Tình người trong địa ngục

Posted: 05/12/2014 in Khiêm Nguyễn, Truyện Ngắn

Khiêm Nguyễn

Thương nhớ về Bố tôi. Để tri ân những người dân nghèo tỉnh Bến Tre giàu lòng nhân ái, tri ân chú Sơn, đã quên cả an nguy của gia đình và cứu tôi trong cơn hoạn nạn. Viết cho các con Huân và Uyên để con hiểu thêm tại sao Bố lại đến mảnh đất bình yên này. (K.N.)

vuot_bien

Bị bắt

Gần tờ mờ sáng lúc rạng đông còn ẩn phía chân trời xa tít. Tầm mắt trải dài dõi theo từng đợt sóng thẫm màu nhấp nhô đôi khi bất chợt lóng lánh vì những tia nắng ban mai đầu tiên bắt đầu xuyên qua vầng mây hồng đậm. Làn không khí trong lành mang hơi nước ẩm mát của gió biển tràn đầy hai phổi. Chợt ẩn chợt hiện trong làn sương sớm một đôi ba những chấm đen nhỏ trên con sóng xa xa, cánh buồm của những dân chài lưới. Một phong cảnh tuyệt đẹp nên thơ như tranh vẽ trước mắt cho những khi cuộc đời đang vui tròn hạnh phúc, nhưng cũng có thể là cảnh tượng mang đến bao nỗi chết chóc cho những con người đang trên đường tìm Tự do.

Con tàu dài gần 24 thước, 3 “lốc đầu bạc” (loại máy Yanma với nắp qui lát màu bạc) với hơn 300 nhân mạng, trong đó có Bố, tôi và anh Kim, đầy ắp người trên boong, trong hầm cá, trong cabin, nói chung là khắp nơi , tròng trành theo từng đợt sóng của tháng 3. Tháng mà dân vượt biên mong chờ cơ hội, để giảm đi phần nào xác suất xảy ra của cái giá đắt nhất cho Tự do, cái chết. Chết trên biển vì bão, vì đói, vì vỡ tàu, vì muôn l y do khác ….Tàu tôi đi thuộc loại khá lớn, do đường dây Ba Phận ở Bến tre tổ chức. Nếu ai đã từng bôn ba vượt biển qua đường lục tỉnh Nam kỳ những năm 1980s, chắc có thể đã nghe qua hoặc đã đi bằng đường dây này. Đó là tổ chức đưa người vượt biên do một đại tá công an Việt cộng tỉnh Bến tre tên Phận cầm đầu. Vai vế thứ 3 trong gia đình nên gọi tắt là Ba Phận.

Ngồi trên boong , cạnh miệng hầm cá tối đen chen chúc những thân người ngồi lố nhố cạnh nhau, mùi hôi hám vài ngày không tắm, mùi khai của nước tiểu trẻ con, mùi tanh tanh của ói, bốc lên quanh quẩn ở miệng hầm . Tôi bám chặt lấy tay Bố. Tiếng sóng vỗ vào hông tàu rào rạt hòa lẫn với tiếng máy tàu đều đều và cảm giác bập bềnh làm tôi cảm thấy lại bắt đầu say sóng. Bám chặt và ráng không để bị chen lấn rơi xuống lại cái hầm bên cạnh mà tôi vừa thoát lên được nhờ bàn tay Bố khoảng nửa giờ trước đây.

Ngồi lừ đừ say sóng, tôi nửa nhìn ra biển mênh mông đang hiện dần ra dưới ánh ban mai, nửa đang nhớ lại nổi sợ hãi tối qua khi nhẩy từ chiếc sà lan (một tàu gỗ chứa tạm chúng tôi trong 3 ngày) qua tàu lớn trong bóng đêm đen đặc.

Vài tiếng đồng hồ trước đó ……….

– Tuấn, nhẩy qua đây con.

Tiếng Bố hòa lẫn tiếng sóng rì rào trong đêm tối như mực vọng lại từ phía trước mặt . Tôi vẫn không dám nhẩy. Đám người lố nhố phía sau tôi bị dồn lại, bắt đầu hơi bực dọc.

– Đ.M., nhẩy đại đi thằng nhỏ. Bị bắt hết bây giờ đó mày.

Một ai đó sau tôi chửi thề nho nhỏ. Hai chữ “Bị bắt” như cho tôi một luồng can đảm bất ngờ. Định thần nhìn kỹ, trong đêm đen, lờ mờ bên kia là thành tàu lớn. Khoảng cách từ chỗ tôi đang đứng đến đó là hơn 1 thước, chiếc sà lan khá cao nên tôi không thể thấy được nước sông bên dưới trong đêm tối. Hai chiếc tàu tròng trành không đều nhau nên nhẩy sẽ dễ hụt chân rơi xuống sông. Đoạn sông gần biển nên chảy siết, trong đêm giữa lúc đang trốn chạy, nếu rơi xuống thì coi như chết. Chỉ biết lúc ấy, tôi sợ bị bắt hơn tất cả, nên với hết sức bình sinh, tôi nhẩy thật mạnh. Chân tôi chạm vào sàn gổ của tàu bên kia, vấp phải cái gì đó nên ngã chút về phía trước. Một vòng tay chụp lấy tay tôi kéo lại. Hóa ra là tay Bố, tôi mừng rỡ.

– Anh Kim đâu Bố?

– Tối quá nên chưa thấy đâu cả, có thể anh con đã qua (tàu lớn) rồi không chừng .

Đám người trong ban tổ chức vượt biên ra hiệu cho chúng tôi nhẩy xuống hầm cá. Cái hầm tối mịt sâu gần 2 thước làm tôi loạng choạng, đầy người đã ngồi sẵn từ lúc nào, tôi cố tìm một chỗ ngồi xuống trong bóng tối. Hầm rất ngột ngạt, vừa tanh mùi cá, vừa đủ các mùi hôi hám khác cùng với cái say sóng làm lần lượi từng người bắt đầu nôn mửa. Một khoảnh khắc trôi qua, không biết là bao lâu, chỉ biết sắp đến lượi tôi nôn mửa rồi!

– Tuấn, nhẩy lên đây.

Giọng Bố tiếng rõ tiếng không, xen lẫn trong tiếng máy tàu xình xình, cùng một lúc với một cánh tay trên miệng hầm chìa xuống. Trong cơn ngầy ngật say sóng, ngước lên vầng ánh sáng lù mù nơi miệng hầm, đu chặt lấy cánh tay ấy và tôi thấy mình được kéo bổng lên bầu không khi dễ chịu phía trên.

Thì ra Bố đã tìm cách nhẩy lên boong tàu từ lúc nào tôi cũng không biết, và anh Kim cũng đang ngồi bên cạnh. Không khí thoáng mát trên boong làm tôi bớt buồn nôn và bắt đầu quan sát chung quanh. Có những khuôn mặt khá quen thuộc vì đã 3 ngày trước cùng ở chung trên chiếc sà lan. Có những khuôn mặt mập mạp, vớt bắp thịt đô con của mấy tên thanh niên mà tôi rất khinh bỉ. Hành động chen lấn giành phần ăn của họ trong mấy ngày qua, bất chấp trẻ con và người già cùng đi trên con đường hoạn nạn chung chiếc sà lan đã làm đen hết phẩm cách con người. Tôi quay đi để không muốn nghĩ tới hình ảnh giành giật tồi tệ ấy.

Cơn sóng bất ngờ đánh mạnh vào hông tàu làm nó lắc lư, nước tung tóe lên mọi người trên boong. Tôi ngồi giữa nên chỉ bị ướt sơ.

Nước lạnh làm chợt tỉnh trở về với hiện tại, tôi vuốt mặt cho ráo, nước có vị hơi mặn nên đoán là tàu đã ra gần cửa biển rồi. “Sắp thoát”, tôi thầm nghĩ và mừng nhưng cùng với một nỗi buồn vô hạn – Không biết bao giờ mới có thể gặp lại được Mẹ, các anh chị thân thương, căn nhà yêu dấu của thủa thơ ấu. Chợt thấy trong mắt cay cay, tôi mở to mắt quay nhìn ra biển để không khóc.

Chân trời trước mặt đã có mầu đỏ hồng của ánh dương nhấp nhô theo con tàu đang nhẩy sóng. Nước biển xanh đậm xác định cái đoán mò khi nãy – đã ra tới cửa biển. Nhưng quái lạ, tại sao tàu vẫn cứ bình bình mà đi thay vì phải xả hết tốc lực về hướng biển. Mãi sau này, tôi mới biết là đám chủ tàu bị đám

công an bao bãi cho người đi thêm quá số, nên dung dằng cho tàu chạy chậm vì không biết phải tính sao. Có thể thiếu nước ngọt, đồ ăn vì họ không liệu trước được con số 300 người!

Bất ngờ –

– Đùng …. Đùng ….. ……

Tiếng súng chát chúa làm mọi người chợt tỉnh hẳn. Trời vẫn còn mờ sáng chưa rõ. Nghe lầm chăng ?

– Đùng …. Đùng …đùng….đùng….

Lần này, một tràng đạn đại liên rõ mồn một bên tai, theo sau đó là một tiếng nổ rất to, “Ầm”. Qua kẽ hở của vách lá dùng làm mái che cho boong tàu, tôi ngước mắt hướng theo một vệt đỏ đậm vụt nhanh qua trên đầu chúng tôi. Mọi người thất thanh, một ai đó la lên:

– “M79, đạn M79, công an biên phòng, chết rồi bà con ơi!”

Họ dùng súng phóng lựu đạn chống biển người trong chiến tranh để đối phó với đám người vượt biên tay không! Hận thù chúng tôi những gì? Chỉ có họ mới biết được. Tiếng người trên tàu thét lên xen trong tiếng sóng vỗ, tiếng máy, tiếng khóc, tiếng cầu kinh, tiếng chửi thề.

– “Mở hết tốc lực đi chú tài công”. Bố gầm lên trong giữa những tiếng hỗn độn.

– “Trời ơi, tắt máy đi, chứ chết hết làm sao”. Một người đàn bà vừa mếu máo vừa than van.

– “Đ. Mẹ chết thì chết chứ không để bị b…ắ.. t…..”, giọng người đàn ông nào đó bị át đi bởi một tràng đại liên nữa, lần này rất gần.

Máy tàu nổ chậm lại chỉ còn để ở vị thế “idle”. Chợt cảm thấy bàn tay mình được buông lỏng, tôi mới định thần lại. Bố đang ngồi thừ ra, ngả nghiêng theo con tàu lắc lư, khuôn mặt tuyệt vọng, tay buông rơi tay tôi. Ông vừa thoát cảnh 5 năm lao tù cải tạo vài tháng trước đây, giờ thì sắp tù vì tội … vượt biên – Một thứ tội chỉ có ở đất nước cộng sản Việt nam giành cho những người không muốn sống với cộng sản!

– “Đây là du kích Bình Đại. Các anh đã bị bắt. Nếu chạy, chúng tôi sẽ bắn. Tắt máy đi. Chúng tôi sẽ dòng ghe về đồn”.

Tiếng loa sắt chát chúa vang lên trên sóng nước mênh mông, cộng với tiếng vọng trên mặt biển như làm rõ hơn bản án tử hình có thể xẩy ra cho mọi người nếu không tuân phục.

Tiếng máy tàu vọng từ chiếc ghe biên phòng gầm rú như loài hổ đói đang thị oai trước những con mồi rúm ró khiếp sợ. Chấm đen đã hiện rõ thành chiếc ghe công an trong ánh nắng đang lên, nó chạy vòng quanh tàu tôi vài lần. Họng súng đại liên gắn ngay trên gần mũi ghe và băng đạn dài, cùng với những tên du kích xã đứng trên ghe đang hăm hăm trong tay những AK, M16 cải tiến (băng đạn dài và cong hơn loại thường) hướng về phía ghe chúng tôi. Chúng chạy tới lui và cuối cùng quăng sang một dây thừng để dòng ghe chúng tôi đi. “Thế là hết, bị bắt rồi”, tôi thầm nghĩ. Có ai đó đang khóc thút thít sau lưng.

Tù tội

Giòng Bến tre, một sông của Cửu long giang, khi ra gần biển thì tẽ làm 2 nhánh, Bình đại và Bình tiểu. Bình đại là cửa lớn, tưởng dễ đi nhưng có rất nhiều cồn. Chỉ có dân đánh cá địa phương mới dám lái ghe qua ngả này. Đã có rất nhiều chuyến vượt biên bị mắc cồn, đám công an biên phòng chỉ cần chờ nước giòng (thủy triều xuống) là đem tàu nhỏ ra bắt rất dễ dàng. Cửa Tiểu không có cồn, nhưng nhỏ, chỉ cần vài ghe tuần duyên là dư bắt vượt biên.

Chiếc ghe bị dòng đi nên lắc lư thật mạnh bởi những con sóng ngang. Bị say sóng quá nên tôi không nghe được Bố dặn 2 anh em phải khai báo như thế nào cho ăn rơ. “Tên Bố …..La Quang Minh…con….tên…., anh K……”, bụm miệng tôi nôn mửa trong tay mình. Đến cầu gỗ để neo tàu ở đồn biên phòng Bình đại, bọn công an nhẩy lên tàu, trói từng hai người lại với nhau bằng dây tời. Bố tôi và anh Kim tự nắm tay nhau để được trói chung!

Tôi còn bé nên không bị trói, chỉ nắm tay đi theo Bố, cảnh ấy làm tôi chạnh lòng nhớ tới đoạn văn sử tả Nguyễn Trãi lẽo đẽo đi bên cũi cha khi ông Nguyễn Phi Khanh bị bắt sang Tàu. Cảm giác tù tội, không ai có thể thấu hiểu được đúng nghĩa nếu không chính mình trải qua. Nhưng tội gì? Uất nghẹn, khẳng định, tôi không có tội, nếu có thì chỉ là bọn chúng gán cho tội “Yêu chuộng và đi tìm Tự do”. Đám chủ ghe bị trói thúc ké, bị vài cú đấm thị oai và bị dẫn đi trước hết. Tội nghiệp cho họ!

Tất cả những người còn lại trên ghe đang thất thểu thành hàng dài bọn du kích xã dẫn vào tập trung ở một cái lán với những băng ghế làm bằng sắt ấp chiến lược, chắc ngày trước dùng làm trại lính.

– Đùng…. Đùng….

Tiếng súng AK của bọn du kích lại bất ngờ nổ. Mọi người ngơ ngác hoang mang. Bọn du kích chửi rủa tục tĩu phía xa xa nơi mấy bụi chuối gần cuối cây cầu tàu. Vài phút sau, chúng kéo lê một anh thanh niên bằng hai tay, chân anh máu đang loang đỏ cả mặt đất theo dấu hai gót đang chà sát xuống mặt bùn. Thì ra, anh ta định lủi vào mấy bụi chuối để trốn chạy, nhưng không kịp và bị bắn. Bọn du kích cố tình kéo lê anh ấy một vòng cho đám tù xem, như để đe dọa những ai đang mưu tính bỏ chạy. Nhưng chạy làm sao ra khỏi cái thị xã Bình đại nhỏ bé này mà không bị bắt lại!

Quá trưa, bọn chúng khiêng đến một thùng phuy bị cắt nửa trên, dùng làm nồi nấu cho tù. Lều phều giữa nước nguội là vài quả cà chua, vài đọt rau muống dơ bẩn. Một cái thau nhôm lấy trên tàu chứa cháo nấu từ gạo, cũng lấy trên tàu vượt biên vừa bắt được, được khiêng đến. Đám người tù vì nhịn đói từ chiều qua nên lao vào múc cháo. Một lần nữa cái cảnh giành ăn đau lòng!

– “Húp đi con”, Bố đưa tôi cái loong ghi-gô được chừng lưng cháo.

Tôi cố nuốt miếng cháo loãng, nhạt nhẽo, lòng không thấy đói, chỉ thấy mệt và muốn được ngủ một giấc. Hóa ra mấy ngày nay tôi chưa có được một tiếng đồng hồ ngủ cho ra giấc cả. Không có nước uống, tôi đành uống đại miếng “Canh tổ quốc – thứ nước lã, cà chua và rau muống dại nấu lên” cho đỡ khát. Nhìn ra kia, đoàn tù đang lại sắp hàng để khai cung lần thứ nhất.

– “Khai Bố là người Tàu, tên La Quang Minh, làm vườn, khai là không quen biết với anh Kim. Nghe chưa.” Giọng Bố nhỏ , khàn khàn và gọn. Anh Kim đứng sau, tay đã lại bị trói chung với Bố. Tôi xách một cái túi đi chợ bằng cói, có bộ đồ của Bố và 1 của tôi. Giầy dép của mọi người lớn đã bị bọn du kích tịch thu vì sợ họ chạy trốn. Đám trẻ con thì còn được mang dép.

Dạo đó người Hoa được cho đi vượt biên bán chính thức, nên khai là người Hoa, có thể được thả về sớm. Đó chỉ là điều hy vọng trong lúc tuyệt vọng, không chắc sẽ xảy ra. Tôi lếch thếch theo Bố đi ra khai cung lúc quá trưa, nhưng mặt nắng vẫn còn rất cao. Bất chợt, mặt Bố thất thần, qua lại phía sau nói thều thào với anh Kim, nhưng đủ để tôi nghe.

– “Thôi chết rồi con ơi!, thằng công an lấy cung ngồi ở bàn kia là thằng H., hạ sĩ dưới quyền Bố ở rừng Sát ngày trước. Nó là Việt cộng nằm vùng, nó biết rõ mình từng là Đại úy Chỉ huy phó vùng rừng Sát, mới học tập về”. Nếu lai lịch như thế, chúng sẽ chuyển Bố đi trại trọng giam ngay. Mặt Bố xám sịt lại. Chắc hình ảnh trại tù cải tạo đang hiện ra trong mắt lúc ấy.

– “Chắc không sao đâu Bố, có thể nó nhận không ra mình đâu, Bố cứ bình tĩnh”, anh Kim an ủi nhỏ.

Ánh nắng chiều tai quái làm đoàn tù chúng tôi nhễ nhại, vài đứa trẻ đứng chờ cha mẹ khai cung đã lăn ra đất vì lả đi. Tên hạ sĩ nằm vùng, trong quân phục công an huyện, lấy cung lúc đấy chắc đã thấm mệt, nên đứng dậy gọi một tên khác vào thay thế. Bố như được cho cơ hội sống lần thứ hai!

Đến lượi chúng tôi khai cung, chúng chẳng thèm ghi chép dài dòng, chỉ hau háu lục lọi và tịch thâu hết tất cả tiền bạc, đồng hồ của Bố, ngay cả mắt kính cận của anh Kim., chúng cũng không từ. Thật ra, bọn chúng không biết chứng cận thị là gì, mà cho đeo kính là… một thứ trang sức của bọn rởm đời nhà giàu ở thành phố! Tội nghiệp anh, lúc đó đã cận khá nặng, thiếu kính là một cực hình.

Khai cung xong, trời đã chập choang tối. Chúng tôi bị lùa tới một nhà tù không xa lắm. Đây là nhà tù dành cho hình sự nên mỗi dãy khám dài khoảng mươi thước, chia thành từng phòng giam nhỏ ngang dọc chỉ cỡ 1 thước. Vài người tù bám song sắt nhìn chúng tôi với ánh mắt ngạc nhiên. Họ không tưởng tượng được sao lắm tù thế này! Tôi rùng mình vì lần đầu tiên trong đời tận mắt thấy trại giam, và nghĩ đến chính mình sẽ nằm trong phòng giam đó.

Bọn du kích xã lúng túng không biết phải tính sao để giam hơn 300 người, nên chạy tới lui cãi nhau, chửi thề ầm ĩ. Cuối cùng chúng đồng y dùng dãy nhà lá để giam đám đông tù này. Từng hai người tù lại bị trói với nhau trước khi ngủ chung trên những chiếc sạp nứa. Bố, anh K, và tôi được 1 chiếc sạp nhỏ sát vách lá. Quá mệt, tôi thiếp đi mặc kệ những thanh nứa của chiếc sạp làm rất rêm mình và khó ngủ.

Quá nửa đêm, thức giấc vì buồn tiểu, tôi phải xin phép tên du kích canh tù cho đi ra ngoài vách lá, hắn hất hàm ra dấu. Cánh đồng lù mù trước mặt trong sương mờ, tiếng ễnh ương, cóc nhái oềnh oang tự do làm tôi rưng rưng muốn khóc. Cả loài ếch nhái cũng có tự do ca hát, còn tôi, chỉ việc vệ sinh cá nhân cũng phải xin phép. Biên giới của tự do và tù đày chỉ là bầu không khí trong lành trước mặt và tên du kích xã đang cầm súng sau lưng. Tù tội, nhưng tội gì, một lần nữa tôi khẳng định trong đầu, mình không có tội, chúng bỏ tù mình vì mình đi tìm Tự do. Lủi thủi tôi cúi đầu đi trở lại cái sạp nứa.

Tình người trong địa ngục.

Mặt trời vừa lên, bọn du kích khua mọi người dậy, chuẩn bị để giải về thị xã Bến tre, nơi có nhà giam lớn dư chứa đám tù này. Lục tục leo lên tàu, lòng cảm thấy thê thảm làm sao. Cũng chiếc tàu dự định đưa chúng tôi đến bờ Tự do, giờ đây lại đưa về trại giam lớn!

Chẳng có nước uống, mọi người trên tàu uống đại nước đang phun ra từ cái bơm nước làm nguội máy. Vị nước quá lợ, dơ và hôi mùi dầu cặn, tôi chỉ hớp một ngụm nhỏ dù đang khát lả người. Tàu chạy đến quá trưa thì tới thị xã Bến tre. Bọn công an đã dàn hàng trên chiếc cầu tàu xi-măng lớn để đón đám tù khốn khổ. Những người dân đứng lố nhố sau hàng rào công an. Có cả những người buôn gánh bán bưng và trẻ con hiếu kì bu lại xem rất đông. Bọn công an thị xã đã đậu sẵn 4 chiếc xe vận tải để chở tù về trại giam chính. Tôi đang quan sát đám đông thì chợt:

– “Tuấn, con cầm lấy cái này. Nhanh lên”.

Bố dúi vào tay tôi mẩu giấy bạc thuốc lá nhầu nát với giọng khẩn cấp. “Cái gì vậy Bố” đang mệt tôi cố hỏi nhỏ.

– “Khi lên tới cây cầu, đợi cơ hội, con ráng tìm cách lủi qua tụi công an, chen vào đám trẻ, rồi chạy nhanh ra khỏi đây. Tìm người nào có thể tin được, cho họ xem giấy có địa chỉ này, và nhờ họ đưa con đến. Người ở địa chỉ đấy sẽ giúp con về Sài gòn, cho Mẹ hay tin Bố và anh đã bị bắt. Nhớ chưa? “

Tôi hơi run, vì chuyện sẩy ra giống như một đoạn phim cậu bé Do thái trốn chạy khỏi trại tập trung Đức quốc xã. Khác chăng là tôi đang trốn chạy ngay ở quê hương tôi!

“Nhà in Quyền, 12 đường Lí Chính Thắng” nghệch ngoạc trong tờ giấy bạc nhầu nát, tôi cố gắng đọc. Làm sao đây? Từ bé đến giờ tôi chưa từng một mình đi đâu cả chứ đừng nói trốn tù. Sanh trong một gia đình có Bố là sĩ quan, anh em chúng tôi có chút máu nhà binh, nghĩa là “Tin tưởng và tuân lệnh” Bố. Khối óc đơn giản của tôi tin là Bố đã nghĩ chu đáo, nên mình chỉ cần thi hành là sẽ thành công!

Nắng chói chang trên cái đầu trần làm tôi ngầy ngật, lục tục theo chân Bố leo từ tàu xuống cầu xi-măng trong khi bọn công an đang cố ngăn những người bán mía gim, nước trà đa bịch, bánh mì không và các thứ quà vặt khác. Tôi thèm quá một ngụm nước trong, một miếng mía cho đỡ khát, mẩu bánh mì không nhỏ cũng là một giấc mơ cho cái bao tử trống rỗng từ chiều qua. “Không còn đồng bạc nào cả, chúng đã lấy cả rồi “, Bố nói nhỏ. Bất giác, giòng nước mắt chảy dài xuống đến môi làm tôi cảm thấy vị mặn mặn. Mỗi một ngày, tôi hiểu thêm 1 nghĩa mới của sự tù tội. Quyền uống một ngụm nước trong cũng bị tước đoạt mất rồi!

Những người bán hàng nhanh chóng hiểu ra đám tù khốn khổ đã không còn tiền nữa nên sẽ chẳng có sự mua bán nào cả. Những người hàng rong này rất nghèo, quần áo vá víu, nón lá rách tả tơi, dép hai quai cũ mèm mòn quẹt, da dẻ đen đủi do tháng ngày dãi nắng. Có những chị gò mát gầy guộc, khô nâu, vẹo tấm thân nhỏ bé để cân bằng cho cái rọ cói đựng bánh mì. Những cậu bé bán rong , trạc tuổi tôi, đầu trần không nón, oằn lưng vì cái đãy đựng mía gim. Họ sơ sác, chẳng khác gì chúng tôi. Có chăng là họ đứng ngoài hàng rào bọn công an thôi. Cả gia đình họ trông mong vào thu nhập duy nhất từ những khẩu mía gim, những bịch trà đá, những cái bánh ú. Gánh hàng là tất cả gia tài của họ, đơn giản là như thế.

Đoàn tù đói khát thất thểu đi trong tiếng mời gọi hàng rong giữa buổi chiều nắng cháy.

-“Bị lấy hết tiền rồi!” Có ai đó mạnh dạn kêu to trong hàng tù đang đi. Tiếng rao hàng thưa dần. Tôi lê bước, dọc theo hàng công an, khoảng cách giữa hai tên công an làm mắt tôi dán vào bịch trà đá trên tay một chị hàng rong đứng ngay đấy. Tôi nhìn một cách thểu não vì quá thèm ngụm nước.

– “Uống đi em, chị cho nè! “

Tôi trố mắt, ngạc nhiên, tay với ra khoảng giữa hai tên công an để cầm lấy thiên đường – bịch nước trà đá!

“Cám ơn chị”, tôi nói nhanh trong khi tên công an đẩy tôi loạng chạng lui lại phía sau.

Những gì kế tiếp là chuyện hoang đường nhưng đã xảy ra trong một chiều oi bức tháng 3 năm 1980, trên chiếc cầu tàu xi-măng giữa chợ nổi tại thị xã Bến tre.

Những ổ bánh mì không, những chiếc bánh ú, bánh ích, mía gim như mưa được liệng qua hàng rào công an rơi vào tay đoàn người tù đói khát mặc cho bọn công an chửi bới ngăn cấm. Không ngôn từ nào có thể tả được cái tình người, lòng nhân ái vô bờ bến của những người bán hàng rong hôm đó. Họ đã cho tất cả gia tài cho chúng tôi mà không màng đến cái đói no, không màng đến ngày mai sẽ ra sao, không màng đến cái nghèo khó của chính họ. Họ chỉ biết có những con người Việt nam đang đói khát trước mặt họ và cần sự giúp đỡ.

Mãi tới giờ đây, 34 năm rồi mà mỗi khi nhớ lại tôi vẫn xúc động rưng rưng vì cái tình người dạt dào trong cơn hoạn nạn. Trong cái địa ngục cộng sản kia nơi con người đói khổ triền miên, vẫn có những tấm lòng nhân ái, những hành động đơn giản mà cao thượng. Đó có thể ví như một chương nữa thêm vào trong quyển “Những tâm hồn cao thượng” (Nguyên bản: HEARTS: A schoolboy’s Journal, do Hà Mai Anh dịch) mà tôi đã đọc thủa bé.

Ngụm trà lạnh và mẩu bánh mì làm tôi tỉnh hẳn. Đoàn tù vẫn còn đang náo loạn lo lượm nước bịch và bánh. Đám đông bên ngoài vòng công an huyên náo khuyến khích. Chợt bên tai tôi có tiếng Bố nho nhỏ:

– “Bố đẩy con ra, trà trộn vào đám trẻ con bán hàng, xong chạy nhanh lên, nghe chưa”.

Có cánh tay đẩy tôi chúi nhủi vào những cậu bé bán rong bên ngoài đang đứng sát vào 2 tên công an. Hàng rào tay của chúng vỡ, đám trẻ và tôi ngã cả ra sàn xi-măng. Có vài mẩu mía rơi xuống đất, đám tù lao vào lượm, quang cảnh hỗn độn. Những tên công an la hét, chửi rủa thậm tệ và xô đẩy mọi người vào trong hàng rào. Có cả những cậu bé bán rong lộn vào trong nên la ó đòi ra.

Tôi bất chợt thấy mình đứng ngoài vòng vây của bọn công an!

Vội lủi nhanh ra sau đám đông, tôi định chạy nhưng sợ chúng nghi ngờ. Không biết phải làm sao, nên đành đứng sớ rớ đàng xa xa nhìn lại đám tù đang leo lên chiếc xe vận tải. Bố đang đứng cạnh anh Kim, ngay sát thành xe. Bàn tay phải giả đò như vuốt tóc nhưng ngón tay thì ngoắc ngoắc như ra hiệu cho tôi chạy đi. Phải hai ba lần như thế tôi mới quay lưng nhưng lòng rất hoang mang.

Làm sao để biết “Tìm người nào có thể tin được” bây giờ ? Khối óc đơn giản của đứa trẻ mười tuổi làm sao quyết đoán ai tốt ai xấu trong tích tắc. Bài toán của cuộc đời qua khó!

Một người đàn ông trong đám đông, ăn mặc tươm tất, đầu đội nón có vành trắng nhạt, ngồi trên yên chiếc xe đạp, chân chống xuống đất, đang thản nhiên nhìn đám tù lên xe.

– “Chú ơi , giúp cháu tìm địa chỉ này đi, gia đình cháu sẽ tạ ơn chú”. Tôi nói nhỏ trong khi chìa cho ông ta xem cái giấy bạc nhầu Bố đưa.

– “Đi chỗ khác đi mày, tao không biết đâu”. Hắn trả lời trong khi hai tay xua đuổi tôi như tà ma vậy. Vài người đứng quanh bắt đầu hiếu kì.

Vội quay đi “Chết, mình tính sai rồi!”, tôi nghĩ nhanh. Ngoái lại nhìn, tôi chợi lạnh gáy. Gã đàn ông đang nói gì đó với một tên công an và trỏ tay về hướng tôi. Đi như chạy tôi cố lẩn nhanh khỏi đám đông, hoang mang không biết về đâu, tìm ai đây nữa giữa cái thế giới đầy cạm bẫy này. Tin ai? Hỏi ai? Liệu có nên cho họ biết lai lịch trốn tù của mình không. Ai sẽ có can đảm giúp mình giữa lúc này? Lòng rối bời, chân bước nhanh về hướng vô định phía trước. Tôi trốn chạy ngay trên Quê hương tôi, và không một người thân quanh mình!

Ân nhân trên bước đường hoạn nạn

Lủi thủi trên con đường nhựa loang lổ những ổ gà, vài cây me già héo đang thả những chiếc lá me vàng bay bay trong gió. Tôi cố để mắt quan sát “tìm người tin được“. Quanh tôi, toàn thấy những người dân nghèo sơ xác lếch thếch đi lại hai bên vỉa hè. Có em bé chạc 5-3 tuổi, không quần mặc, không giầy dép, tay chân ghẻ chóc, chỉ độc 1 cái áo mỏng nhăn nhúm, dơ dáy, mũi chảy lòng thòng, ư ử khóc không ra tiếng, miệng mút ngón tay, nắm vạt áo người mẹ, đang đi chào vé số cho người qua đường. Những bác đạp xe lôi (Bến tre và các tỉnh không có xích lô đạp) hom hem, nhễ nhại trong chiều nực nội, cố tìm khách nhưng chẳng có ai gọi. Cái nghèo khổ triền miên cố hữu trong cuộc sống sau 1975 thường làm tâm hồn lạnh cảm khi đối diện với cảnh nghèo khác. Ở Sài gòn lúc đó dù có khổ, nhưng cũng chưa bằng ở thôn quê. Tôi bước đi, lòng vẫn cảm nhận được cái khốn khổ quanh tôi. Tôi đang đi giữa địa ngục!

Đôi dép nhựa đã đứt 1 quai trong lúc xô đẩy ở cầu tàu làm đôi chân không đi nhanh được. Ngoái lại đằng sau, tiếng huyên náo của đám đông vẫn còn khá rõ, “Không biết nó có đuổi theo mình không? “ tôi bước mà nỗi sợ bị bắt lại làm không nghĩ ra kế tiếp mình sẽ phải làm gì. Nhưng làm gì? Túi không có đến một xu, trên người duy nhất chỉ có 1 bộ đồ 4 ngày chưa tắm giặt. Ăn gì, uống gì, ngủ ở đâu, làm sao đi về Sài gòn cho Mẹ hay tin đã bị bắt? Một y nghĩ chợt thoáng qua, “Hay mình quay lại để bị bắt chung với Bố cho rồi?”.

“Không thể được, mình không thể hèn như vậy được”, tôi tự sua đuổi y nghĩ quẩn đó đi.

Trong nỗi hoang mang, tôi chợt nhớ lại bức vẽ trong tuyển tập “Những tâm hồn cao thượng” ở chương “Chú bé đánh trống – người đảo Sardeni”. Nét vẽ đơn sơ nhưng đủ thấy hình 1 chú bé với 1 chân bị thương rỉ máu, cố vượt qua làn đạn quân thù đang bao vây 1 tiền đồn nhỏ của quân Ý. Chú mang trọng trách do viên Đại úy chỉ huy đồn giao phó – Vượt vòng vây quân thù, đem tin bị bao vây về đại quân đóng cách đó mười cây số để cứu viện. Chú bé đã hoàn thành nhiệm vụ. Cái giá phải trả – hoàn toàn mất đi một chân. Bài học làm người về lòng quả cảm mà tôi đã đọc không biết là bao nhiêu lần khi còn ở nhà. Ý nghĩ làm tôi thấy tự tin hơn một chút. Bố cũng như viên Đại úy kia, chắc phải thấy có phần trăm thành công thì mới giao trách nhiệm này cho tôi. Quan trọng lắm vì nếu biết chúng tôi đã bị bắt, Mẹ sẽ không giao số vàng còn lại, đó là cả gia tài của gia đình, cho đám tổ chức vượt biên, Mẹ sẽ biết bị bắt ở đâu để đi thăm nuôi tù cho Bố và anh Kim. Tôi phải hoàn thành trách nhiệm này.

“Đi đại đi, ra sao rồi sẽ biết”, tự trấn an. “Có phải chính mình đã từng có nghĩ khi lớn lên sẽ đi phiêu lưu kia mà (tác dụng của Dế mèn phiêu lưu kí – Tô Hoài)”. Tôi tự khích lệ.

Đang bước đi phân vân, chợt có chiếc xe đạp ghé sát vào bên hông.

“Em lên anh chở đi”, anh thanh niên sau chạc 15-16, với cô gái trên yên sau nói nhanh bên tai tôi.

“Anh thấy em trốn tù lúc nãy, lên đây anh chở đi trốn”. Anh tiếp tục.

“Nếu anh ta muốn công an bắt mình thì đã la to rồi, anh ta có phải người tốt không ? Mình không biết nhưng kệ, liều đại ”.

Anh ta bảo cô bạn gái đang ngồi trên sau xuống để tôi lên anh chở đi. Cô gái nhanh nhẹn nhẩy xuống, còn tôi thì thót lên. Anh gò lưng cố đạp thật nhanh. Nhưng chỉ được 2-3 phút, xe chậm lại. Chắc anh đang phân vân “Làm gì với thằng bé này bây giờ? Giúp nó cái gì đây? Tiền bạc – làm sao có được ….”

Ngay lúc ấy, một người đi chiếc xe gắn máy cũ rề rề lại bên cạnh chúng tôi.

“Cháu lên đây chú chở, chú sẽ giúp cháu về nhà”. Vừa nói chú vừa chỉ ra yên sau.

Tôi nhìn mặt ông, cố nhận xét xem thực tâm ông ta như thế nào. Ông ta mặc bộ đồ nâu, nón nhựa cũ có vành, nụ cười không có gì gian ác. ”Hay ông ta gạt mình để chở lại cho công an bắt, hay sẽ bắt cóc và tống tiền gia đình mình để chuộc lại, hay là… hay là….”, tôi tự nghĩ. Một trăm cái “hay là” rất có thể xảy ra.

Phía xa xa, tên công an khi nãy nói chuyện với gã chỉ điểm hình như đang tiến về hướng chúng tôi. “Bí rồi, không còn cách nào cả, thôi liều luôn”. Tôi quyết định và nhẩy lên yên sau chiếc xe gắn máy. Xe rồ đi, tôi thấp thỏm xem có nếu có dấu hiệu quay trở lại cầu tàu thì sẽ nhẩy xuống chạy trốn ngay.

– “Chú tên Sơn – còn cháu?”, Chú nói trong khi hai tay lạng xe tránh những chiếc xe đạp trước mặt.

– “Dạ cháu tên Tuấn”, tôi đáp trong tiếng gió vù vù, hai tay bám lấy yên ghế. Ngoái ra sau, mấy chiếc xe vận tải tù đã bắt đầu lăn bánh. Ngậm ngùi, thật sự tôi đang xa Bố và anh Kim rồi!

Sau và câu trao đổi sơ, chú đã biết hoàn cảnh tôi ra sao.

– “Để chú chở ngang qua Trung tâm 3 – cho biết chỗ tụi nó sẽ giam Bố và anh cháu nhe”.

Tôi lại lạnh gáy. “Không chừng hắn đang chở mình về lại trại tù cho bị bắt đây”. Một y nghĩ lóe lên. “Nếu xe quẹo vào chỗ đó, mình sẽ nhẩy trước và ráng chạy”.

Chiếc xe cũ kĩ nổ lạch bạch chầm chậm qua những con lộ nhựa đầy ổ gà của thị xã Bến tre. Xe chậm hẳn lại khi trước mắt xa xa hiện dần tấm bảng – loại giống doanh trại lính – đen to trên cổng:

– “TRUNG TÂM 3”.

Những ai đã từng nếm mùi vượt biên những năm cuối thập niên 70s, đầu 80s, chắc có nhớ 3 trại tù vượt biên khá nổi tiếng ở miền lục tỉnh. Bến tre với “Trung Tâm 3”, Cà mau với “Cây Gừa”, Mỹ tho với “Khám lá”. Vào đây là sẽ ở tù từ 3 tháng trở lên, chắc chắn sẽ ghẻ lở, bị cạo trọc. Trại giam hình thức giống như khám Chí hòa nên rất khốn khổ chứ không như trại giam ở huyện hay xã.

Xe rà rà ngang qua cái cổng đen rồi vụt đi. “Đó, tụi nó nhốt Bố cháu trong đó”. Chú Sơn nói trong tiếng gió bạt bên tai. Tôi hú hồn một phen!

Ly cà phê đen đầu đời

Hoàng hôn chập choạng rơi trong khi chú Sơn chở tôi lòng vòng một đỗi. Đi qua những con đường đất nhỏ, quanh co, bùn lầy nước đọng ven sông. Quá nhiều ổ gà to tướng làm chú phải lạng xe tránh mà vẫn không xong vì ánh đèn xe mù mờ không làm tỏ nổi vài thước trước mặt thì làm sao mà tránh, đôi khi yên xe bị sóc làm tôi tưởng chừng mình sắp văng ra khỏi.

-“Bám chặt nhe, sóc lắm đó”, chú nhắc nhở.

Xe rẽ vào một con hẻm nhỏ hơn nữa. Tôi mở to mắt, trong nhá nhem tối, từng căn nhà lá lụp xụp như đang từ từ đến và đi hai bên hông xe. Vài ánh đèn dầu vàng vọt, leo lét hắt ra từ trong những vách lá. Cúp điện triền miên. Những năm đầu thập niên 80s là những năm bọn cộng sản cúp điện có đến 3-4 ngày một tuần ở Sài gòn. Điện nghiễm nhiên trở thành …. xa sỉ phẩm! Còn ở tỉnh lị như Bến tre, có khi cúp đến 5 ngày. Mùi hôi hám từ những vũng nước mưa đọng, từ đám rác rưởi đâu đó, từ sình bùn phía giòng sông bay đến. Vài con chó đói chạy rông tìm kiếm cái ăn đây kia và lũ trẻ con quần áo vá vít chằng chịt đang đứng giữa con ngõ. Và tôi, cũng đâu có khác gì chúng đâu. Quần áo cũng nhầu bẩn, cũng nặng mùi của mấy ngày không tắm, vương vất mùi tanh của hầm cá, của nôn mửa.

Từ phía bờ sông, tiếng nước vỗ vào mấy chiếc tam bản đang đậu, dù chưa thấy nhưng tôi đoán mình đang rất gần bờ sông rồi.

– “Thằng công an khu vực!”, chú Sơn chợt dật giọng nhỏ trong khi cho xe chậm lại. Tên công an đang đứng hỏi chuyện một người cách chúng tôi không xa.

– “Khai cháu là người nhà họ xa bên vợ chú, từ Giồng Trôm – Ba tri, theo cha lên đây, tính xin bán vé số, chưa thuộc đường nên bị lạc, tối ngủ tạm đây, mai sáng lên xe về lại, nhớ nghe?”, chú Sơn dứt khi xe gần đến chỗ tên công an. Tôi đang cố nhớ hết chi tiết.

Một giọng trọ trẹ nặng trịch đang “hỏi thăm sức khỏe” chúng tôi. Chú Sơn cười nói tự nhiên, hất tay ra sau về phía tôi và nói như đã ăn rơ trước. Đang run vì cái giọng Bắc Sài gòn của mình rất khó giấu tung tích, tôi chỉ ráng “Dạ” nhẹ mỗi khi chú giả vờ hỏi cho có vẻ bình thường chứ không dám nói nhiều. Chứa chấp người vượt biên đã là tội nặng đối với bọn cộng sản, chứa chấp tù vượt biên trốn trại còn nặng gấp chục lần. Biết thế nhưng chú Sơn vẫy tỉnh bơ giã lã với tên công an. Chú móc gói “Du lịch” mời hắn một

điếu. Tên công an bóc chỗ giấy bạc trên đầu gói thuốc cho to ra rồi tỉnh bơ dốc lấy một lúc 4-5 điếu. Hắn ém một hơi thuốc, qua loa vài câu rồi hướng về chỗ căn nhà lá có ánh đèn dầu, chắc để kiếm “lộc”!

– “Đ. Mẹ thằng chó, cho nó 1 mà nó lấy 5!”, chú Sơn làu nhàu chửi thề, trong khi hì hục đạp máy cho nổ. Chúng tôi lại rề rề thêm một đỗi trong cái hẻm bùn xình.

Xe thắng lại trước một con rãnh nhỏ lều phều nước cống, có miếng ván cũ bắc ngang. Chú bảo tôi xuống xe rồi dắt bộ qua miếng ván. Sau vài bụi chuối là căn nhà lá, được chắn thêm bằng vài miếng tôn cũ bên ngoài cho chắc. Có ánh đèn dầu bên trong và léo nhéo tiếng trẻ con đang khóc.

-“Ai vậy anh?”, tiếng người thiếu phụ hỏi với cái giọng sông nước miền Nam dễ nghe.

– “Thím và mấy em đó”, Chú chưa trả lời vội mà chỉ tay về phía trong.

Dựng chiếc xe, Chú vội kéo Thím vào nói nhỏ vài câu, chắc là lai lịch của tôi. Một nỗi ái ngại dâng lên trong lòng. “Trời ạ, mình đang là một gánh nặng cho người khác!”, tôi nghĩ thầm trong khi nhìn xung quanh. Đây là căn nhà sàn cũ kĩ, ngay dưới chân là bờ sông Bến tre, nước vỗ vào cột gỗ lạch bạch triền miên bên dưới. Nhà rất nghèo nàn, chỉ khoảng độ 5 thước mỗi bề, ngăn ra làm phòng ngủ và chỗ nấu ăn. Chú Thím có 3 con, cháu nhỏ nhất còn ắm trên tay, còn 2 cháu kia khoảng 5 – 3 tuổi. Phía trên cái bàn ăn bằng ván tạp lủng lẳng chiếc đèn dầu chính trong nhà. Hướng mắt vào phía trong, hai em nhỏ đang đứng nhìn tôi hiếu kì.

– “Cho nó ăn gì đi em, chắc nó đói từ hồi trốn lúc chiều”, Chú nói nhỏ với vợ. Thím đi vào trong rồi mang cho tôi một chén cơm nguội chắc gạo cũ nên vàng ệch, hình như có trộn bo bo, và một mẩu cá khô nhỏ.

– “Ăn đi cháu, chắc cơm không được ngon như ở Sài gòn, ráng ăn nghe”. Thím hơi chùng giọng xuống, rồi đi ra ẵm cháu bé đang bò trên cái giường tre nhỏ.

Cầm chén cơm trên tay, ngồi trên cái ghế con, không nhớ tôi đã rưng rưng khóc một mình trong bao lâu nữa. Xúc động vì quá nhiều chuyện đã xảy ra trong chỉ vài ngày, vì trên bước đường ngộ nạn giữa địa ngục đó, một tấm lòng nhân ái đã bao bọc che chở cho tôi, mặc cho nguy hiểm, tù tội có thể đến bất cứ lúc nào. Tấm lòng vàng đã san sẻ những hạt cơm nguội quí giá của gia đình cho một thằng bé chưa từng quen biết và không mảy may màng đến toan tính vụ lợi. Và Thím, người thiếu phụ giàu tình thương người, không một lời càu nhàu về sự có mặt của tôi.

– “Ăn đi cháu rồi ra sau nhà tắm rửa nhe, có bộ đồ cũ của thằng em bà con để lại hồi nó còn ở đây, hơi to nhưng cháu mặc đỡ đi nghe”, Thím đưa tôi bộ đồ rồi vào phía trong. “Tối nay cháu ngủ trong này nè”, Thím nói vọng ra.

Nhà chỉ có 2 chiếc giường ọp ẹp trải chiếu. Thím phải thu dọn một chiếc cho tôi, có mùng, có cái gối nhỏ chắc của hai em. Ở tỉnh lỵ, nhất là vùng sông nước như Bến tre, muỗi hàng hà sa số, khắp nơi. Đêm tối ngủ mà không mùng thì coi như đang bị hành tội. Muỗi cắn, ngứa, gãi, nhiễm trùng, không thuốc thang lâu sẽ thành ghẻ lở. Đó là “thực đơn” dành cho đám tù vượt biên đang bị nhốt ở Trung tâm 3, trong đó có Bố và anh Kim. Tôi ngồi co ro trong mùng, hướng về khung cửa sổ nhỏ (thật ra chỉ là một lỗ được khoét ra trên vách) nhìn ra giòng sông Bến tre, mỗi khi có ghe chạy qua, mặt nước sóng sánh phản chiếu ánh đèn lù mù từ nơi nào đó vụt qua cửa sổ, chảy nước mắt nhớ đến 2 người thân thương đang trong chốn lao tù.

Mệt mỏi nhưng vẫn chưa ngủ được, tôi trèo ra khỏi giường, đến ngồi cạnh cái lỗ cửa nhỏ trông ra giòng sông. Đêm tối mù tứ phía, giòng nước đen thẫm bên dưới cùng với đám lục bình, rác rưởi chậm chậm trôi ngang, phía bên kia ban ngay có thể là nơi họp chợ vì hình như còn vài hàng quán bán gì đó vẫn còn chong đèn nhỏ chạy bằng bình ắc-qui. Ánh sáng yết ớt tỏa ra, cố gắng nhưng thể nào phá nổi cái màn đêm đang bao trùm. Tất cả lại khơi lên nỗi nhớ nhà, nhớ Bố, Mẹ, anh chị thân yêu.

Một chiếc tam bản khuấy nước đang hướng về phía tôi. Hơi chột dạ, tôi nép khuất sang một bên, cái lo sợ cố hữu của con người đang trốn chạy.

– “Tuấn ơi, đem cái này lên cho chú”.

“Không sao rồi”, tôi trấn tĩnh rồi với tay qua lỗ cửa sổ nhận cái thùng gì đó từ tay chú Sơn. Hóa ra là 2 can xăng không, loại bằng sắt của quân đội nên cũng khá nặng.

– “Đi uống cà phê với chú”. Giọng nói từ chiếc tam bản hướng lên.

Uốn người leo qua cái lỗ, khá vất vả vì phải xoay lại và rà chân tìm cái thang gỗ mà từ từ leo xuống xuồng. Có người bạn của Chú đã ngồi sẵn ở mũi xuồng đang chống sào. Chiếc tam bản bập bềnh trôi theo mái chèo khua nước trong màn đêm.

– “Chú bán xăng dầu lậu, ai mua cũng bán, có khi cho cả dân vượt biên nữa”, Chú giải thích chắc vì thấy tôi hơi có vẻ thắc mắc.

Ngồi xuống trên mấy cái ghế quán cóc cà phê, Chú và người bạn hỏi thăm sơ gia cảnh của tôi. Đến khi nghe Bố tôi từng là Đại úy Việt nam Cộng Hòa ở rừng Sát , Chú vội chồm qua.

– “Ủa vậy không chừng chú đã có gặp qua Ba cháu lúc trước 1975! Trước chú là hạ sĩ quan ‘Ngụy’, đóng ở Thạnh an, thuộc quận Cần giờ – rừng Sát”, Chú cười khạch khạch ở chữ “Ngụy”.

Bọn cộng sản sau 1975 gọi những gia đình như chúng tôi là “Ngụy”, một hành động tương tự như bọn Phát-xít bắt người Do thái mang miếng vải vàng trên áo. Theo chúng, “Ngụy” là “tà”, đó là sự sỉ nhục. Đi đâu, tôi đều phải khai hồ sơ “Bố làm sĩ quan Ngụy”. Nhưng chúng lầm. Người Do thái đã bình thản đến hãnh diện, mang miếng vải vàng đi vào trại tập trung, đi vào phòng hơi ngạt. Và tôi cũng thế, ngẩng cao đầu khi nhận là con “Ngụy”, một niềm tự hào trong lòng.

– “Cà phê đen nhe, cho nó le lói!”, Chú lại cười trong khi mồi điếu “Du lịch”.

Từ chiếc máy hát bằng bình, vang nhẹ trong làn gió đêm và tiếng nước vỗ lọp bọp bên bến sông, 1 bài hát khá thịnh hành lúc bấy giờ, mà mãi sau này tôi mới biết tựa. Bài dân ca Nga (lúc đấy gọi là Liên xô), có ai đó dịch tựa là “Ánh đèn”, kể về người lính trước khi ra trận:

“…. Người chiến sĩ trong giờ phút chia ly
…..
Dưới bóng tối qua ngàn lớp sương mù
Nhìn quê hương anh thẫn thờ….”

Bất giác tôi rưng rưng quay ra phía giòng sông, thẫn thờ nhìn qua màn sương đêm đang phủ xuống quê hương tôi, đang phủ xuống 1 trại tù không xa lắm nơi chúng đang giam Bố và anh …..

Đoàn tụ

Tảng sáng, Chú chở tôi tới xa cảng Bến tre, dặn dò ông tài xế xe đò là đừng bắt tôi xuống xe khi qua bắc (phà) Bến tre vì sợ tôi sẽ lạc trong đám đông.

-“Cháu cầm 10 đồng mua đồ ăn nước uống nghe, thôi lên đường bình an, gửi lời thăm gia đình”. Chú với tay lên cửa sổ tôi ngồi sát chỗ bác tài. Tôi nghẹn ngào….

Bụi đất đỏ tung mù phía sau, xe lăn bánh, bóng dáng chú Sơn trong gương chiếu hậu của chiếc xe đò mờ dần.

“….Người nhìn mãi theo từng chuyến xe ngựa qua rồi Người nhìn dấu xe lăn đi dấu lăn trên đời Ngựa xa rồi, người vẫn ngồi, bụi về với mây…”

Lời bản nhạc “Phúc âm buồn – TCS” chợt đổ về trong tôi, đã 5 năm sau khi tiếng súng ngưng trên quê hương – mảnh đất điêu tàn này, tại sao lời nhạc thê lương kia vẫn còn phù hợp với tình cảnh con người ? Tôi đã tự hỏi.

Gần tối, xe đò về tới xa cảng miền Tây, Sài gòn, tôi hỏi xin mãi mới được một bác xe ôm tốt bụng chịu chở về nhà dù không có tiền trả trước. Chị tôi mở của và la toáng lên khi thấy tôi bước vào. Cả nhà ùa lại, thì ra chưa ai biết được chuyến tàu vượt biên tôi đi đã bị bắt tại Bến tre.

5 ngày ngắn ngủi, 5 khoảnh khắc trong đời người vài vạn ngày, dù ngắn nhưng đã là một phần không ngắn trong tâm khảm tôi. 34 năm đã qua nhưng 5 khoảnh khắc ấy vẫn rõ trong trí như cuốn phim mới xem hôm nào. Những tấm lòng nhân hậu, cao thượng của những người dân Bến tre trên chiếc cầu hôm ấy, của Chú Thím Sơn, sẽ mãi là những hình ảnh đẹp và quí giá nhất biểu tượng cho tình người. Quí giá nhất vì tận cùng trong cái địa ngục cộng sản kia, đóa hoa tình người vẫn tươi nở mãi.

Viết xong một ngày Thu 2014
Khiêm Nguyễn
Nguồn: Tác giả gửi

Đã đóng bình luận.