Trần Yên Thảo chân không để dấu, cuộc thuyết đạo bên dòng phù sinh

Posted: 22/07/2014 in Biên Khảo / Phê Bình, Ngô Nguyên Nghiễm
Thẻ:

Ngô Nguyên Nghiễm

tran_yen_thao
Nhà thơ Trần Yên Thảo

A. SƠ HUYỀN
(PHẨM SEN VÀNG I)

Cuộc hành trình bước về chân như, bao giờ cũng mở đầu bằng những bước nhập thế, lặn lội chìm đắm trong nhiều sát na nghiệp lực. Thứ nhất là nhào lộn trên từng nghiệp chướng từ những lần thai sinh, và phủ quanh cuộc phiêu du trong trần thế bằng những phước họa đằng đẵng, gánh vác đầy ngập hai vai.Thứ hai, sự khai mở trí tuệ để bước chân thật trên bước đường hạnh ngộ của hằng hà dấu chân điểm đạo từ vô thỉ đến vô chung.Thứ ba là hạnh nguyện bước lên hóa đạo, trực ngộ sau a tăng tỳ kiếp tu chứng, vừa mở hoác chân như. Sen vàng hiện thân cho cuộc khai ngộ rực rỡ chánh đẳng chánh giác.Người văn nghệ sĩ cũng có một điểm hiện thân gian khổ, trên bước đường chứng ngộ kỳ diệu trong sáng tác. Và tùy quan điểm phù hợp với tư tưởng tâm niệm trong nghệ thuật, thì giây phút nhập thân trên bước sáng hóa ngôn ngữ sẽ sáng lòa trên điểm hóa đạo như người tu chứng.

Một bước nhìn lại, Chân Không Để Dấu mà thiện giả phân đoạn nhiều ngõ ngách, từ những vách ngăn tục lụy, trước quãng đường thiên lý phủ đầy vọng ước , cứ bước đi tiềm tàng không vạch hẳn những phân đoạn mà cuộc lữ hành đang bước qua. Quả thật, nhiều tiếp nối bao vây quanh những cánh hoa mới nở ven đường, hay những gai chông chập chờn rình mò trên bước đường tìm tâm thức, Thì Thơ quả thật đã phủ đầy trên mọi lối rẻ của thơ đi, và thi nhân vắt hết ánh huỳnh quang tâm thức soi vào ngôn ngữ nghệ thuật. Cuộc truy tìm chân không như cách vạch cỏ khai hoang, mà bước hanh thông của con đường trước mặt vẫn chìm ẩn trong tận cùng lục đạo. Quả thật, đâu tìm ra bước khai hoạt bất kỳ trên kiếp phù đồ, để nhân sinh dễ dàng ôm thiên phước mà nhìn trăng soi hoa nở. Hạnh phúc lữ hành phải đi đôi với những bước lao khổ, gói ghém bản ngã trong những cuộc thiền hành gội sạch ý niệm phù hư.

Sự cương quyết của hành giả là một niệm ngoạn mục, chối từ giả tướng hầu mong ước nhập định vào bản thể hành đạo. Cuộc lữ hành còn đầy rẫy chong gai trước mặt, từng bước đi cầu mong nhập thể, mà phong vũ vẫn còn trùng trủng trong cát bụi lãng du. Thế sự là cuộc sống tục lụy, chất chồng hỉ nộ ái ố thì thơ đi sao lướt khỏi tâm trần, hầu chân không để dấu dù một vạch nhỏ vuông đất tử sinh?

Nét sơ huyền nhỏ từng giọt máu sơ nguyên, ôm nặng định quyết bước nhập thể vào lẽ đạo, người hiền giả bất chợt ôm trọn thiện căn từ những không-thời gian cổ đại,bước nhập thể rồi trong đại nguyện sơ huyền. Chứng nhân thấy rằng :

Từ vô biên đã chia tay
Lại chung một chuyến đò đầy qua sông

(Người Tình xưa và Trái Đất)

Từ vô lượng đã định rồi
Thân đơn áo chiếc về chơi ta bà

(Cõi Người Ta)

Rừng tre nhịp võng cơ duyên
Ta nghe như vậy từ thiên thu rồi

(Nhịp Võng Rừng Tre)

Ta nghe như vậy, là nghe thế nào? Trong khi lục căn nặng nề trên lục đạo, phải chăng vứt áo ra đi như từ bãi cũ chiều hôm, hiển hiện bước ta về khiến nằm nghe nước chảy bên cồn Thái Hư!!! Thơ nhập thể trên bước hành hương đầy thi vị, như chú tiểu ba vá chân đeo lục lạc buổi chiều hôm gõ mõ mà thì thầm vọng hướng khai kinh.

KHAI THỊ SƠ HUYỀN:

Biển lộng gió rừng mù sương
gieo tiền thử bói một phương đất lành
Khi đi về phía sinh thành
gặp em đi ngược nên đành quay lui

(Cõi Sinh Thành)

Em và núi dựng trơ gan
ôm luôn khe lạch tròn trăm cái tình
Cõi ta lọt giữa cõi mình
nên khi sóng vỗ bập bềnh cà hai

(Trên Sóng)

Vàng Thu tóc ngắn phương Đoài
phương Đông còn xõa tóc dài Kim Liên
Rừng tre nhịp võng cơ duyên
ta nghe như vậy từ thiên thu rồi

(Nhịp Võng Rừng Tre)

Dưới lá có hạt minh châu
cuối sân một cụm hoa Ngâu vừa tàn
Mình về đạp lá thu vàng
nghe như tình cũ đang quàng phải giây

(Lá Thu Xưa)

B. DỊ MỘNG
(PHẨM SEN VÀNG II)

Chập chùng vướng mắc trong bước kinh hành, bởi người lữ khách đang phăng dò bước chân mây mờ mịt trước lối đi.Bao nhiêu hơi thở hóa thành những hạt sương bay suốt lộ trình đậm bước sơ huyền. Ảo giác vẫn lượn lờ trong giấc ngủ, kể cả giây phút bàng hoàng chợt tỉnh giấc nam kha. Nồi kê vẫn chưa chín, mà giấc phù đồ xây dựng đã trả qua trăm ngàn kiếp lai sinh, khiến người trong mộng vẫn chưa phân định rõ hư thực. Hoài bảo vẫn nhiều lúc phục sinh bên ảo giác như gió nam non thổi lòn hang đá, lẫn quẫn trong dị mộng chưa hiện thân khiến chân pháp như hư pháp, huyễn hoặc:

Ta về tạc đá non Tây
mình ra biển Bắc gọi mây bên cồn
Dù sương khói rất phiêu bồng
biển xanh từng đã phải lòng non xanh

(Đá và Mây)

Nguyện vọng xóa bỏ giả tướng, mong ngộ nhập chân tướng, nhưng bước đầu xoay bước chân như, mong từ vô thỉ những cội nguồn được phủi bụi vô thường mà nhập thể thường hằng. Nhưng đóa sen vàng vẫn còn nằm trên phật thủ, và ngoái vọng lại sau lưng, chưa nhận ấn tín mật truyền. Căn nguyên chưa khai sáng, tai nghe mắt thấy vẫn soi rọi trong một khoảng cách nhỏ nhoi bởi lục căn còn che khuất. Mà mờ mịt giấc mộng chưa thuần hóa, khiến trên bước du hành, hình dáng trâu tinh vẫn ngoáy nhìn dị mộng:

Ta nằm ngoài nội xa xăm
Tròn con mắt tự trăm năm đến giờ
Thấy trong lãng đãng sương mờ
Một vì sao rụng bên bờ cỏ em

(Sao Đồng Nội)

Vọng tưởng trong phẩm Sen Vàng là điều có thật, khiến ngoài đồng nội chạy dài đến giấc chiêm bao, nhiều lúc hành giả vẫn như trâu tinh dùn dằn cọng ngàm sương khói. Như một vướng mắc chưa có phút giây tháo gỡ, khiến ghịch lại cọng vàm mà ngoáy nhìn xa xưa. Chính việc chưa diệt được niệm trước, nên sự lưu luyến ngã chấp khiến không vượt thoát, dù một chút tri ngộ:

Mình về dù thực dù hư
sao Hôm từ đó tỏ như trăng rằm
Thì ra cách mấy ngàn năm
hạt tương tư đã nẩy mầm tương tư

(Hạt và Mầm)

Lạc lõng trong cơn mộng dị , như hình sương bóng khói phủ trùm trên thần thức những ảo giác. Nhiều lúc, cũng nhận thấy như thế, nhận thấy bằng sự trực giác, nhưng chưa biết đúng sai, chân giả. Nói là như vậy, nhưng đã là dị mộng thì cõi phù đồ vẫn giả tướng, phủ chụp không thương tiếc kẻ vô tâm, lạc đạo. Cái ngoáy nhìn trong giai đoạn nầy, vẫn chứa đầy tâm vọng, luyến tiếc cảnh cũ vườn xưa. Sự dằn dặc giữa chân tâm và huyển mộng, làm xao lòng nửa bước thiền hành.

KHAI THỊ DỊ MỘNG:

Mối đùn khe cửa động tiên
nguồn Đào phế bỏ còn em vô thường
Trăm năm giờ vẫn chung giường
mà hình như mộng trăm đường khác xưa

(Dị Mộng)

Còn trong tro đốm lửa tàn
Con chim sầu muộn bỏ ngàn xuống xuôi
Trước rèm lồng bóng trăng soi
Rủ rê thục nữ về chơi quan hà

(Rèm Trăng)

Đường về bóng đổ liu xiu
bếp hong chăn gối đèn khêu thần người
Khi quay nhìn lại đất trời
phấn son kín cả một thời Kim Liên

(Thời Kim Liên)

Sao Khuê chênh chếch hay là
Đèn sương phụ chiếu nghiêng tà áo em
Kẻ xa đừng cách xa thêm
Đêm dài lắm mộng xin đêm đừng dài

(Đêm Dài)

C. NGHIỆP LỰC
(PHẨM BÈO MÂY I)

Trăm phương ngàn cách cố bước qua bờ dị mộng, tạo lại một hình dáng chân thuần, tức là bỏ qua hay xóa bỏ những ngã chấp khuynh loát suốt cuộc hành trình tìm chân tướng. Biết vậy, giải thoát ảo giác trên bước du hành mong’’ đêm dài lắm mộng xin đêm đừng dài”, cầu mong giác tha nhưng vẫn đa mang trong tâm thức nhiều phương hướng giác ngộ thật tự kỷ. Nghiệp lực nương theo vọng chấp mà khuynh loát một khung trời thử thách. Bước đi trên lối cỏ sương bốn mùa nhật nguyệt, tâm vọng là điều muốn tỏ rõ cạnh lối nhỏ sa môn. Tâm vừa thể hiện cuộc hội ngộ trùng phùng, thì tự kỷ vẫn chưa thoát khỏi hành trình, khiến hiền giả bộc bạch vàng thau phân bua tìm lối thoát, nặng nề nghiệp lực:

Bon chen vào chợ thăm dò
bụng ham đường mật giả đò mua vôi
thánh phàm miệng lưỡi lôi thôi
Như Lai cúi xuống nhìn tôi khảy cười

(Lời Bộc Bạch Chân Tình)

Đất trời kín cả khói sương
trăm ngàn đổ lại tìm nương bóng dù
bờ bên kia rất mịt mù
mới đem thần thánh ra hù nhau chơi

(Vẽ Bùa)

Bất cứ hướng đi không định nào cũng là cuộc phiêu lưu vô bờ bến, người trí không thể nằm quanh sự suy đoán mà chờ chân kinh. Sự giải thoát nghiệp lực để trở lại bản lai, là phương tiện thiết yếu giúp đường thơ đi thanh thoát ảo diệu, và đưa tinh thơ nhập thể ngôn từ về một chân tướng như hình ảnh: “Rêu xanh còn tỏ dấu hài/ của người lên núi họa bài cổ thi”. Thơ đề trên vách đá, một tượng hình phiêu lãng giăng mắc giữa chân tâm và hư không. Ở đó, hình dạng nghiệp lực chẳng qua cũng nằm trong một giới hạn sinh hóa vô thường. Người ta có thể xoay vòng bên định kiếp do nghiệp kiến tạo , mà đón nhận những câu thơ chuyên chở những đóa hoa rừng hiếm hoi kỳ lạ.Nhưng hoa vẫn là hoa, vẫn nằm trong tri thức và nghiệp lực hữu hạn, không thể thay đổi tượng hình cho một ý thức giải thoát giữa bốn bề tà huy lồng lộng chân pháp. Mà do nghiệp lực phủ kín hướng đi, nên hành giả vẫn thao thức soi bóng giữa đêm tàn giấc lụn, hầu bước khỏi ràng buộc bởi lá cỏ quanh đường thiền hành:

Động từ một giấc chiêm bao
Ngàn xưa nước chảy ngàn sau đá mòn
Sớm không liệu kế vuông tròn
Nên khi nát giỏ đâu còn bờ tre

(Nghiệp Lực)

Bước ra khỏi nghiệp lực, người vác thi ca bằng một cuộc vượt phóng kinh điển, tỏ ngộ một bản thể sáng hóa, như một cuộc hóa thân trên từng ngóc ngách trong một tự tánh bình đẳng ảo diệu và phi thường.

KHAI THỊ NGHIỆP LỰC:

Cái ta trở mặt ta rồi
quăng thanh kiếm sét nằm vùi dưới tro
Mộng còn phá phách trong mơ
nên khi dụi mắt đường vô cùng dài

(Cõi Ta)

Khi chưa kịp trả ơn đời
bóng xô dạt bóng tay rời rã tay
Mình về khóc mướn thương vay
uổng ngàn năm vác đá xây trường thành

(Bỏ Công)

Từ ngày phế trước hoại sau
Chí lăm quậy sóng đục ngầu non tiên
Khi về cải táng tình em
mồ thanh xuân trước đã chen chúc đầy

(Cải Táng)

Lưới vung toan chụp đất trời
bắc cầu vô lượng tìm nơi vô bờ
Một thời hoang phí đường tơ
tả tơi xác nhện bây giờ vong thân

(Tự Truyện).

D. NHẬN DIỆN
(PHẨM BÈO MÂY II)

“Thấy mình lạ hoắc trong gương/mấy trăm năm đã từng nương náu cùng/mở mắt ra hốt ngại ngùng/con sâu cái bướm kỳ phùng chi nhau”. Bước ra khỏi ngoại vi nghiệp lực, là tự giải thoát được đường luân di trong giả vọng. Thơ bắt đầu biến thiên trong tự ngã chân tâm, xô đẩy khỏi thị phi hư tướng. Khác gì một trận đi núi, dốc cao gối mỏi, tuột xuống một hang thẩm, ngồi lắng nghe hoang vắng giăng sâu sự thế. Chung quanh rêu dại mọc phủ kín hồn người, bất chợt thông thấu một lương duyên ngàn năm tao ngộ. Hiền giả hình như nhận diện được bước đi của một cuộc hóa thân kỳ vĩ, bên ngoài nghiệp lực vừa được phá thể khai thông. Những cách trở xa xôi vừa được thu ngắn hành trình, dẹp tan nghi ngờ dù chỉ mảy lông mà khoanh tay đứng dựa bên bờ tử sinh, âm thầm nhìn ngắm cuộc hóa sinh bắt đầu khai nhụy:

Lang thang từ buổi ban sơ
từ khi vạn vật còn chờ hóa sinh
bấy giờ vật đã nên hình
mà chân diện mục còn rình rập ta

(Hóa Sinh)

Đưa tay vạch từng bụi cỏ, tìm ra sợi dây sinh lộ, lộn kiếp trở về đỉnh núi trong tư thái nhập thể với bản sắc kỳ diệu. Từ nay, khơi nguồn cuộc dự phóng cho thơ, trong một ý thức sáng tạo và giải thoát cho chính bản năng bằng cuộc nhận diện chính mình:

Lạc lầm từng bước phục sinh
tụng từ vô lượng trang kinh nát nhàu
khí thần trôi dạt phương nào
xác khô tấp lại bên cầu phù du

(Phục Sinh)

Hạt gieo từ bao nhiêu sinh tử kiếp, nghiệp lực dàn trải thăm thẳm trên đường hóa sinh, Bây giờ, sự cảm ngộ siêu tuyệt khiến hiền giả và thơ hóa thân trong một vọng ước vĩnh cửu cho thế giới vô chung. Hình tượng giải thoát lấp ló suốt đoạn đường hóa thân như thế, khiến thi nhân đứng trong phong vũ chống chiếc long trượng, hầu đón bắt được hằng hà tinh tú ngôn ngữ bay trong thời mạt kiếp. Sự nhận diện chính bản thân mình, bản chất vật thể của ngôn ngữ, tinh diệu của đạo pháp, và sự kỳ diệu của ngôn ngữ… hàm chứa tinh hoa vời vợi của bước đường tịch tĩnh hóa đạo.

KHAI THỊ NHẬN DIỆN:

Thánh phàm mất lối tương thông
quyên sinh từ độ núi sông dậy thì
mai sau há dễ tư nghì
còn chưa cái tử mơ gì hoàn sinh

(Một Tiểu Cảnh Thời Mạc Pháp)

Lên non tìm chút thoại đầu
Gặp sư chẳng biết mình cần chuyện chi
Rạch ròi xét nét thị phi
Hóa ra mình cũng hổ nghi cả mỉnh

(Nghi Tình)

Đã xa lắc thuở hồng hoang
Cột xiêu mái đổ đa đoan lối về
Thủy chung vẫn một thằng hề
Còn khoanh tay đứng bên lề tử sinh

(Kẻ Hóa Thạch Bên Đường)

Dốc lòng xuống núi qua truông
Chuyên tâm phổ độ lỏng buông tay cầm
Ngàn năm quỷ vẫn khóc thầm
Cơ hồ sãi đã lật nhầm trang kinh

(Phỗ Độ)

E. CÁT ĐÁ
(PHẨM CHÂN TRỜI VÔ NGẠI I)

“Tình cờ lật lại cổ thi/ người trong cổ kính đã đi lâu rồi/ ta về cách tự bao đời/ trong gương vẽ lại hình người soi gương”. Hình thái của cuộc diện bích, hóa hiện bản lai diện mục trong những thần khúc nhập tịnh, soi rọi chính chân tâm.

Khi Tổ Đat Ma nhìn vách đá, không quán (diệt trừ) cả hữu vi (có tự tánh) lẫn vô vi (không có tự tánh). Nhưng bơi trong dòng chảy thơ hiền giả lại nhìn trên gương đồng mà chiêm nghiệm tự tánh qua gương. Gương soi mấy lớp, hình người hiện thể mấy kiếp khác nhau. Thế đó, tâm thức có còn động vọng trong mật thể trang nghiêm ? Hay lại là điệu hát vô thỉ, chơi rong cho hết cuộc sinh tử nầy? Bước thật dài trên con đường hướng về chân lý, mỗi bước lưu phương định vị là một cuộc thay đổi áo dưới nhật nguyệt. Thơ hóa hiện trong lưng trời vô ngại, Không cũng không đoạn tuyệt. Có cũng chẳng thường hằng, nghiệp và quả không bao giờ bị mất như lời Phật dạy:

Nụ cười tắt lịm trong gương
vải thưa đem hứng giọt sương trăng tà
Tội cho cơm áo ta bà
mò trăng không thấy hay là không trăng

(Bờ Hư Thực)

Chớp đôi cánh mỏng vàng hoe
giữa rừng Thu một tiếng Ve lạc đề
Lời phàm ý thánh vụng về
nên chi cát đá chưa hề bận tâm

(Cát Đá)

Sự vượt thoát đi vào một chân pháp vi diệu, dòng thơ biến đổi diệu kỳ. Từ gò đá hoang vu đầy những tượng hình trầm luân, đầy đọa giữa hữu và không, bỗng bằng sự bùng nổ trong giây phút trực ngộ tình cờ, như kẻ mù lòa vừa lóe tia sáng đầu tiên. Cánh chim hồng xuất hiện nhảy lên cành cây đại thụ và phóng mình vào trời xanh, ngậm thi thiên rải xuống trùng trùng. Dấu chân xưa vẫn còn hữu vi, nên ghi lại chiếc bóng thần kỳ ngàn nay trải xuống ngàn sau:

Ngao du bỏ thắm lìa hồng
ngàn năm trôi dạt đã đồng qui xưa
Đường mòn cỏ gió đong đưa
dấu chân thiên cổ ướm vừa ngàn sau

(Dấu Chân Xưa)

Có thể, vọng tưởng tán loạn đã được lắng đứng, đưa bản thể vào cảnh giới thuần nhất. Thi nhân ôm thơ tắm gội trong từng hạt sương mai sáng láng, khác gì chim hồng hoan hỉ rỉa lông

Nhìn bầu trời mênh mang thanh thoát. Thơ đã bước vào cảnh giới hóa hiện tân kỳ, bởi yếu tính vĩnh cửu. Hiền giả ngồi suốt thiên thu nhìn dấu chân lạ lẫm vô hình vô tướng mà so bì với trời đất hạo nhiên:

Ra sông ngồi vớt lục bình
cái duyên rất mỏng cái tình đa đoan
Ta về đốt lửa đồng hoang
ngàn năm âu cũng có toan tính gì

(Lửa Đồng Hoang)

Bóng đâu chợt dẫm lên mình
Con chim sâu nhỏ giật mình bay ra
Áo tu trút lại chùa xa
Phớt lờ tiểu dị bỏ qua đại đồng

(Trả Áo)

Từ cát đá, nhà thơ chấp tay hướng về không tánh mà phớt lờ tiểu dị, rời bỏ ngã chấp như tôi mê muội đứng hồ nghi đất trời. Chính phá chấp, chân tánh hiện càng lúc càng rõ ràng, và thơ như những đóm sáng lân tinh trôi bồng bềnh theo gió nổi, cháy hoang sơ trong bầu khí thường hằng…..

KHAI THỊ CÁT ĐÁ:

Tưởng là đá núi chuyển rung
hay là trời đất tự dưng rống gầm
Thì ra mượn ngọn phù trầm
Tây phong xô ngã bờ ngăn thánh phàm

(Ngọn Phù Trầm)

Cát sông đá núi ăn thề
chân mây vô ngại đường về thung dung
Hốt đâu tâm vật rối tung
hay là nước động bóng rung tình cờ

(Nước Động)

Xâm mình ấn nút huyền cơ
cát tung dậy đất rừng trơ dấu Rùa
Đường canh sợi chỉ bung thùa
con thoi nhật nguyệt đánh lừa cơ duyên

(Con Thoi Nhật Nguyệt)

Phất tay giủ sổ bụi đời
lên non ngậm cỏ si người tình si
Chợt nghe giữa lúc toan đi
dường như trong đá tử thi bật cười

*
Tình cờ quay lại cõi người
lận lưng cái dại vui chơi ít vòng
Bước từ chân bước phiêu bồng
hất tung chữ nghĩa bên dòng phù sinh

(Đất Trọ)

F. CÀN KHÔN
(PHẨM CHÂN TRỜI VÔ NGẠI II)

‘Sông trôi lấp kín Hà Đồ/gió vi vút cuốn mịt mờ Thái Hư/Rùa bò xóa dấu Lạc Thư/trong mông quạnh ấy dường như có người’. Chấm phết trong những câu thơ, đã nói lên tam thể đồng quy, thiên địa nhân những vị trí đồng vị một cách hài hòa trong vận chuyển vũ trụ. Trời đất chưa phân chia, cả hổn nguyên chân khí bao bọc quanh hằng hà sa số hoang sơ trong vũ trụ. Mịt mờ cát bụi lưu sa quất quýt trong đại cuồng phong, bất chợt tượng hình. Thái Hư lập dựng hổn man, ngưng tụ trong hằng triệu triệu quang niên, xoay chuyển huyển hoặc phân chia lưỡng nghi âm dương huyển thể. Âm nặng chìm lắng và Địa tượng hình, dương nhẹ bay bổng chín tầng thanh khí và Thiên lập dựng .Thiên Địa hòa đồng trong bốn phương tám hướng, thành lập thiên can- địa chi , ứng khởi 64 quẻ dịch rồi phân hóa thành ít nhất 128 quẻ giăng đầy trong trời đất. Hà Đồ- Lạc Thư ghi chép về truyền thuyết những quẻ dịch như vậy.

Hành giả vừa soi rọi trí tuệ, cân nhắc cho thơ có những đồ hình lập thể, với sáng hóa hướng thơ cho ‘ vui đời tóc trắng hoa niên’ ngạo nghễ bước giữa Hà Đồ Lạc Thư mà vỗ tay ‘ trồng cây chuối ngược cho Càn Khôn quay’.

Nhập thể vào chân như, phẩm Chân Trời Vô Ngại, từ bước Cát Bụi, hiện thể Càn Khôn, và tan biến trong Vô Chung ( phẩm III, phần kết ). Suốt con đường hóa hiện từ vô thỉ đến vô chung là một không –thời gian gắn trọn kiếp số đời người. Nên tròn vẹn vành vạnh Thiên Địa Nhân đóng khung cho sự chuyển hóa thần khốc của ‘hằng hà’ tam thiên đại thiên thế giới. Thi nhân nhiều lúc như cô quạnh đến ngàn năm sau , mà gối đầu lên biển cả ngàn dâu vô thường, nghiệm rằng ‘ khi về theo ngọn Tây phong/ tình cờ quay lại đời không còn dài’:

Cựa mình hạt bụi chơi rong
hóa thân con bướm vờ trông nhau cười
Mang râu đội mũ về đời
nằm mơ chung giấc với người đang mơ

(Mộng Trang Sinh)

Bóng trăng trêu cợt đường về
tay khua bát rỗng chưa hề khổ tu
Ta giờ xõa tóc ngao du
mặc cho thần khí đánh đu xác phàm

(Điệu Gõ Bát)

Hình như, tại đây và đến nơi nầy thi nhân đã hòa nhập thần khí Thơ vào Thiền tông Thập Mục Ngưu Đồ bức tranh thứ 9 Trở Về Nguồn Cội. Hành già lặng lẽ nhập thể vào chân tánh , mở cửa bước vào thế giới thanh tịnh chẳng nhận mảy trần..

Thỏng tay xách dép qua rừng
thương cây cỏ vốn chưa từng nghỉ ngơi
Sánh vai tiều lão vui chơi
trăng không tỏ lối về nơi không về

(Lối Trăng)

Quả thật, hiện tượng vượt phóng giác đạo, bước vào tâm thức thi ca đã đưa thơ hiện thân một bản thể sáng láng siêu tuyệt. Ngôn ngữ luân chuyển trong những biến hình kỳ ảo, mặc nhiên tư tưởng trong thơ đậm nét sinh động sáng tò long lanh trải dài trong ngõ sống tâm linh, từ vô thỉ đến vô chung, và tha nhân thiên thu chiêm ngưỡng trong tự tánh ảo diệu phi thường.

KHAI THỊ CÀN KHÔN:

Ta từ chiếc lá trên cây
bỏ thiên thu chuốc một giây trùng phùng
Cảm thông từ mỗi mạch rừng
con sông trái núi chưa từng ngẩn ngơ

(Khi Thiên Hà Thức Giấc)

Vùi trong mộng mị gối chăn
tưởng quanh trái đất ngàn năm còn thừa
Bây giờ yên dưới bóng dừa
nằm so với biển cũng vừa trống canh

(Biển Cựa Minh)

Bờ Tây lệch gối sang Đông
chợt lim dim đã rêu phong gót hài
Phương kia lỗi mộng phương nầy
một ngàn năm ngủ chưa đầy giác quan

(Lỗi Mộng)

Nước chao hình bóng lập lờ
đất trời từ đó đâm ngờ vực nhau
Dâu còn xanh thẳm ngàn Dâu
con sông chưa cạn núi đâu đã mòn

(Tự Tại)

G. VÔ CHUNG KHÚC
(PHẨM CHÂN TRỜI VÔ NGẠI III)

Trăm phương ngàn cách bước vào thơ hóa sinh vô thường của hiền giả, cũng khiến người đọc chao đảo trong tư tưởng bất phân ly, trải dài trên hướng hóa hiện của thơ. Hình như nhịp thơ đi với nhiều phương cách. Chan hòa trong tư tưởng tâm triết của phương Đông, bay nhảy tận cùng bên những kinh điển, nhưng chánh tâm thi ca được nhìn thấy mênh mông bên hào quang

Lão đạo và Thiền học. chan hòa trong vượt thoát bằng chiêu niệm tử sinh, sắc thần, rừng mê,ý thánh, địa đàng, càn khôn, phù sinh, cõi người, vô thủy, vô biên, ngao du, thiên hạ, thiên thu…Những trầm khúc tịnh yên vẩy gọi mọi người đồng điệu, bước vào tư tưởng quang hóa cực kỳ lộng lẫy trong dỏng thơ có một định nghiệp viên mãn. Không còn quái ngại trước tan biến vô thường, để rổn rang hứng đón từng lời vô ngôn vậy. Nhìn đây:

Nửa đường lột xác ngao du
đôi tay trăng nước ngàn thu chưa rời
mặc tình cửa lấp sông bồi
vẫn nghiêng ngã giữa trận cười vô thanh

(Ngựa Bỏ Yên Cương)

Nương nhờ sức của tự nhiên
chẻ đồi chém núi nhìn xuyên cõi ngoài
Soi gương vẽ lại hình hài
hốt nhiên tỉnh giấc mộng dài trăm năm

(Hướng Ngoại)

Phẩm Chân Trời Vô Ngại III, tách rời được những tâm thức động vọng khi nhập bước luân chuyển thơ hành trình thơ. Bước khởi đầu nguyên thủy trên những phẩm Sen Vàng, Bèo Mây từng bước chân lãng du lưu phương không định hướng còn để lại nhiều dấn chân vọng tưởng.

Thật vậy, Chân Không Để Dấu như bước giang hà, phiêu bạt tiệm tiến cùng trăng gió, tử sinh và đạo hạnh…Như dấu vết dần dần tan biến cùng theo nhịp bước thời gian, từ hiện thể u mê ngàn trước mù lòa ngàn sau, đến những con đường không lối, nhập vào nhịp gõ Trang Chu, mong ước cơ duyên lật nhầm trang kinh, đến phục sinh vô lượng….

Chân Không Để Dấu trở lại phản bổn hoàn nguyên, hình ảnh Thiền tông lá rụng về cội dể khép lại chân tướng vi diệu pháp vậy.

KHAI THỊ VÔ CHUNG KHÚC:

Đừng màng ruộng cạn ao sâu
tả tơi gót ngựa về đâu cũng về
tử sinh, mép đã gần kề
hơi đâu bận bịu những thề thốt xưa

(Mép Tử Sinh)

Dọc đường cúi lượm hoa rơi
tiêu pha ngày tháng cuộc chơi công hầu
chờ khi nguyệt xế qua đầu
rủ rê nhau nốc cạn bầu tử sinh

(Nguyệt Xế)

Lỡ từ bước lỡ hồng hoang
tử thi chồng chất ngỗn ngang đường về
kịp khi hồn phách gần kề
hóa ra vạn vật chưa hề tử sinh

(Sinh Tử Khúc)

Hình như chót lưỡi có bùa
nói đâu trúng đó từ xưa đến giờ
đàm thiền thuyết đạo vu vơ
mà thiên hạ chẳng ai ngờ tào lao

(Duyên Đầu Lưỡi)

Về rừng gót ngựa thuần lương
dọc ngang đâu khó bằng nương bóng mình
Lời thô ý rất thiệt tình
trong tro có lửa trong mình có ta
Khi xa chăn gối cũng xa
lúc gần địa võng thiên la cũng gần

(Khúc Vô Chung I)

Lúc nương cát bụi về trần
Thân đơn một áo đàn cầm một giây
Chim rừng hót giữa vòm cây
Biển lao xao đón một ngày phục sinh
Hết mù sương, cạn ý tình
Núi sông giờ lại nguyên hình núi sông

(Khúc Vô Chung 2)

Ngô Nguyên Nghiễm
Viết tại Thư Trang Quang Hạnh
Mùa Hạ- Quý Tỵ (2013)

MẠN CHÚ:

Thi phẩm CHÂN KHÔNG ĐỂ DẤU của nhà thơ- nhà biên dịch TRẦN YÊN THẢO, gồm 3 phần SEN VÀNG – BÈO MÂY – CHÂN TRỜI VÔ NGẠI, tổng cộng 163 bài lục bát (2 bài 6 câu lục bát, 4 bài 8 câu lục bát, 1 bài 5 câu lục bát, và 156 bài 4 câu lục bát).

Khi giới thiệu bài viết về Thi phẩm CHÂN KHÔNG ĐỂ DẤU, người nhận định mạn phép chia ra 7 phẩm :

A. SƠ HUYỀN (Phẩm Sen Vàng I)
B. DỊ MỘNG (Phẩm Sen Vàng II)
C. NGHIỆP LỰC (Phẩm Bèo Mây I)
D. NHẬN DIỆN (Phẩm Bèo Mây II)
E. CÁT ĐÁ (Phẩm Chân Trời Vô Ngại I)
F. CÀN KHÔN (Phẩm Chân Trời Vô Ngại II)
G. VÔ CHUNG KHÚC (Phẩm Chân Trời Vô Ngại III)

Nguồn: Tác giả gửi

Đã đóng bình luận.