Trangđài Glassey-Trầnguyễn
Trong thế giới Việt hải ngoại
Thế giới đã thu hẹp lại. Ngôi làng thế giới đã là một thực tế. Ngày nay, con người đi lại dễ dàng, trao đổi thông tin trong tít tắt, và gặp gỡ nhau một cách gần như ngẫu nhiên. Khoảng cách địa lý như thể trở nên thứ yếu.
Thế nhưng, không gian Việt lại mở rộng ra, đi vào địa lý và quỹ đạo thế giới. Đôi khi tôi tự hỏi: cái ranh giới giữa Việt Nam và hải ngoại nằm ở đâu?
Hỏi như vậy, là vì ngày nay, lối sống ở các thành phố lớn tại Việt Nam đã chịu ảnh hưởng rất lớn từ đời sống hải ngoại, bên cạnh xu hướng ‘hiện đại hóa’ qua việc bắt chước nếp sống Âu Mỹ.
Hơn nữa, cái ‘ngoại’ đang hiện diện rất rõ ràng trong quốc nội, ở chỗ: giới trẻ hải ngoại về nước làm việc hay du lịch và ở lại dài hạn; người nước ngoài đến sinh sống và đầu tư tại Việt Nam, tạo ra những tương tác văn hóa mới và trực tiếp trong nước; đồng bào khắp nơi về thăm nhà quanh năm và mang theo những làn gió hải ngoại về tận các miền quê. Nhịp sống ‘nội’ có rất nhiều yếu tố ‘ngoại.’
Trong bài viết này, tôi nhìn về một thế giới Việt hải ngoại ở ngoài lãnh thổ Việt Nam, nhưng có tương quan lịch sử và kinh nghiệm gắn liền với miền đất này. Tôi muốn nói đến một thế giới hải ngoại luôn luôn thay đổi, có nhiều chiều kích, nhiều thành phần dân sự, và nhiều hoàn cảnh dị biệt. Một thế giới Việt hải ngoại giữa khung cảnh thế giới trong ngàn năm thứ ba, vừa rất ‘toàn cầu,’ nhưng cũng vừa rất riêng và rất Việt.
Những đôi chân tần tảo, miệt mài
Quanh năm buôn bán ở ven sông
Nuôi đủ năm con với một chồng
Lặn lội thân cò khi quãng vắng
Eo sèo mặt nước buổi đò đông…
Ở thiên niên kỷ thứ ba này, bài thơ mà Tú Xương viết để tỏ lòng biết ơn vợ đã quán xuyến gia đình trong suốt 8 mùa ông thi cử lận đận vẫn còn là một thực tế hằng ngày. Cái tảo tần của người phụ nữ Việt không dừng với Bà Tú hay ở thế kỷ thứ 19. Nó đi vào thời đại của chúng ta, và cũng ‘di dân,’ theo bước chân của người Việt viễn xứ, ra khỏi lãnh thổ Việt Nam.
Tại Hoa Kỳ, nhiều Bà Tú vẫn tảo tần bên những máy may công nghệ, may vá cho những bữa cơm gia đình ở cả hai bờ Thái Bình Dương. Họ vẫn tất bật nấu nướng, buôn bán ở các tiệm ăn Việt Nam, vun vén cho thu nhập gia đình. Họ vẫn cần mẫn trong các vườn rau, trồng cấy hoa thơm quả ngọt cho chồng con. Họ vẫn chuyên tâm chăm sóc trong ngoài, để con cái được khai triển thành những mùa Xuân mới của nhân loại.
Những bước chân của người phụ nữ Việt vẫn miệt mài đi tới, hình thành những trang sách mới trong lịch sử dân tộc. Họ miệt mài nghiên cứu, góp cho đời những khám phá và sáng tạo mới. Họ xông pha vào những lãnh vực mà trước đây chỉ dành cho nam giới, gánh vác những trách nhiệm ngoài truyền thống. Họ dấn bước trong chính trị, văn học, nghệ thuật, thương mại, khẳng định chính mình và làm đẹp cho đời. Những đôi chân tần tảo, miệt mài ấy đi vào thế giới, và gieo rắc hy vọng cho các thế hệ Việt ngoại biên ở khắp nơi.
Ru con, hay ru mình?
Có một bài dân ca miền Nam mà tôi rất thích. Đó là một bài ru con thật tha thiết, nồng nàn. Chúng ta hãy lắng nghe:
Gió mùa thu Mẹ ru con ngủ,
Năm canh chày thức đủ năm canh,
Hỡi chàng chàng ơi,
Hỡi người người ơi,
Em nhớ đến chàng…
Hãy nín, nín đi con,
Hãy ngủ, ngủ cho ngoan,
Con hời mà con hỡi,
Con hỡi con hời, hỡi con…
Trong một số bài thuyết trình chuyên đề, tôi vẫn phân tích ví von rằng người mẹ trong bài hát đang nhớ đến chồng, nhưng lại phải vội vàng ‘sực tỉnh’ mà dỗ con, vì đứa bé không chịu nhường sự quan tâm của Mẹ cho một người Cha vắng bóng – cho dù chỉ ‘nhường’ trong vài giây phút ngắn ngủi khi Mẹ nhớ về Cha. Tôi cho rằng sự ‘giành giật’ này được thể hiện qua cái thay đổi bất chợt trong tiết tấu và cao độ của dòng nhạc ngay ở điểm này.
Có phải chăng, vì chính thái độ không nhượng bộ này của đứa con thơ, mà bao ông chồng đang hay sắp được làm cha vẫn âm thầm lo ngay ngáy rằng mùa Xuân sắp đến kia sẽ giành trọn sự chăm sóc của vợ mình. Và người phụ nữ, tuy ru con, nhưng có phải cũng đang ru nỗi lòng mình, xốn xang vọng phu?
Thật ra, tôi nói đến sự giằng co này vì đó là thực tế trong đời sống của người phụ nữ Việt qua nhiều thời kỳ. Họ luôn phải cán đán cả trách nhiệm làm vợ và làm mẹ, và làm bà khi con cái thành hôn và sinh con. Một số dị bản của bài dân ca trên có thêm lời hai, tả cảnh người cha quay về, và cả gia đình hân hoan trong niềm vui đoàn viên, để chàng cũng nói “Tôi nhớ đến nàng…” Châu về hợp phố, tôi mừng cho người vợ ấy lắm thay.
Trong thế kỷ 21, bài ru con kia vẫn đúng ở một chỗ: cái giằng co của người phụ nữ trong đời sống hằng ngày. Tôi nhớ đến những người phụ nữ Việt phải cam cảnh xa nhà, đi làm thuê làm mướn ở các thành phố lớn ở Việt Nam, hay ở các nước khác trên thế giới. Họ vẫn ru con hằng ngày, qua nỗi nhớ, qua đường dây điện thoại, qua từng cái áo cái quần họ tỉ mỉ chọn mua và gói gửi về cho con. Họ ru con qua đường tâm điện, vừa đánh lừa khoảng cách không gian chua chát kia, nhưng cũng vừa chấp nhận những ‘ảnh hưởng phụ’ của một nền kinh tế toàn cầu.
Nạn ô nhiễm môi sinh
Trong nhiều thập niên qua, nhân loại đang dần chấp nhận và cố cứu vãn một thực tế: tình trạng hoàn cầu bị hâm nóng. Sự ô nhiễm môi sinh đã đưa đến nhiều hậu quả tai hại, và ở nhiều nơi trên thế giới, cái giá phải trả quá đắt đỏ. Chất độc do chính con người tạo ra và bừa bãi thải vào môi trường đã đi theo chu kỳ sinh học tự nhiên, và đi ngược lại vào cơ thể chúng ta.
Đây không phải là một cuộc chiến mới. Đã từ lâu, rất nhiều cá nhân đã sớm ý thức được sự băng hoại này, và dấn thân giành lại thiên nhiên từ những vũng lầy phế thải. Những chiến sĩ tranh đấu cho môi trường vẫn được thế giới ghi nhận, và một số nhà hoạt động môi trường đã nhận được giải Nobel Hòa Bình như Wangari Maathai hay Al Gore. Con người cần một môi sinh lành mạnh – ở bất cứ nơi nào và lúc nào.
Môi sinh của phụ nữ Việt, nhất là tại quê nhà, cũng đã bị ô nhiễm trầm trọng trong các thập niên vừa qua. Họ đã phải đối diện với một thời hậu chiến nhiễu nhương, đen tối, tuyệt vọng khi sự áp bức kinh tế, chính trị, xã hội đè nặng trên đời sống hằng ngày. Họ phải mòn mỏi mong đợi tin chồng, tin cha, tin con bị đưa đi ‘học tập cải tạo,’ không biết ngày về. Họ phải lao đao với tiền khóm, tiền phường, với cái bao tử rỗng đã mất khả năng phản ứng.
Ngay trong lúc này đây, môi sinh của một số phụ nữ Việt lại càng bị ô nhiễm trầm trọng hơn. Họ mất quyền quyết định cho mình khi nhắm mắt làm dâu xứ khác, mất trắng tự do, không quyền chính trị, chịu cảnh câm điếc vì ngôn ngữ bất đồng. Họ bị kẹt giữa gọng kềm của một thế giới hiện đại và một hoàn cảnh cá nhân bần cùng. Họ ở trong cái thòng lọng của áp lực sống còn, vùng vẫy ngoi lên giữa một nền kinh tế thị trường mới mở và một cơ hội cạnh tranh què quặt.
Họ đã đi vào thế giới, mang trên người đầy những vết thương sưng tấy, những thiệt thòi vô phương cứu vãn. Cánh tay họ bị trói vì số nợ cần vay cho một tờ hợp đồng ‘đi lao động ở ngoại quốc.’ Đôi chân họ đã liệt vì bị đánh gẫy khi con buôn lừa đưa họ vào nhà chứa. Nhân cách của họ bị bào mòn vì những sân si của nạn buôn người, của phường sở khanh. Cái duyên cái hạnh của họ bị bó rọ, đóng gông.
Từ môi trường ô nhiễm oan nghiệt ấy, nhiều phụ nữ Việt vẫn đi vào thế giới, can đảm sống chết với hoàn cảnh của mình và trách nhiệm với gia đình. Họ trở thành những cơ thể không tên, những con người không nhân diện, những linh hồn không cội nguồn. Họ ngoi ngóp tìm khí trời trong lành, vật vã kiếm một ngụm nước sạch, gian khổ đi tìm linh dược để tẩy độc. Đóa hoa sen trong họ đã khép lại, để tránh phải vấy bùn, và chờ một ngày được tươi nở.
Họ là nạn nhân của những nạn ô nhiễm trên, và cũng chính là những chiến sĩ quyết liệt nhất cho sự thay đổi cho mình. Khi một cô dâu Việt tại Đài Loan còn chấp nhận mở mắt thức dậy mỗi sáng, đối diện với những nhọc nhằn trước mặt, để sống cho cha mẹ ở quê nhà và cho con cái ở quê người, đó là một tuyên ngôn của hy vọng và sống còn. Khi một bé gái trong ổ chứa tại Cambốt được trả lại đời sống bình thường và dùng bông gòn tẩm thuốc đỏ để chùi rửa những hoen ố đã chụp trùm trên đầu nó, đứa bé ấy đang làm tất cả những gì nó có thể để trở về một môi sinh trong lành.
Đi vào thiên niên kỷ thứ III
Khi nhìn vào thế hệ phụ nữ đi trước tôi, tôi vẫn thán phục nghị lực và sự hy sinh của họ. Những người Mẹ tảo tần, những người Chị đảm đang, những người Con chí hiếu. Họ cho tôi một sự khích lệ và một niềm hy vọng thật lớn. Thế nhưng, giữa tất cả những hy sinh nhọc nhằn ấy, tôi vẫn hỏi: đâu là cái vui, cái phúc của một đời người? Dù biết rằng chấp nhận đau khổ, khó khăn là một phần của hạnh phúc, nhưng tôi vẫn bất bình và phản kháng cái thân phận lệch lạc kia – quá nhiều cay đắng, quá ít ngọt bùi.
Và khi nhìn vào các thế hệ phụ nữ đương đại, tôi lại càng ngậm ngùi hơn khi họ đối diện với gian lao khắc nghiệt. Một điều quan trọng cần nêu ra là: họ không có chọn lựa. Tôi ý thức được rằng có một số phụ nữ chọn con đường đen tối cho chính mình, nhưng đây là một thiểu số. Đa phần, hoàn cảnh thiệt thòi và hệ quả của nó bắt buộc người phụ nữ Việt Nam phải bước đi trong một môi sinh ô nhiễm, và tôi chọn thông cảm với họ thay vì chỉ trích, vì theo tôi, không ai muốn mình rơi vào hoàn cảnh như họ.
Nên từ sự ngưỡng mộ với thế hệ đi trước và sự thông cảm với thế hệ phụ nữ đồng trào, tôi mong sao tất cả mọi phụ nữ Việt được tận hưởng những mùa Xuân đích thực. Mùa Xuân đó không cần phải được định nghĩa bằng những phương tiện vật chất hay danh vị xã hội, nhưng bằng chính cái quyền quyết định cho cuộc đời mình, bằng chính khả năng xây dựng một đời sống an lành bên người thân, bằng một sự hiện hữu có nhân cách.
Có ước mong, thì mới có suy nghĩ, hành động. Mong rằng trong thiên niên kỷ mới, những bước chân tảo tần của người phụ nữ Việt đi vào thế giới sẽ mang theo một nhịp điệu hân hoan giữa những tang điền dâu bể. Tôi đã thổ lộ tâm tình này trong bài thơ “gánh trên vai Mẹ” trong tuyển tập thơ đa ngữ nếu Mẹ thích (CSU Fullerton, 2002), và đây vẫn là niềm thao thức của tôi trong thiên niên kỷ thứ ba này:
…cả đời Mẹ gánh nặng vai
gánh cho đất nước, gánh này cho con
gánh tào khê mãi sắt son
gánh nào cho Mẹ? lòng con ngậm ngùi
con mong gánh Mẹ được vui
nụ cười Mẹ nở ngọt bùi đời con.
Trangđài Glassey-Trầnguyễn
Little Saigon, cuối năm 2009
Nguồn: Tác giả gửi



















