Công giáo và Cộng sản

Posted: 12/10/2011 in Bình Luận, Sơn Nghị

Sơn Nghị

Cốt lõi của đạo Công giáo tựu chung chỉ hai điểm: mến Chúa và yêu người. Mến Chúa thì ai cũng biết rồi, nghĩa là yêu Chúa hết lòng, hết trí khôn, hết linh hồn. Đến việc yêu người thì mới thấy khó. Trong khi Đức Khổng Tử dạy: điều gì không muốn người khác làm cho mình thì đừng làm điều đó với họ (kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân) thì Đức Giêsu lại dạy rằng: Anh em muốn người ta làm gì cho mình, thì cũng hãy làm cho người ta như vậy, (Lc. 6:31). Lời dạy của Đức Giêsu tích cực hơn và cũng rất khó thực hiện vì đã hơn hai nghìn năm nay, hỏi mấy ai đã thực hiện được như lời Người dạy. Con người vẫn luôn mưu cầu hạnh phúc cho chính mình nhưng lại thường gây đau khổ cho kẻ khác. Lối hành xử này gần như trái ngược với nhận định nhân chi sơ, tính bản thiện của Đức Khổng.

Yêu người còn bao hàm sự tha thứ. Đức Phật dạy: oán thù nên cởi, không nên buộc. Biết “cởi” nghĩa là biết tha thứ. Và có thật sự yêu người thì tha thứ mới dễ dàng. Nhiều kẻ tuy tha lỗi nhưng vẫn khó quên lỗi của người. Khi không quên được lỗi của người khác chứng tỏ mình vẫn chưa thực sự yêu người. Thật sự quên cho được lỗi người khác khó lắm. Con người sinh ra với “thất tình, lục dục” và cố tu luyện cho được đến mức độ biết tha thứ cho đời, cho người đòi hỏi thật nhiều gắng sức. Tục ngữ Mỹ có câu, forgive and forget. Nếu tha thứ mà không quên lỗi thì sự tha thứ chỉ mới được một nửa. Ôi! Yêu người và tha thứ thật là hai nhân đức tuyệt vời của đạo Công giáo.

Yêu người được thể hiện qua lòng bác ái. Nói đến lòng bác ái là nói đến lòng yêu tha nhân, yêu đồng loại, yêu nhân loại. Tựu chung cũng một chữ YÊU. Và đúng như thế, đạo Công giáo là đạo TÌNH YÊU. Đạo chỉ dạy con người ta một điều duy nhất: YÊU THƯƠNG NHAU. Đây là điều răn của Thầy: anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em, (Ga. 15:12).

Và chính vì luật yêu người của Chúa nên đẻ ra một vấn nạn. Đó là, tại sao Chúa dạy yêu người mà lại đi thù ghét cộng sản? vì họ cũng là người như chúng ta. Thế thì lòng bác ái ở đâu?

CÓ NÊN YÊU NHỮNG NGƯỜI CỘNG SẢN KHÔNG?

Phải gọi là vấn nạn vì nó là vấn đề khúc mắc nhất của những người Kitô giáo. Giữa hai con đường, một là đấu tranh chống chủ nghĩa cộng sản, hai là yêu và tha thứ cho những người cộng sản theo đúng lời Chúa dạy, con đường nào đúng với tinh thần Kitô giáo? Thường những người luống tuổi, tuân theo luật Chúa một cách triệt để, đều dứt khoát với tâm tư rằng phải yêu thương và tha thứ cho những người cộng sản. Còn lại một số khác lại cho rằng phải đấu tranh chống lại một chủ nghĩa đã đem lại biết bao tang tóc cho nhân loại.

Thật ra, cả hai đều đúng. Yêu thương những người cộng sản không bao giờ đi trái luật của Chúa, mà ngược lại đây là một điều buộc trong luật mến Chúa yêu người. Thật không có gì cao quý hơn khi người Kitô hữu luôn cầu nguyện và tha thứ cho những kẻ làm hại đến mình, đến gia đình mình. Xét cho cùng, những người cộng sản thật sự đáng thương hơn đáng trách. Lấy một ví dụ, anh công an Nguyễn minh Tân, kẻ dùng hai bàn tay lực lưỡng bịt miệng cha Lý – một linh mục 60 tuổi đời – trong một phiên tòa ô nhục chưa từng thấy trong lịch sử nhân loại. Anh là một người cộng sản điển hình lạc lõng rơi rớt lại ở thế kỷ 21. Cả một guồng máy thống trị khổng lồ bao trùm lấy thân phận anh từ lúc lọt lòng. Cả tâm tư lẫn thể xác của anh đã bị nhuộm đỏ từ thuở nằm nôi. Nếu chúng ta không di cư vào Nam năm 1954, hoặc nếu chúng ta không vượt biển tỵ nạn tại các nước tân tiến sau năm 1975, thì bây giờ có thể con cháu chúng ta cũng hành xử như vậy. Cả một thế hệ sinh ra bị nhồi sọ về mọi phương diện, tri thức hạn chế, kiến thức hạn hẹp, tâm thức mù lòa thì những hành động dã man xảy ra trên toàn cõi nước VN là điều dễ hiểu. Anh công an Tân cũng chỉ là một trong những đảng viên hết lòng vì chủ nghĩa, vì những gì đã được nhồi nhét vào óc và với một sự hiểu biết giới hạn, anh tin anh đã làm một việc có ích cho đất nước. Chưa kể đến chuyện vì miếng cơm manh áo mà anh phải hành động. Nếu anh còn chút lương tâm, anh sẽ ray rứt nhưng cũng đành phải nhắm mắt làm theo lệnh đảng chỉ vì nồi cơm nuôi vợ nuôi con. Suy nghĩ cho cùng, những công cụ trong guồng máy cai trị khắc nghiệt cộng sản đáng được yêu thương và tha thứ.

Tôi tin chắc cha Lý đã tha thứ cho anh Tân, cho tất cả những ai đại diện cho cái-gọi-là tòa án nhân dân. Với cương vị của một linh mục, ngài phải hiểu rõ hơn ai hết lời răn dạy của Đức Giêsu: Khi anh em đứng cầu nguyện, nếu anh em có chuyện bất bình với ai, thì hãy tha thứ cho họ, để Cha của anh em là Đấng ngự trên trời, cũng tha lỗi cho anh em. Nhưng nếu anh em không tha thứ, thì Cha của anh em là Đấng ngự trên trời, cũng sẽ không tha lỗi cho anh em, (Mc. 11:25-26). Nếu mỗi người trong chúng ta đều có lỗi với Thiên Chúa thì chúng ta phải biết tha thứ cho tha nhân để chúng ta sẽ được tha. Sự tha thứ phát xuất từ lòng yêu thương thật sự. Nhân đức này tuy khó, nhưng nếu thực hiện được sẽ mang đến một kết quả tuyệt vời. Gương nhân lành của Đức Hồng Y Phanxicô-Xaviê Thuận còn ngời sáng khi ngài bị giam lỏng tại Giang xá, một giáo xứ ở ngoại thành Hà nội. Tại phòng giam của ngài lúc nào cũng có một anh công an canh gác. Ngài có lần tâm sự với anh rằng ngài không bao giờ thù ghét anh hoặc cấp trên của anh nhưng trái lại ngài luôn cầu nguyện cho anh. Anh công an này biết rõ ngài đã bị hành hạ về tinh thần thể xác trong suốt nhiều năm như thế nào, nên khi nghe ngài tâm sự anh rất đỗi ngạc nhiên. Anh thật sự không hiểu cái đạo gì mà kỳ cục, lại khuyên tín đồ phải yêu thương và tha thứ cho những kẻ làm hại mình. Thời gian trôi qua với tấm lòng bao dung của Đức cha Thuận và kết quả là ngài đã cảm hóa được anh công an. Chính ngài rửa tội cho anh và anh đã trở nên một tín hữu Công giáo.

Người tín hữu Kitô phải nêu gương sáng trong việc thực thi lời Chúa qua việc biết tha thứ cho tha nhân, đặc biệt tha cho những kẻ thường xuyên chà đạp nhân phẩm, khinh rẻ nhân vị, và sỉ nhục danh dự con người. Đức Giêsu xưa kia bị treo trần truồng trên thập giá, trước khi trút hơi thở, Người vẫn một lòng tha thứ cho những kẻ hành hạ mình. Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm, (Lc. 23:34).

Vậy, việc yêu thương và cầu nguyện cho những người cộng sản là việc phải làm, nếu không nói đó là bổn phận của những Kitô hữu.

CÓ NÊN CHỐNG CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN KHÔNG?

Nếu luật TÌNH YÊU của đạo Công giáo cổ võ một lòng yêu thương không giới hạn (xem Mt. 18:21-22) thì liệu việc chống lại chủ nghĩa cộng sản có đi ngược lại với giáo huấn của Chúa hay không? Xin trả lời ngay rằng KHÔNG.

Sở dĩ nói không là vì hai chuyện này khác nhau. Hoàn toàn khác nhau. Khi yêu thương, tha thứ và cầu nguyện cho những người cộng sản không có nghĩa là người Kitô hữu dung túng cho sự tàn ác do chủ nghĩa mang lại. Chủ nghĩa cộng sản, theo Stéphane Courtois, đồng tác giả trong cuốn Le Livre noir du communism: Crimes, terreur, répression (Hắc Thư của chủ nghĩa cộng sản: Tội ác, khủng bố, trấn áp) cho biết những kẻ lãnh tụ cộng sản đã ra tay giết chết khoảng 94 triệu người trên thế giới kể từ ngày cách mạng tháng Mười (1917) tại Nga thành công. Dựa theo tài liệu của thư khố KGB (cơ quan mật vụ Nga), ông phỏng đoán Nga sô đã giết chết 20 triệu người; Trung hoa: 65 triệu; Bắc hàn: 2 triệu; Căm bốt: 2 triệu, các nước cộng sản Đông Âu: 1 triệu; Việt nam: 1 triệu; Châu Mỹ Latinh: 150 nghìn; Phi châu: 1.7 triệu; A phú hãn: 10 nghìn. Từng ấy mạng người chết vì bị bắt bớ, đàn áp, giam cầm, tù đày, khủng bố, và thủ tiêu; nghĩa là họ dùng bất cứ hình thức nào để tàn sát những người đối kháng. Lênin đã từng khẳng định cách mạng phải cần bạo lực. Họ xem bạo lực như một phương tiện duy nhất để đạt được mục tiêu. Họ nhẫn tâm gạt bỏ tất cả mọi giá trị căn bản của con người để tiến đến giấc mơ (hão huyền) đại đồng.

Nói đến bạo lực là nói đến đổ máu, chết chóc. Do đó, mạng người – theo lý thuyết chủ nghĩa cộng sản –  không là gì. Nếu cần, họ sẵn sàng hy sinh tính mạng của người dân hầu đạt được mục đích cho chủ nghĩa, cho dù nhất thời. Khẩu hiệu: tất cả cho chủ nghĩa Mác-Lê bách chiến bách thắng đã giải thích phần nào tính chất bạo lực trong đường lối cai trị của người cộng sản. Theo bác sĩ Li Zhisui – bác sĩ riêng của Mao – trong cuốn, “The Private Life of Chairman Mao” thuật lại rằng vào năm 1954, có một lần hội kiến với thủ tướng Ấn Nehru, Mao ngạo nghễ nói rằng bom nguyên tử chẳng có gì mà sợ hãi. Thủ tướng Nehru rùng mình khi Mao xác nhận, 10 hoặc 20 triệu người Tàu chết là cùng. Lần sang Nga năm 1957, Mao thẳng thừng tuyên bố với Khrushchev rằng Mao sẵn sàng hy sinh một nửa dân số Tàu để đạt mục tiêu cho chủ nghĩa. Mao nói thêm, dân Tàu còn đông lắm, 300 triệu dân chết cũng chẳng sao. (Sđd, trang 125).

Thật sự con số nạn nhân Courtois đưa ra quá khiêm nhường so với khảo cứu của nhiều học giả Tây phương. Theo họ, số người bị giết chết trong thời kỳ Stalin (1922-1953) có thể lên đến 51 triệu, nhiều nhất tại các Gulags (trại tập trung) và sa mạc Siberia; còn số nạn nhân trong suốt 27 năm (1949-1976) cai trị của Mao có thể lên đến 75 triệu, nhiều nhất qua hai cuộc cách mạng kỹ nghệ (Great Leap Forward, 1958-1962) và cuộc cách mạng văn hóa (Cultural Revolution, 1966-1969). Thật là một con số khổng lồ, không thể tưởng tượng được. Courtois kết luận rằng chủ nghĩa cộng sản thảm sát con người nhiều hơn bất cứ chủ nghĩa nào đã từng hiện hữu trong lịch sử nhân loại, kể cả Phát-xít.

Nói đến sát nhân là nói đến tội ác, nói đến tội lỗi. Không ai có quyền hủy diệt bất cứ một mạng người nào trừ Thượng đế, người tạo ra sinh linh muôn vật, cho dù đó là tội nhân. Tội nhân đáng được tha thứ vì bất cứ thánh nhân nào cũng có một quá khứ và bất cứ tội nhân nào cũng có một tương lai. Lòng khoan dung đối với tội nhân được thể hiện trong suốt ba năm giảng dạy của Đức Kitô. Nào là người đàn bà ngoại tình được tha (xem Ga. 8:4-11), tên trộm cướp thống hối (xem Lc. 23:39-43), đứa con hoang đàng trở về (xem Lc. 15:1-32)..v.v.. tất cả đều được hưởng lòng thương xót của Thiên Chúa. Đức Giêsu rất khoan dung với tội nhân nhưng Người không bao giờ khoan nhượng với tội lỗi. Thiên Chúa như ánh sáng và tội lỗi như bóng tối. Hai phạm trù này khắc tinh với nhau như nước với lửa. Nơi ánh sáng ngự trị sẽ không bao giờ có bóng tối và ngược lại. Tuy vậy, những người phạm tội, những kẻ gây ra tội ác hiển nhiên thuộc quyền xét đoán của Thiên Chúa, tuyệt nhiên không bao giờ thuộc quyền xét đoán của bất cứ Kitô hữu nào. Anh em đừng xét đoán, để khỏi bị Thiên Chúa xét đoán, (Mt. 7:1).

Nếu người Kitô hữu không có quyền xét đoán hoặc kết án những người cộng sản thế thì họ chống cái gì? Thưa, họ chống BẤT CÔNG; họ bảo vệ CÔNG LÝ, họ chết cho SỰ THẬT. Cha Tađêô đang làm cái công việc đầy gian nan đó. Ngài chống lại bất công. Ngài bảo vệ công lý, và ngài sẵn sàng chết cho sự thật. Đức Giêsu luôn tôn trọng sự thật. Người dặn dò các môn đệ hãy làm chứng cho sự thật, cho dù bằng cái chết của mình, chỉ vì Người là Sự Thật, “Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian để làm chứng cho sự thật.” (Ga. 18:36). “Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống.” (Ga. 14:5). “Các ông sẽ biết sự thật, và sự thật sẽ giải phóng các ông.” (Ga. 8:32). Thật vậy, chính sự thật sẽ giải thoát người Kitô hữu qua khỏi áp bức, tù đày và đau khổ ở trần gian này.

Linh mục Chân Tín, trước 75, ngài lần lượt làm chủ bút các tờ báo “Đối Diện”, “Đứng Dậy”, và “Đồng Dao”, chuyên vạch trần các tệ nạn trong xã hội, cụ thể là chống tham nhũng của chính quyền Nguyễn văn Thiệu. Lúc đó, tôi không đồng ý với ngài khi dùng các tờ báo đối lập để chống lại chính quyền đương thời, mặc dù trong thâm tâm tôi biết điều ngài chống đối là đúng. Trong lúc chính quyền đang bị các lực lượng vây hãm bên ngoài, bên trong lại bị chính người dân chống đối thì làm sao chính quyền đó có thể sống còn. Ngày đau thương 30/4/1975 xảy ra chỉ là vấn đề thời gian. Nếu không xảy ra vào tháng 4 năm 75 thì nó cũng sẽ xảy ra trong một tháng nào đó sau này. Sau 75, cha Chân Tín ở lại. Ngài vẫn đối lập với chính quyền đương thời, đòi hỏi tự do tôn giáo theo đúng hiến pháp của nhà nước cộng sản, chống tệ nạn tham nhũng lan tràn trong khắp thượng và hạ tầng cơ sở và cũng sẵn sàng chấp nhận những hiểm nguy xảy đến cho bản thân. Tôi chợt hiểu ra, ngài không hề có tư tưởng chống chính quyền nhưng chỉ chống bất công, chống lại sự tàn ác áp đặt lên người dân. Cái cốt lõi của sự chống đối là bất công chứ không phải chính quyền. Chỉ vì chính quyền tạo ra bất công nên ngài mới chống mà thôi. Đối với các mục tử, ý thức hệ có lẽ không quan trọng lắm, cần nhất là chính quyền đó mang lại tự do, hạnh phúc cho người dân. Nếu không, nhiệm vụ của các ngài là đứng về phía người nghèo, những kẻ thế cô để chống lại sự áp bức. Các thầy Quảng Độ, thầy Tuệ Sỹ, các tu sĩ của các giáo phái khác cũng đang xả thân chống tệ đoan, chống bất công, dành cho được công lý cho đồng bào, cho tín ngưỡng. Họ đang làm công việc cứu người, cứu đời, và cứu đạo. “Dù xây chín bậc phù đồ, không bằng làm phúc cứu cho một người.”

Đây không phải là cứu cho một người nhưng là cứu hơn 80 triệu đồng bào đang oằn oại dưới ách chủ nghĩa vô thần, một chủ nghĩa đã gây kinh hoàng cho nhân loại trong suốt thế kỷ 20 và vẫn còn trơ trẽn sót lại ở thế kỷ 21. Như thế, người tín hữu Công giáo không bao giờ chống một cá nhân cộng sản nào, họ chỉ chống bất công, đòi hỏi cho bằng được công bằng xã hội. Chỉ vì một tình cờ của lịch sử dân tộc khi đảng cộng sản đang nắm vận mệnh nước nhà trong tay và họ đang áp đặt một thứ quyền hành quái đản lên đầu người dân nên mọi tín hữu Công giáo đều phải chống đối, thế thôi. Cho dù chủ nghĩa quân phiệt, chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa phát xít hay bất cứ chủ nghĩa nào, nếu không đem lại lợi ích cho người dân, sẽ gặp phải sự chống đối của quần chúng. Không những tín hữu Kitô giáo mà tín hữu của các tôn giáo khác đều một lòng chống áp bức, chống bất công, với hoài vọng mang lại cho xã hội một bộ mặt mới. Bộ mặt nhân quyền với tấm lòng nhân đạo, và nụ cười nhân bản.

Người Kitô hữu cần xác định rõ trách nhiệm của mình trong giai đoạn hiện tại. Đừng bao giờ nói tín hữu Công giáo chống chế độ; họ chỉ chống bất công. Cụ thể hơn, chỉ vì chủ nghĩa cộng sản đang đại diện cho một chế độ đầy bất công, nên họ phải dứt khoát đối diện với chủ nghĩa cộng sản mà thôi.

Sơn Nghị
Nguồn: Tác giả gửi

Đã đóng bình luận.