“Con đường di tích”

Posted: 01/12/2011 in Phù Sa Lộc, Tùy Bút / Tản Văn / Ký Sự

Phù Sa Lộc


Lăng Nguyễn Đình Chiểu

Trời hửng sáng, chúng tôi rời trung tâm thành phố Bến Tre, theo con đường Nguyễn Đình Chiểu bon bon trên Tỉnh lộ 885 đi về phía cuối biển tỉnh Bến Tre. Qua cầu Chẹt Sậy, “chạm mặt” những giàn phơi bánh tráng dầy đặc hai bên đường. Đó là “lãnh địa” bánh tráng Mỹ Lồng. Con dâu bà Nguyễn Thị Mẫu Đơn đang đập dừa khô cho nước dừa vô thau rồi cạy cơm dừa để trong cái thau khác. Cô cho biết cơm dừa nạo lấy nước cốt hòa bột tráng bánh, nước dừa bán người ta nấu thạch dừa. Cô nói mẹ chồng cô đang tráng bánh phía sau bếp, mời chúng tôi vô coi.

Bà Đơn năm nay 60 tuổi, người mập mạp khỏe mạnh đang ngồi bên chiếc bếp nóng hừng hực lửa, luôn tay vừa giở nắp vung vừa gỡ bánh chín dán lên liếp, cầm gáo bột tráng lên mặt vải trắng căng thẳng vừa đậy nắp vung lại. Bà làm tất cả các động tác này hết sức thuần thục, gọn gàng và mau lẹ, đủ thời gian cho 1 chiếc bánh ra lò. Mỉm cười chào chúng tôi, bà gỡ mấy cái bánh vừa mới tráng tỏa hơi nóng nghi ngút cuốn thành hình chữ nhựt đặt lên dĩa mời chúng tôi “dùng thử cho biết”. Bánh tráng nước cốt dừa dịu mềm béo ngọt thơm mùi mè, khoái khẩu. Bà Đơn cho biết ở ấp Nghĩa Huấn này (xã Mỹ Lồng, huyện Giồng Trôm, Bến Tre) có khoảng 50 gia đình làm nghề. Mùa Tết tăng lên cả trăm nhà. Gạo làm bánh bà mua của thương lái từ Trà Vinh đem qua. Phải là gạo sỏi (hột tròn, lúa mùa; xưa kia là gạo Nàng Keo, Bảy Đảnh) của Trà Vinh mới làm được chiếc bánh ngon. Ngày thường, bà dậy từ 3 giờ khuya làm tới 10 giờ. Dịp Tết bà thức sớm hơn 1 tiếng. Một ngày thường, bà Đơn tráng được 500 bánh, mùa Tết bà tráng tới 1.000 bánh/ngày. Có hai loại bánh: bánh thường chỉ có nước cốt dừa, bánh đặc biệt theo yêu cầu ngoài nước cốt dừa còn có sữa đặc có đường, lòng đỏ hột gà, mè. Bánh tráng xong dán lên liếp, chồng bà đem liếp ra sân phơi trên những cái giàn thấp ngang gối. Bánh phơi chừng 5 tiếng đồng hồ thì đem vô chồng lên để im; tối đem phơi sương, bánh mềm tay thì gỡ (không bị bể, tránh hao hụt) rồi cột thành xấp (20 hoặc 50 bánh). Giá 200.000 đồng, 300.000 đồng, 400.000 đồng/trăm bánh, tùy loại mỏng, dầy, thường hoặc ngon. Bánh dùng nướng. Công việc tráng bánh nối nghiệp nhà chồng giúp bà nuôi 4 người con trưởng thành, có công ăn việc làm, nên bề gia thất. Hỏi bà có người con nào theo cái nghề nổi tiếng của đất Mỹ Lồng này không, bà cười lắc đầu: “Cực quá, hổng đứa nào thèm. Tui già rồi ráng làm vì quen nghề, chớ ngồi hơ nóng như vầy tổn thọ lắm, dù có quạt máy phía sau lưng”.

Cách không xa làng bánh tráng Mỹ Lồng là chợ Mỹ Lồng nổi tiếng với hai món điểm tâm: cháo lòng và hủ tiếu. Chính vì vậy mà chúng tôi cố gắng đi sớm để được thưởng thức một trong hai món ngon này. Hủ tiếu Mỹ Lồng nổi tiếng nhứt là tiệm Cảnh Phụng. Ông Cảnh và vợ là bà Phụng giờ đã 80 tuổi không còn bán nữa. Bù lại dọc hai bên đường, hai bên nhà lồng chợ có nhiều quán trương bảng bán hai loại điểm tâm này, chúng tôi bước đại vô một quán. Dù không được “chánh gốc Cảnh Phụng” nhưng món ngon Mỹ Lồng quả thiệt “danh bất hư truyền”. Chỉ dòm tô hủ tiếu (hoặc tô cháo) là đã “no mắt” với nào là bao tử, gan, thịt heo luộc, miếng nào miếng nấy xắt dầy cộm, cắn ngập răng, ngọt lịm. Lại còn miếng chả tép chiên vàng, giòn rụm khi cắn và nhai, sợi hủ tiếu mềm, ngọt béo vì thấm đẫm tinh chất lòng heo, đê mê khẩu vị. Húp một muỗng nước lèo, ngọt ngon y như vậy, lại còn hưởng mùi thơm của củ hành tím và tỏi nướng.

Xưa kia có câu hò đố của nữ đất Bến Tre: “Hò ơ… ơ… Nghe anh đi đó đi đây, em thử đố câu này: Bánh phồng, bánh tráng đất này, đâu ngon… ơ… ơ…”. Anh trai mau miệng đáp: “Hò… ơ… ơ… Nghe em đố tức anh nói phứt cho rồi. Bánh tráng Mỹ Lồng, bánh phồng Sơn Đốc, măng cụt Hàm Luông vỏ ngoài nâu trong trắng tựa bông gòn. Anh đà đáp đặng sao em còn so đo… ơ… ơ…”. “Bánh tráng Mỹ Lồng, bánh phồng Sơn Đốc” là câu nói đầu môi chẳng riêng gì của người Bến Tre. Sơn Đốc cách Mỹ Lồng chừng chục cây số. Tới ngã ba Sơn Đốc, cũng như gần tới Mỹ Lồng, thấy hai bên đường đầy những giàn phơi bánh cùng hàng quán treo bánh bán dọc hai bên đường. Hai làng nghề này có mặt ở đất này từ hàng trăm năm nay.

Làng bánh phồng Sơn Đốc thuộc ấp 2, xã Hưng Nhượng (Sơn Đốc xưa), Giồng Trôm, có cả trăm lò làm bánh phồng. Anh Nguyễn Ngọc Thảo, 31 tuổi, nối nghiệp nhà vợ làm nghề này. Anh cho biết bánh làm bằng nếp sáp (lúa mùa) ngâm nước máy (ngâm nước mưa bánh bị chai) từ tối hôm trước. Một giờ khuya anh thức dậy gút sạch nếp, nấu xôi rồi đem tới lò quết máy. Cứ 10 lít xôi, người quết ăn 12.000 đồng. Người ta vừa quết xôi vừa từ từ vô nước cốt dừa. Bánh phồng có khá nhiều loại, thường thì trộn dừa và hành, chính vì vậy mà khi bước vô sân phơi nhà anh Thảo chúng tôi nghe phất mùi hành lá thơm quyến rũ. Bánh mặn làm với tôm, tép. Bánh ngọt trộn đậu xanh, mít… Bột quết xong đem về, anh Thảo ngoài tự tay làm còn mướn thêm thợ cán, cứ 10 lít nếp (1 thau) ăn công 30.000 đồng. Người ta ngắt từng cục bột, cân đúng liều lượng rồi cán bằng tay. Điêu luyện hàng nhiều chục năm nên thợ cán cái bánh nào cũng dầy và tròn y như nhau dù không có khuôn. Đặc biệt ở Sơn Đốc có 1 gia đình cán bánh bằng máy. Ngày thường, anh Thảo làm 30 lít nếp, cho ra 600 bánh. Ngày Tết anh làm trên 100 lít nếp. Giá 180.000 đồng/trăm bánh. Bánh phồng Sơn Đốc loại nào cũng ngon, nướng than là số một, còn nướng lò vi ba, lò bánh mì ăn kém hơn một chút nhưng vẫn thơm lừng, ăn vừa giòn vừa béo vừa ngọt vừa bùi vừa xốp,… Cũng như bánh tráng Mỹ Lồng, bánh phồng Sơn Đốc được vô bọc từng chục hoặc từng trăm, chẳng có nhãn hiệu. Vậy mà bánh đâu chỉ bán “lòng vòng” các tỉnh lân cận, còn “xuất” ra nước ngoài.

Bên cạnh “di tích ẩm thực”, Tỉnh lộ 885 còn có khá nhiều di tích lịch sử. Đến ngã năm Tượng Đài (Ba Tri), rẽ phải trên con đường mới mở rộng bụi bay mù mịt chừng 1 cây số là tới Lăng Nguyễn Đình Chiểu (xã An Đức, Ba Tri). Cổng lăng to lớn. Uy nghi và đồ sộ hơn là đền thờ nhà thơ yếu nước xứ Ba Tri – thi hào Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888). An Đức là nơi dừng chân cuối đời của gia đình cụ Nguyễn Đình Chiểu, lá cờ đầu của phong trào nghĩa binh kháng Pháp. Khi Pháp chiếm Cần Giuộc, Nguyễn Đình Chiểu “tị địa” về đây vì “đất vua còn không giữ được thì đất tôi nào có sá gì”. Tác phẩm nổi tiếng của cụ, gồm: “Ngư tiều vấn đáp”, các bài văn tế trong đó có “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc”, nhưng nổi tiếng hơn hết là truyện thơ “Lục Vân Tiên”. Chính vì vậy mà khi đứng lẫn trong dòng khá nhiều người viếng lăng cụ, chúng tôi nghe được câu chuyện: Ngồi bên ngoài hàng ba đền thờ, một bà cụ có vẻ quê mùa hỏi một bà cụ cũng không phải dân thị thành: “Ông này mần giống gì mà được xây lăng dữ thần vầy?”. Bà kia vừa quệt cổi trầu quanh mép vừa nói nhẹ như không: “Ổng có mần gì đâu, chỉ mần thơ thôi hà”. Người dân quê chỉ biết cụ Nguyễn Đình Chiểu như vậy là đáng quý lắm. Còn nhân dân ta, đại đa số đều rất ngưỡng mộ cụ, vì cụ là biểu tượng hào khí đất Đồng Nai, một nhà Nho tiết tháo kiên cường, một nhà giáo mẫu mực, một lương y giàu lòng nhân ái, một người con trung hiếu của Tổ quốc Việt Nam, một “vì sao càng nhìn càng sáng”. Cụ còn nổi tiếng khi khẳng định tấm lòng son của mình với tổ tiên, đất nước với hai câu “thơ thề”:

“Thà đui mà giữ đạo nhà
Còn hơn sáng mắt ông cha không thờ”.

Tại Lăng Nguyễn Đình Chiểu, lễ kỷ niệm ngày sinh cụ diễn ra rất trọng thể từ ngày 1 đến ngày 3-7 hằng năm.

“Đi xa thị trấn Ba Tri về làng Bảo Thạnh, nay cũng là xã Bảo Thạnh (1), một khu mộ khác cũng được Nhà nước công nhận là Di tích lịch sử – văn hóa, khu mộ nhà giáo Võ Trường Toản, một nhà giáo nổi tiếng thanh bần, khẳng khái, người đã góp công đào tạo nhiều bậc hiền tài cho đất nước trong thời buổi chữ Quốc ngữ còn ít người theo học. Nổi bật là nhóm “Gia Định tam thi”: Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tịnh, Lê Quang Định. Thơ Võ Trường Toản còn lưu truyền một bài “Hoài cổ phú” với hai câu đủ nói lên sự “tri thiên mệnh” của cụ: “Rỡ rỡ cúc ba thu, ba thu lụn cúc đà tàn héo; Hây hây sen chín hạ, chín hạ qua sen cũng rã rơi”. Và cũng ít ai hiểu, vì sao Võ Trường Toản tuy vốn là người Nam Bộ, không phải dân Bến Tre, nhưng cuối đời cũng đến nằm ở vùng đất này. Đến thăm mộ và nhà thờ người thầy giáo nổi tiếng của đất Gia Định, người ta mới hiểu ra thêm một điều về một con người khác: một trong những người có công đưa ông về nằm ở vùng đất này, không ai khác hơn lại là Phan Thanh Giản. Sở dĩ Phan Thanh Giản muốn đưa ông về khu mộ của tổ tiên mình ở làng Bảo Thạnh này, vì Phan Thanh Giản không muốn để một người thầy chính trực như Võ Trường Toản lại có thể yên nằm trên đất mà giặc đang chiếm đóng” (2).

Khu di tích Võ Trường Toản được học sinh Trường Võ Trường Toản TP.HCM tôn tạo, dù rất “khiêm tốn|” so với Lăng Nguyễn Đình Chiểu, nhưng thể hiện được bản sắc địa vị một vị “tôn sư” khả kính. Đến thăm mộ Võ Trường Toản, chúng tôi dứt khoát phải viếng mộ Phan Thanh Giản.

“Minh linh chín chữ lòng son tạc
Trời đất từ nay mặc gió thu”

Khi đến Lăng Nguyễn Đình Chiểu, chúng tôi nhớ hai câu “thơ thề” trên của cụ Đồ trước cái chết của Phan Thanh Giản (1796-1867). Khi giặc Pháp tấn công và chiếm Vĩnh Long rồi xua quân lấy nốt hai tỉnh An Giang và Hà Tiên, Kinh lược sứ Phan Thanh Giản chọn lấy cái chết để “trả ơn vua đền nợ nước”, theo quan niệm của thế hệ trí thức Việt Nam chịu ảnh hưởng luân lý Khổng Mạnh mấy ngàn năm.

Khu mộ Phan Thanh Giản tọa lạc trên khu đất rộng tương đương khu mộ Võ Trường Toản. Khu mộ này cổng khóa, phải kêu mới có hậu duệ của cụ ra mở. Mộ cụ Phan xây theo kiểu “Ngưu phanh, mã phục” (dành cho quan đàng cựu) bằng ô dước nên trông rất uy nghiêm. Mộ nằm thoi loi trong cái nắng trưa chói chang. Nhà thờ cụ Phan cũng không xây dựng nguy nga, mà nhỏ bé, khiêm tốn như con người của cụ. Trong nhà thờ, giữa bàn thờ và bức tường là bức chân dung bằng đồng của cụ. Đứng ngoài nhìn cứ tưởng đó là tượng bán thân, vì bị bàn thờ che khuất nửa thân dưới. Khu mộ Phan Thanh Giản nằm trên mảnh đất heo hút của một vùng quê khó nghèo. Ngày nay còn vậy, huống gì xưa kia. Vậy mà đây là nơi “tìm về sồng mãi” của một vị quan lớn. Mới biết vị quan này trong sạch đến dường nào.

Đêm qua, nằm trong nhà nghỉ, nghe phòng bên nói chuyện mới biết Ba Tri cách thành phố Bến Tre khoảng 30 cây số. Thích thú hơn khi biết từ thị trấn Ba Tri đi thêm khoảng 11 cây số nữa là tới biển – nơi có nhiều hàng quán bán tôm, cua, sò, ốc…, hấp dẫn và vui. Vậy là chúng tôi nôn nả lên đường. Dọc đường thấy chữ Bãi Ngao trên cột cây số, chúng tôi nghĩ có lẽ đó là “cõi Ngao Châu”. Lại nhớ bài “thơ thề” của Nguyễn Đình Chiểu khóc Phan Thanh Giản:

“Non nước tan tành hệ bởi đâu
Dàu dàu mây bạc cõi Ngao Châu”

Bãi Ngao thuộc xã Bảo Thạnh, địa phương này có nhiều ngao (nghêu) nên được gọi như vậy, sách Gia Định thành thông chí gọi là Ngao Châu. Ngày xưa là vậy, còn bây giờ đây chỉ là một mảnh đất ven biển, xe ủi đang vun đất làm đê phòng hộ bên trong cánh rừng bần phòng hộ dày bịt. Hỏi người địa phương biển đâu, ai cũng bảo đằng sau rừng bần. Lại hỏi, lại loanh quanh các con đường xương cá trong cái nắng như xối lửa của một ngày oi bức tìm biển. Lại hỏi nơi có bán các loại hải sản thì người ta chỉ tới cồn Nhàn. Lại loanh quanh trên các con đường nhựa nhỏ lẫn đường đất lỏng chỏng, chẳng biết đường nào để tới cồn Nhàn… Cứ tưởng sẽ có một bữa no nê bụng dạ với ngao sò ốc hến quá đã, ai dè phải ăn cơm bụi dọc đường khi quá bữa, thiệt “ngao… ngán”!

Trở lại ngã năm Tượng Đài, rẽ phải vào một con đường nhựa, theo sự chỉ dẫn của người chủ tiệm tạp hóa. Qua chợ Phú Lễ, theo con đường đất nhỏ chừng hai cây số chúng tôi tới Đình Phú Lễ.

Đình Phú Lễ được xây dựng vào năm Minh Mạng thứ 7 (1826), tọa lạc tại ấp Phú Khương (xã Phú Lễ, Ba Tri) trên cơ sở ngôi đình bằng gỗ lá, được sắc phong vào năm Tự Đức thứ 5 (1851). Ngày 7-1-1993, Bộ VH-TT ban hành Quyết định số 43-VH/QĐ công nhận Đình Phú Lễ là di tích nghệ thuật. Thềm và móng đình được cấu trúc bằng đá xanh, bên trên xây gạch. Đình gồm 6 gian chính nối liền nhau và 3 gian phụ ngang qua tạo hình chữ “Đinh”, bao gồm: nhà võ ca, khu chánh điện, khu hậu đường. Cột đình bằng gỗ lim đường kính 40cm; mái lợp ngói vảy cá. Người địa phương cho biết do chiến tranh và thời gian, các công trình kiến trúc và các hiện vật bài trí bên trong (hương án, cuốn thư, hoành phi, bình phong, bao lam, bộ lễ bộ…) đã bị xuống cấp và hư hỏng nhiều. Tuy nhiên vẫn còn đó những tác phẩm nghệ thuật điêu khắc gỗ sơn son thếp vàng đã làm nên tiếng thơm Đình Phú Lễ là ngôi đình có quy mô lớn và đẹp nhất của các đình làng quê ven biển Bến Tre. Đình nằm trong khuôn viên trên mảnh đất giồng cao ráo có hàng trăm cây cổ thụ mọc chen nhau tỏa bóng mát rượi càng tăng thêm nét thâm nghiêm, trầm mặc… Hằng năm, Đình Phú Lễ tổ chức 2 lễ hội: lễ Kỳ yên trong 2 ngày 18 và 19-3 Âm lịch cầu mưa thuận gió hòa và lễ Cầu bông cũng trong 2 ngày 9 và 10-11 Âm lịch cầu cho mùa màng tươi tốt. Trong lễ có rước sắc Thần, lễ tế Thành hoàng. Đêm có hát bội và đờn ca tài tử.

“Phần lớn các ngôi đình ở Bến Tre ngay từ đầu được dựng lên nhằm thỏa mãn nhu cầu nhớ về nguồn cội và đời sống tâm linh của bộ phận dân cư, nhưng do chưa được phép xây dựng và dân cư thưa thớt, cuộc sống còn khó khăn nên ngôi đình chỉ bằng cây lá tạm bợ. Trong Minh điều hương bộ (1853) quy định chỉ có xã hay thôn mới được lập đình” (3). Đình Phú Tự (xã Phú Hưng, TP Bến Tre) đuợc thành lập theo như vậy, trên một gò đất cao nhất vùng, gọi là Gò Xoài. Ông Nguyễn Văn Thân, năm nay chừng 50 tuổi, cho biết ông mới làm “từ” 7 năm, kế tục công việc thiêng liêng của làng mà cha ông giao lại khi người mãn phần. Từ Thân nói đình tọa lạc trên diện tích gần 10.000m2. Hồi cất bằng gạch, đình được xây theo hình chữ “Tam”, cổng quay về hướng Đông. Đình có đàn Xã tắc. Bên trái là miếu thờ thần Hổ, bên trong tượng thần Hổ được chế tác bằng xi măng, trên phủ tấm da thuộc giả da hổ và bài vị lớn chạm khắc chữ Hán: “Mãnh hổ sơn lâm”, hai bên có hai liễn đối. Bên phải là miếu thờ Bà Thiên Y Ana và Cửu vị tiên nương – những nữ thần mà người ta tin rằng đã phù trợ, độ trì cho họ trên bước đường lưu sinh lập nghiệp. Đình gồm võ ca, chánh điện và hậu điện. Mái lợp ngói âm dương. Cột, kèo bằng gỗ căm xe, gỗ đỏ. Trong đình ngoài các bàn thờ giống như các đình khác còn có thờ những chiếc mão vua, quan đựng trong hộp kiếng; bộ lễ bộ; đặc biệt có một số bút lông của thái giám, mà không ai dám phủi bụi! Từ Thân cho biết đình có sắc thần do ông Hai Bổn, thường gọi “ông sắc”, giữ. Kỳ yên thượng điền và hạ điền tổ chức linh kiệu rước sắc về đình rồi hồi sắc rất long trọng. Trong hai kỳ lễ này, 3 năm 1 lần, lễ lớn, đình rước gánh hát bội từ Ba Tri hoặc từ Tiền Giang đến hát cúng Thần.

Ông kể một chuyện… vui, khoảng 10 năm trước, chánh quyền tỉnh trước khi quyết định công nhận đình là di tích lịch sử – văn hóa tỉnh, đề nghị đình tổ chức mở sắc thần ra xem. Hội hương đình và “ông sắc” bàn bạc hoài mà chẳng ai dám quyết định. Đến ngày giờ hẹn, “ông sắc” cáo bịnh không thể đem sắc thần tới. “Ông sắc” nghĩ xưa nay đâu ai dám mở sắc nếu không xin ý kiến bà con, lỡ có dịch bịnh xảy ra không ai oán trách Hội hương. Mỗi năm phơi sắc 1 lần. Một người giơ lưng đỡ sắc, bốn người đứng giữ bốn góc sắc. Phơi 1 tiếng đồng hồ. Còn bây giờ, sau bao lửa loạn chiến tranh, không phơi sắc, không biết hồi chế độ cũ có ai lấy sắc thần đi rồi để vô đó truyền đơn chống phá cách mạng hay lá cờ ba sọc thì… chết. Lần thứ ba, Hội hương và “ông sắc” không thể thoái từ việc mở sắc cho các cơ quan chức năng giám định. Ông vừa mở vừa run. May quá, có sắc thiệt. Nhờ vậy mà tỉnh Bến Tre quyết định công nhận Đình Phú Tự và cổ thụ Bạch mai là di tích văn hóa cấp tỉnh về kiến trúc nghệ thuật và tín ngưỡng dân gian.

Về cây bạch mai, Từ Thân cho biết khoảng 100 năm trước cây nằm bên hông đình, khi trùng tu quay mặt đình về hướng Đông Nam thì cây nằm giữa sân đình. Theo nhiều người cho biết cây này cao chừng 5-6m, cành lá um tùm với khoảng 50 thân lớn nhỏ, trong đó có 16 thân lớn, đường kính từ 20-30cm, có nhánh phải chống đỡ bằng cột bê tông. Tàn lá bạch mai rộng ước khoảng 250m2. Từ Thân kể theo lời cha ông, khi xưa bạch mai nở bông thơm ngát vào đúng ngày Tết Nguyên đán, người dân đến đình đua nhau hái lộc bán khiến cây xơ xác. Hội hương khăn áo chỉnh tề đốt nhang khấn vái bạch mai trổ bông vào một ngày khác trong tiết Lập xuân để cây tồn tại lâu dài. Từ đó, đúng vào ngày Tết Nguyên tiêu (rằm tháng Giêng), cây rụng hết lá, trổ bông, tỏa hương thơm một vùng, đến giờ. Từ chục năm nay, vào đêm rằm tháng Giêng mỗi năm, tại đây, Hội Văn học Nguyễn Đình Chiểu – Bến Tre đều tổ chức Ngày thơ Việt Nam. Bạch mai Đình Phú Tự ước tính có tuổi chừng 300 năm, khi lưu dân người Việt từ miền ngoài đến đây khẩn hoang, lập ấp, lập làng. Là 1 trong 3 cây bạch mai cổ thụ của Nam Bộ nên bạch mai Đình Phú Tự được tôn xưng là “Cổ thụ mai”, “Thần Mai”, “Danh mộc Bạch mai”. Ngoài bạch mai “khổng lồ”, đình còn có cây khế và cây thị sống khoảng 200 năm.

Chạng vạng, chúng tồi chia tay Từ Thân trở về trung tâm TP Bến Tre cách đó khoảng 3 cây số; chia tay “con đường di tích”, rất buồn vì đã chưa thể đi hết tất cả các di tích trong 1 ngày. Gặp bạn, than Bến Tre là trọng điểm du lịch mà chẳng có bảng hướng dẫn đường đến di tích nào hết khiến vừa đi vừa hỏi rất mệt, rất mất thời giờ và rất bực. Anh cười hề hề, trách: “Ai biểu hổng cần thổ địa vì tự hào đã từng được đi xe con tới các nơi này vài lần!”.

Phù Sa Lộc
Nguồn: Tác giả gửi

1. Huyện Ba Tri. Cách không xa Lăng Nguyễn Đình Chiểu (NV).
2. TS Huỳnh Công Tín.”Cảm nhận bản sắc Nam Bộ”, NXB Văn hóa – Thông tin, 2006.
3. Lư Hội, “Đình làng Bến Tre – Các giá trị văn hóa”, NXB Văn hóa dân tộc, 2006.

Đã đóng bình luận.