Trangđài Glassey-Trầnguyễn
Bài viết này khởi đi từ cuộc viếng thăm năm 2008 của tác giả Trangđài Glassey-Trầnguyễn tại Đại học Cornell, nơi mà cô là học giả thứ hai được mời để thuyết trình trong chuỗi Ethnography Workshop cho Ngành Nhân Chủng Học. Tác giả cũng là học giả Việt gốc Mỹ và gốc Á đầu tiên thuyết trình trong chương trình này.
Phần kết của bài viết này, “Thay Lời Kết,” được tác giả dịch từ chung khúc của bài thuyết trình tại Cornell. Một dị bản của bài thuyết trình này cũng được xuất bản trong một chương của tuyển tập “Forgiveness: Probing the Boundaries” do Nhà xuất bản Inter-Disciplinary ấn hành tại Anh quốc năm 2009. Bài viết có những hồi tưởng về thời gian tác giả thực hiện nghiên cứu về người Việt tại Bắc Âu năm 2004-05, dưới sự bảo trợ của chương trình Fulbright, thuộc Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ. (Chú thích của thư viện)
Ý Thu Ca
Mùa thu. Tuyết lạnh. Nắng hanh.
Mùa thu ở Ithaca, New York, lạnh lẽo nhưng rực rỡ. Và lạnh buốt.
Trong những nhịp chân bước giữa hoang lạnh đất trời, hồn nghe như gần hơn với những tiền nhân đi trước, những vong linh đất Việt đã theo người thân đến những vùng đất định cư mới. Trên những con thuyền mong manh băng mình vào lòng Thái Bình Dương những thập niên trước, có bao nhiêu hương hồn Việt đã đồng hành với thân nhân trong cuộc tử nạn vì tự do?
Ithaca gợi cho tôi nhớ mùa đông Scandinavia. Giữa những áng mây màu tuyệt luân của trời đông Bắc Âu, giữa cái thinh không của một miền đất chiêm niệm, tôi đã cảm nghiệm được mình đang sánh bước cùng bao anh linh đất Việt giữa khuôn viên tịch mịch của trường đại học Stockholm.
Ở đây, tại Ithaca, giữa tiếng gió hú và một miền tuyết trắng, tôi trăn trở với những bước chân mới của dân tộc trên lộ trình thế giới, với những vết thương còn chưa rín máu. Những chỏm tuyết thất thểu tan trên những cành cây cội lá. Những hoa tuyết ngậm ngùi từ giã cõi đời trên vạt cỏ lấm tấm xanh. Một mùa đông không dứt khoát.
Tôi là khách mời ở Telluride House, một căn nhà dành cho những sinh viên ưu tú với tinh thần dấn thân và ý thức cộng đồng. Telluride thuộc một cơ sổ bất vụ lợi, chú trọng vào các mục đích giáo dục, phục vụ, và dân chủ. Telluride có hai nhà, một ở Đại học Cornell, và một ở Đại học Michigan.
Tá túc ở Telluride House trong chuyến đi ngắn ngày này là một sự đãi ngộ. Chẳng những việc đi lại đã rất dễ dàng vì Telluride chỉ cách Thư viện Olin có dăm phút đi bộ, mà tôi lại được ‘ăn cơm nhà’ vì bà đầu bếp Susan, tuy ngoài sáu mươi mà vẫn khỏe mạnh trẻ trung, đã nấu nhiều bữa cơm khoái khẩu mỗi ngày. Susan là một tiến sĩ không chịu hành nghề. Đó là vì sau khi tốt nghiệp tiến sĩ tại Cornell, bà cảm thấy mình thực sự yêu nấu ăn, nên chuyển sang tìm hiểu về nghệ thuật bếp nút, và đã xin vào làm đầu bếp cho Telluride House khi cậu ấm của bà theo học tại Cornel. Mỗi trưa, bà chờ con trai ghé ăn cơm.
Nhà Chim Việt
Thư viện Olin nằm đối diện với Tháp Chuông của trường. Thư viện này lưu trữ những tài liệu liên quan đến Á Châu và Đông Nam Á. Có Văn khố chuyên thu thập những tài liệu hiếm quý, trong đó có nhiều văn kiện liên quan đến thuyền nhân Việt Nam và những giai đoạn đầu của lịch sử tỵ nạn. Bên cạnh những tài liệu về thuyền nhân và người Việt tỵ nạn, một số tạp chí Việt hải ngoại hiện hành có thể được tìm thấy ở đây.
Vì thư viện ngày càng thiếu chỗ, nên một số tài liệu được đưa ra kho gọi là Annex. Khi có ai yêu cầu tham khảo, thì tài liệu được ‘gọi’ về thư viện chính trong ngày hôm sau. Tuy tôi chỉ ở Cornell vỏn vẹn ba ngày, nhưng may mắn không mất thời gian chờ tài liệu được gọi về vì có một nghiên cứu sinh đã sử dụng thùng tài liệu về người tỵ nạn Đông Nam Á ngày hôm trước, nên thùng tài liệu vẫn còn được lưu giữ ở thư viện chính. Ngoài ra còn có các chương trình liên quan đến Đông Nam Á với văn phòng và văn khố tại Kahin Center, Echols Collection trong Thư viện Kroch, và Uris Hall.
Tôi như bắt được vàng khi tham khảo thùng tài liệu. Những bản báo cáo về thuyền nhân, những kế hoạch tản cư năm 1968, những mẩu thông báo được cắt ra từ nhật báo địa phương, những tài liệu chính phủ về chương trình tiếp nhận người tỵ nạn, những bản tường trình về các cuộc họp đa chính phủ tại Phi Luật Tân để giúp thuyền nhân định cư. Giữa một miền đất xa xôi – xa lắm, vì Ithaca ở cách Little Saigon đến gần ba ngàn dặm – thì những vết chân Việt Nam được lưu dấu trong một đại học ưu việt của Hoa Kỳ. Thật là một niềm khích lệ cho những ai thao thức đến di sản lịch sử của người Việt hải ngoại, và đến hành trình cận đại của dân tộc. Nhưng niềm khích lệ này cần được khai thác và duy trì với chính mỗi người Việt tha hương: để những văn khố này không trở thành một kho tài liệu cho giới học giả nghiên cứu mà thôi, mà trở nên mối quan tâm và sự đóng góp của cộng đồng Việt hải ngoại.
Tây Bắc Hoa Kỳ: Miền Trời Nửa Xám
Người ta bảo, bầu trời mùa đông ở tây phần New York là một bầu trời 50/50. Nhiếp ảnh gia chỉ cần cầm máy ra sân, quay ngược lên trời, nhấn nút – vậy là có nền ‘gray’ ngay. Nếu cái lạnh của Ithaca làm cho một người dân California như tôi nhớ nhà, thì cái xám xịt của trời Ithaca gợi cho tôi những cơn mưa nhiệt đới của Việt Nam – khi mây kéo về ngập trời và trút nước xuống trần gian.
Khi tôi rời Cornell, ban tổ chức lái xe đưa tôi đi trên xa lộ 89 dọc theo hồ Cayuga, một trong nhóm năm cái hồ mảnh mai mà Người Da Đỏ gọi là Thiên Thủ Hồ (chữ do tôi dịch từ tên ‘Finger Lakes’). Thiên Thủ Hồ được gọi như thế vì người thổ dân tin tưởng rằng, khi tạo nên trời đất, Thượng Đế đã đặt tay Ngài xuống vùng đất này, và năm ngón tay in dấu trên mặt đất, tạo nên năm cái hồ dài nằm tỏa ra như một bàn tay.
Xa lộ 89 từ Ithaca qua đông ngạn New York là một con đường với nhiều thắng cảnh, men theo bờ hồ và xuyên qua những vùng thôn dã. Dọc hai bên đường là những ngôi nhà nhiều kiểu, mang dáng dấp lịch sử. Người Đức đến định cư ở đây đầu tiên, nên những nông trại mang hình hài của những thôn trang có thể tìm thấy ở Thụy Điển hay Đức Quốc. Có những miền đất thuộc quyền tự trị của các bộ lạc thổ dân, nơi có những trạm xăng miễn thuế và phục vụ từ A đến Z.
Ở đây, người ta vẫn đi săn nai, vì có nhiều gia đình nghèo, dựa vào thiên nhiên để sống. Có những căn nhà được xây từ thời người di dân Âu Châu mới đến Mỹ, tạo nên một cảm giác hoài niệm. Có những căn nhà đá độc nhất vô nhị, tọa lạc trong một không gian vô ưu. Nhưng, giữa những bàng bạc đất trời, tôi chạnh lòng nghĩ đến nông dân Việt Nam, hôm nay phải bon chen với áp lực hiện đại hóa và chạy đua với sự quyến rũ của toàn cầu hóa, đã không dám giữ cho mình cái tinh túy và tư duy của chính nếp sống thôn quê. Những mái tranh đã nhanh chóng bị khai tử trong thập niên vừa qua, và được thay vào bằng những ngôi nhà xi măng với kiểu mẫu ngoại quốc, giam lỏng chủ nhân của chúng bên trong và giữ thiên nhiên lại bên ngoài. Những kệ gỗ, tủ cây trước nay được dùng trong nhà trong bếp, nay được thay bằng kệ lát men và cửa kính, làm chết ngộp những vật dụng được cất giữ bên trong giữa một khí hậu nhiệt đới.
Ở đây, thiên nhiên thong dong thay lá, thong dong nổi gió, thong dong trãi mình. Một cõi thanh tịnh.
Thay lời kết: Nẻo Tang Thương, Nẻo Sinh Trường
Tôi lắng nghe Trầm Tử Thiêng trong đêm đông u tịch của Stockholm trong thời gian thực hiện nghiên cứu qua chương trình Fulbright vào năm 2004-05. Cơn bão đêm chọc thủng mái nhà, gào thét vào những bức tường đóng băng của khu chung cư bình dân. Tôi nhận ra rằng đây là lần đầu tiên, sống xa nhà, tôi đã thực sự đã lắng nghe dòng sống chảy thấu qua chuỗi âm nhạc của ông. Cách ông thể hiện nỗi cô đơn của một trái tim Việt Nam xa nhà đã làm cho tôi rung cảm. Cuối cùng, tôi cũng đã mang kiếp lưu vong: trong tâm lý, tình cảm, trong sự không nhà, qua khác biệt sinh thái, ngôn ngữ, văn hóa. Được biết đến qua những ca khúc cần kíp về những vấn nạn liên quan đến dân Việt và đất Việt, chẳng hạn như vấn đề thuyền nhân và tưởng niệm miền Nam thất thủ, Trầm Tử Thiêng được trân quý và cảm kích vì ông đã diễn đạt thấu đáo tâm thức và niềm hy vọng của dân tộc Việt Nam. Sao mà âm nhạc của ông có thể bày tỏ tiếng nói và kinh nghiệm của biết bao người đến thế! Trong khi đại đa số người Việt coi ông là một danh tài âm nhạc, tôi cảm nhận ông như một người thực sự dấn thân trong nhiều cách. Khi ông khơi gọi tâm tình và tấm lòng Việt Nam để hỗ trợ cho đồng bào thuyền nhân qua ca khúc “Bên Em Đang Có Ta,” hay trong bài “Một Ngày Việt Nam,” người nhạc sĩ được ái mộ này đã giúp định nghĩa con đường tương lai cho đồng bào của ông. Ông mở ra một cánh cửa trong một thời gian tối tăm vô hướng, soi rọi một lối về.
Tôi đặc biệt yêu mến bài hát “Một Đời Áo Mẹ Áo Em,” vốn lược lại gia phả của phụ nữ Việt Nam, một lịch sử đầy tang thương và chiến tranh. Nhưng trong điệu nhạc suy tư và tha thiết ấy, là một đời sống trỗi lên từ vũng tối của mọi chết chóc – một thiếu nữ dậy thì, tình yêu rạo rực của cô dâu mới kết hôn, nỗi hân hoan của lần đầu tiên làm mẹ – tất cả được biểu lộ qua những màu áo theo từng chu kỳ của đời sống. Trước hết, là cuộc sống. Là niềm vui. Là sự mong ngóng. Rồi thì chết chóc lây lan. Có niềm đau. Có thực tế. Người phụ nữ Việt Nam sẽ đắm mình trong dòng Hát Giang để không cho phép kẻ ngoại xâm chạm đến mình, như hai nữ anh hào Bà Trưng Bà Triệu. Người phụ nữ Việt Nam sẽ phải đính khăn tang trên đầu mình để tưởng niệm cái chết của cha, của chồng, của anh, của con. Nhưng người phụ nữ Việt Nam sẽ tiếp tục sống, ngay cả trong ánh dương cuối cùng của hoàng hôn, khi tim nàng đã ngưng đập để hòa với trái tim câm lặng của người yêu dấu trong nấm mộ đất mới đắp. Nhưng hơn tất cả, người phụ nữ Việt Nam sẽ sống – cho dù áo nàng có phai màu, hãy cứ để cho nó nhạt phai.
Những tâm tư này là một cuộc hồi hương để tìm về màu áo trên những chiếc áo mẹ áo em – những chiếc áo đã sờn rách và phôi phai. Tôi rất vinh hạnh đã được nếm cảm cuộc đời của biết bao phụ nữ Việt Nam qua những lắng đọng của họ và những cuộc giao ngộ mà tôi có được với họ. Họ đón tôi vào quá khứ của họ, đưa tôi qua cuộc đời họ, cho phép tôi ngồi lại trong những căn phòng riêng tư của tâm hồn họ, và cho tôi được sống một phần của thế giới mà họ đã đi qua. Họ tin rằng tôi sẽ lắng nghe, và hiện diện với họ. Họ để cho màu áo của họ được tái sinh trên áo tôi. Họ để cho tôi được là chính mình bằng cách sống trung thực với chính họ. Họ dắt tôi xuyên qua hành lang phía sau của ngày hôm qua, để cho tôi được bừng lên với bình minh của hôm nay và ngày mai – để tôi hiểu mình hơn. Họ để cho tôi sống – trong áo họ, và trong áo tôi.
Vòng sinh kết với vòng tử. Rạng đông của một cuộc đời mới cũng tiên ước cái chạng vạng của một đời từng trải. Trí thức Việt Nam thường nghĩ rằng, đời của một con người thì ngắn ngủi, nhưng đời của dân tộc Việt Nam thì rất dài. Mỗi người dân Việt phải sống sao để cuộc đời của dân tộc được duy trì và thăng hoa. Những đổ nát phải gợi lên sự tái thiết, cho dù là tái thiết từ những tâm hồn tan nát và những trái tim đang rỉ máu. Đời sống nối tiếp. Niềm đau kết hôn với sự sống, và hạ sinh một nhân tính bền bỉ.
Có nhiều đồng nghiệp hỏi bằng cách nào tôi đã đối diện với sáu tháng mùa đông âm u ở Bắc Âu. Tôi đáp, “Khi mặt trời không chiếu rọi, thì bạn chỉ cần mang ánh sáng từ trong chính bản thân mình ra.” Luôn luôn có một con đường, dẫu bị chôn giấu hay thênh thang rộng mở, dẫu ngập tuyết hay chói chang nắng trời, dẫu thân quen hay xa lạ. Sống, nghĩa là bước trên con đường ấy. Chọn tiến vào con đường ấy, là chọn để sống. Ngay cả khi con đường ấy bị gián đoạn hay tật nguyền, một người phụ nữ Việt Nam sẽ khoác lên chiếc áo của mình, và tiếp tục sống. Mãn Giác Thiền Sư (1052-1096) đã nhắn nhủ:
Đừng tưởng xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua, sân trước, một nhành mai
Trangđài Glassey-Trầnguyễn
Manhattan 26 tháng 11, 2008
Nguồn: Tác giả gửi


















