Trangđài Glassey-Trầnguyễn
Văn tế thập loại thuyền nhân
ba thập niên trôi qua
đời rẽ sang thế kỷ
tưởng niệm thuyền nhân xưa
cùng xếp thuyền tâm ý
thuyền này gửi em bé
không thân nhân mẹ cha
thuyền này gửi bạn trẻ
tình nguyện giúp trại xa
thuyền này gửi đại dương
ôm xác thân đồng loại
thuyền này gửi tang thương
bão lòng giăng trăm mối
thuyền nối tình phu phụ
quê mẹ với ngàn khơi
thuyền chắp tình huynh đệ
gặp nhau giữa biển trời
thuyền đong niềm hy vọng
mẹ già ngóng tin con
thuyền chứa chan ý chí
chung vai dù sống, còn
thuyền ra khơi trong đêm
đón đưa bình minh lại
đêm – chôn dầu vượt biển
ngày – đào được thới lai
thuyền thiết tha nhân bản
quyết liệt tìm tự do
hành trình trăm nguy khổ
sống chết nào đắn đo
để hôm nay thuyền giấy
tìm về lại bến xưa
để giờ đây tôi xếp
bình an cho người nay
thuyền này tôi gấp lại
xếp những chặng gian nguy
thuyền này tôi giở lại
những thân ái, hy sinh
thuyền này tôi gửi bạn
giữ lịch sử Thuyền Nhân
thuyền Cứu Người Vượt Biển
‘Tin Chót’ về trời Đông
thuyền cho Liên Hiệp Quốc
thuyền cho Cap Anamur
thuyền cho người thất lạc
thuyền cho mạng hoài hương
thuyền cho tình nhân loại
thuyền cho nỗi đắng cay
thuyền cho mùa hy vọng
thuyền cho một ngày mai
thuyền cho cha cho mẹ
dù đã đến, hay đi
thuyền cho anh cho chị
dù sinh, ký, tử, quy
thuyền gửi hồn dân tộc
thuyền gửi khí cha ông
gửi người đi không lại
gửi kẻ ở còn trông
thuyền này là thuyền nghĩa
thuyền này là thuyền nhân
thuyền này là thuyền tín
thuyền này là thuyền ân
thuyền cho dòng Việt tộc
thuyền cho cả vũ hoàn
thuyền cho đời vô tận
cho hạnh phúc mênh mang
viết tại Texas Tech University, 10 tháng Tư, 2009,
nhuận sắc tại La Jolla, 22 tháng Năm, 2009.
Thế hệ hòa bình
thế giới gọi chúng tôi là
“thế hệ hòa bình”
những con người được sinh ra sau mười lăm thế kỷ binh đao của một Việt Nam tan tác
sau tháng Tư 1975
một kết thúc
của nhiều bắt đầu
vô định
kết thúc của một cuộc chiến không có lịch sử
kết thúc của một con rồng Á Châu, của Hòn Ngọc Viễn Đông
khởi đầu của một thời đại tỵ nạn lưu vong
của thủ mưu đưa nhân sinh lên bàn mổ, của nhục nhằn nhân bản
1975-1994
mười chín năm chao đảo bấn loạn
tôi nếm cái âm cái sắc của hòa bình
lẫn lộn vàng thau
cái hòa bình của bạn tôi
vất vả chống chọi mặt trời chang chang nắng
đạp xe đến trường ngày này qua ngày khác
hai tiếng mỗi bận
nuốt vào khói xe, hít lấy bụi đường
mấy đứa ở quê ngoại
đi bộ già ba tiếng còn chưa thấy cổng trường
mùa nước lên cuốn đi ít đứa
chết trôi sông
mất xác
con nít quê tôi
sõi đời, chữ cắn đôi không biết
mỗi ngày xông xáo vô bưng bắt còng bắt cáy
phân nửa rang muối cả nhà cơm mỗi bữa
phân nửa cân bán cho vịt xơi
những chính kiến đối lập vẫn xâu xé nhau
những tranh chấp ý thức hệ luôn săn đuổi
chúng tôi chạy hụt hơi
mà vẫn không thoát
cái thòng lọng
vô hình
bạn tôi
chòi tranh, vách đất
cày sâu cuốc bẩm
mẹ nó cưỡi ngựa sắt đi dạy ở xã bên cạnh
dài hai tiếng đồng hồ đường đất, lộc cộc một tiếng đồng hồ đường đá
mà vẫn bị giảm biên chế
ba nó hồi đó đi bộ đội
bị đất vùi, sau moi lên được
dở khùng dở chết, khủng bố vợ con
ngày nó ra trường trung học
mẹ nó mai mối
gả nó cho Việt kiều bên Úc
mong thân nó đỡ khổ
nó bỏ người yêu đầu đời
để làm giấy hôn thú xuất ngoại
rồi không chịu nổi
nó phát điên
nông dân quê tôi
cấy cày
cần lao một đời, đói trắng
tôi không đau cái quần quật của họ
mà chẳng cam cái lủng bao tử triền miên
vô nghĩa ấy
đời
oán than
khi chùa chiền
biến thành sân phơi hợp tác xã
lăng miếu
hóa trụ sở ủy ban nhân dân
bất an
khi 117 vị tử đạo Việt Nam được phong thánh
công an phường
bố ráp nhà thờ
đảo trước áp sau không cho con chiên viếng thăm, cầu nguyện
mỗi dịp lễ lớn
người ta vẫn đi lùng trong ngôi thánh đường duy nhất trong thị trấn
khuôn mặt của công nhân viên, giáo chức
để hôm sau khai trừ
bạn bè tôi ở Việt Nam giờ
vẫn đánh nhau với đồng đô la xanh
vẫn tranh chấp với nồi cơm mỗi bữa
bạn tôi, những sinh viên ưu tú của tỉnh Tiền Giang
không nghĩ gì hơn là làm sao đủ tiền cơm gửi về quê cho mẹ, mỗi tháng
một thế hệ tranh thủ hòa bình với vá áo túi cơm
mà vẫn nghèo
nghèo từ cái thời Pháp thuộc
giờ càng điêu đứng
nông dân đi thuê đất,
nông dân đóng thuế đời
lúa xanh rì
người héo hắt
họ khổ không trách không than
cho thế hệ tôi nền hòa bình câm nín
hòa bình của chúng tôi là hạt lúa
bị xiết giữa rừng gai
thui chột,
mai một
ngóp
ai bảo chúng tôi có hòa bình?
ai bảo chúng tôi có hòa bình?
ai bảo chúng tôi có hòa bình?
hòa bình ơi, Người có bao nhiêu cái định nghĩa?
có định nghĩa nào làm rõ được đời tôi…?
“không công lý, sao có hòa bình!
không công lý, sao có hòa bình!
không công lý, sao có hòa bình!”
Trangđài Glassey-Trầnguyễn
Nguồn: Tác giả gửi



















