, có đề nghị trả Hiên trở lại khẩu đội, hoặc đẩy Hiên đi trung đội xa, thì Hiên có điện tín từ quê lên, ba Hiên bị nặng hơn, phải chuyển đi Bệnh viện tỉnh. Hiên bối rối, xốn xang, nói với Quỳnh “Em biết thiếu úy khó xử vì em, mà em thì cũng thật là bất khả kháng, chỉ còn một nước liều thôi, em muốn nói một lời chào, và cảm ơn thiếu úy, lần này em đi luôn, cầu chúc thiếu úy bình an, và chỉ mong quả đất tròn…”

“Bao giờ em đi?”

“Dạ em đi liền, cho kịp xe”

“Em ra bến trước, anh sẽ ra”

Mười lăm phút sau khi Hiên ra khỏi cổng, Quỳnh đã lái xe theo, và bữa “tiệc ly” vội vàng ở một quán cơm gần bến, sau khi đã lấy vé, và “trao đổi” về điểm hẹn với tài xế. Bữa ăn vừa cần thiết cho một chuyến đi dài, không chừng phải mất cả hai ngày đường, cũng vừa để níu lại những giây phút ngắn ngủi, mỏng manh, quý giá của cuộc đời lính chiến, không ai muốn biết đến ngày mai… Bữa ăn nặng nề, vội vã, Quỳnh cho Hiên uống mấy chai bia, dặn, “lát nữa, em thay đồ dân sự, anh có đem theo cho em kia, lên xe ngủ được thì ngủ, đi đường này, coi như giao đứt cái mạng cho họ rồi”. Dúi vào túi Hiên 500 đồng, “em cầm tạm mua quà gì cho ông cụ”, sau đó, Hiên được Quỳnh chở ra khỏi thành phố hơn 3 cây số, qua khỏi trạm quân cảnh kiểm soát, thả Hiên xuống chờ xe từ bến ra. Bùi ngùi nắm chặt tay Quỳnh, Hiên lo lắng.

“Không biết mấy thằng quân cảnh có thắc mắc, sao xe ra hai người, mà trở về chỉ còn một hay không”

Quỳnh cười “Nó dám quên mấy lần đụng độ với anh sao?”. Nhớ thay đồ trước khi xe tới đó.

Bữa ăn bên bờ ruộng không kéo dài, vì đám lúa ngâm dưới nước kia cũng đang sốt ruột thúc hối, vừa rít vội mấy hơi thuốc, vừa tranh thủ nhắc lại những chuyện xưa.

– Về quê hơn một năm thì… mất quê hương, sau đó, ba em cũng mất theo… À, mà sao…mình vậy mà thua anh nhỉ?

Quỳnh thoáng chút ngại ngần, biết Hiên đã một thuở rất chân thành, mà lòng người sau này, không dám tin ai, ngay cả ở chung nhau, tiếp xúc nhau hàng ngày, huống hồ năm năm, anh trả lời huề vốn:

– Mấy năm sau cùng của cuộc chiến, ngoại trừ xương máu can trường, còn thì lấy gì nữa mà đánh đấm, pháo binh mình mỗi ngày chỉ cho phép bắn 2 quả đạn, nghĩa là nếu có yểm trợ chiến trường nào nạng nề, một tháng cũng không quá sáu chục quả, trong khi, khắp các mặt trận quân viện của “trên núi” ào ạt tràn xuống, ai cũng biết, xe tăng, súng pháo họ kéo qua địa phận trách nhiệm mình, lính tráng chỉ biết nín thở làm ngơ, tới đâu tới…

– Em hên quá, không có anh cho giải ngũ thì chắc khó tránh khỏi số phận của thằng Nhơn, thằng Ân…

– Số mạng mà. Tự nhiên anh cũng được đổi đi chỗ khác, cả trung đội mình sau đó, bị một trận lớn, ác thay lại nhằm vào những ngày cuối của cuộc chiến, chết gần hết, em biết đó, người thay anh cũng chết luôn.

– Em mang cái ơn tái sinh đó của anh.

Quỳnh nói đùa:

– Để ông lại, ông ba gai tui càng thêm khó làm việc.

Hai anh em tiếp tục lội xuống ruộng, nước bạc vẫn còn ngập đến hơn nửa ống chân, đám lúa trĩu đầu bị gió đùa qua một bên nằm rạp trên mặt nước vẫn chưa gượng đầu dậy nổi. Hiên cúi xuống hớt ngọn mấy lọn lúa trong tay, chợt dừng lại nói với Quỳnh:

– Anh Hai, anh nghe lời em, em dám bảo đảm với anh, cả đám không còn được nửa giạ, lúa chưa kịp chín, đang còn ngậm sửa đã bị ngâm nước kiểu này, lép hết rồi…

Quỳnh bối rối:

– Không lẽ bỏ hết?

– Bỏ chứ sao, có mất công cắt cũng vô ích, anh cứ bóp vài hột thử đi, có gạo đâu mà cắt.

– Rồi sao đây trời, nửa năm ăn, cả nhà sống sao, nhất là má anh, tội nghiệp, má vất vả quá.

Hai người dừng liềm, bước lên bờ, ngồi thừ bên bờ ruộng châm thuốc hút, bây giờ mới thấy là nắng xế đang gay gắt trút xuống, Hiên chợt thấy ông thầy của mình đã mất đi cái tinh anh của ngày xưa, ngồi nhìn đám ruộng mà không biết phải làm gì, không như ngày xưa, chuyện gì Hiên cũng thấy anh quyết định nhanh gọn. Hiên phá vỡ sự im lặng:

– Hay… không thôi mình về anh ạ. Anh cũng nên giữ sức khỏe, nước bạc hại lắm, dễ sinh bịnh lắm đó, về nghỉ ngơi tính chuyện khác…

Quỳnh không giấu nổi tiếng thở dài, uể oải gom mấy vật dụng đứng dậy, Hiên dành xách cái giỏ lát chứa mấy cái liềm, ấm nước đã cạn, chén đũa ăn cơm, rồi bước sau Quỳnh. Hơn bao giờ hết Quỳnh xót xa nghĩ đến má, bao nhiêu kỳ vọng vào đám lúa, ít ra, trong những khi bươn chải, vắng nhà, cũng đỡ lo con cháu phải bối rối với cái bụng đói meo nhìn thùng gạo không còn một hột, mà khổ nỗi, gia đình từ khi tản cư vô đây, đã gần như một cái ốc đảo quạnh hiu, sống giữa biển đố kỵ nhỏ nhen, đến nỗi, cũng chính nơi này, không đâu xa lạ, chỉ là xóm giềng gần gũi thôi, đã trực tiếp nhúng tay vào máu của ba anh… Cho nên, đói thì chịu chết đói, biết mở miệng vào đâu!

Đã buồn càng thêm buồn, chậm chân trên bờ ruộng hẹp, Quỳnh kể Hiên nghe những gì Quỳnh thấy, Quỳnh biết về mẹ mình từ ngày ra trại đến nay…

– … Tội má anh quá, tới giờ này má anh có biết là đám lúa đã thành con số 0 đâu, mọi mong đợi cho sáu tháng ăn của cả nhà…

Má anh vất vả lo cơm áo cho gần chục miệng ăn, quanh năm suốt tháng, tất tả ở ngoài đường, để anh kể em nghe, có hôm bị quản lý thị trường bắt hết mấy tạ bắp mua ở rẫy Long Khánh ra, xin không được, má ngất xỉu, càng nghĩ đến bầy con cháu đói khát ở nhà, phần uất ức vì mất hàng, phần mấy ngày lo mua hàng, khuân vác, nhịn ăn, má càng đau nặng, dân trong đó phải đưa đi bệnh viện, mà nhà anh thì toàn con nít, lớn chút, mười bảy tuổi đã đi cải tạo rồi, nên mấy nhỏ chỉ ngồi nhìn nhau khóc, đâu biết cách nào đi tìm má…

– Nhà thuộc diện đối tượng nào thì cũng chung một hoàn cảnh thôi anh… Mỗi nhà khổ theo mỗi kiểu. Em may được coi là lính đào ngũ,

– Nghe má kể những chuyến đi buôn trên tàu lửa mà lạnh mình, vừa dấu hàng, đối phó với quản lý thị trường, nhất là những lúc tới ga tàu cắt toa, phải khuân vác chuyển hàng nặng nề, vừa hối hả cho kịp giờ, vừa lấm lét ngó chừng công anh thuế vụ, còn phải đề phòng bọn trộm cướp, vậy mà nhiều khi cũng không tranh khỏi bị mất hàng… Có lúc xe hỏng máy nằm giữa đường, mà heo gà thì nằm trên mui xe vừa bị phơi nắng, vừa không nước uống, thức ăn… kêu trời không thấu, không kể là bao nhiêu chuyện ăn bờ ngủ bụi đói khát bệnh tật ngoài đường triền miên, mà không đi thì lấy gì nuôi một bầy con, cháu chỉ có toàn là miệng ăn…. À, mà em có làm ông gì không?

Hiên chậm rã đốt một điếu thuốc:

– Mới đầu vì không ai làm, trên núi về ít chữ quá, nên họ nâng em lên tới chức thư ký hợp tác xã, sổ sách giấy tờ một ngàn lẻ một thứ, em được coi là thành phần chống đối chế độ cũ mà…

– Tới giờ luôn?

– Giờ thì công việc cũng như vậy, mà chức thì có người ngồi trên rồi. Hợp tác xã càng ngày càng thu nhiều ruộng đất lớn hơn, mấy tay học bổ túc bình dân học vụ gì đó về vừa leo lên đầu ngồi chỉ tay năm ngón, vừa học tiếp, chờ cơ hội lên tỉnh lên tòa, ở dưới thì bây giờ đông lắm, cái đám các anh đi học tập về, họ kéo vô làm, họ đâu phải tốn gì, mà các anh thì đỡ nhọc nhằn hơn ở ngoài… Mắc cười, mấy anh đó bây giờ là… nhân viên của em, ông hóa ra thằng, thằng hóa ra ông!

– Dưới cái xã hội hồng hơn chuyên này, còn nhiều thằng hóa ra ông tréo ngoe hơn vậy nữa…

– À mà sao anh không theo phụ má khuân vác coi chừng hàng họ…?

Hiên chưa hỏi hết, Quỳnh đã trả lời:

– Đâu dễ vậy, em có hiểu hai chữ quản chế không? Đối với ai khác, quản chế thì cũng còn nhẹ, chỉ là chưa có quyền công dân để đi bầu, anh khác, anh còn là đối tượng gia đình có nợ máu mà, ngoài việc vài tháng có giấy mời xuống “tâm sự” dưới công an thị xã, công an tỉnh, thì còn bị canh me thường xuyên, nửa đêm gà gáy gì bị đập cửa kiểm tra là chuyện thường. Không chừng sự có mặt của em, người ta đã biết…

Quỳnh đã nghĩ không sai, khi hai người vừa về đến nhà, trong nhà đã sẵn lố nhố năm sáu cái nón cối, an ninh thôn, du kích, công an xã, không biết đợi từ bao giờ, chắc sợ anh trốn, hùng hổ bao quanh hai người, bằng giọng quyền uy, ra lệnh:

– Mời hai anh về trụ sở ủy ban làm việc chút.

Hay một điều là, tuyệt nhiên không thấy bất kỳ một người dân hiếu kỳ nào dám tò mò tọc mạch, kể cả con nít, xôn xao trước cửa nhà Quỳnh để coi thử chuyện gì xảy ra. Có chăng, xa xa chút, một vài ánh mắt lấm lét lo lắng nhìn chừng theo bước chân Quỳnh từ khi anh sắp về đến nhà.

Đặng Kim Côn
Nguồn: Tác giả gửi

Đã đóng bình luận.